1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thương tích là nguyên nhân gây tử vong và thương tật hàng đầu ở trẻ
em trên toàn thế giới, phòng chống thương tích ở trẻ em có liên quan chặt
chẽ đến các vấn đề sức khỏe trẻ em [70]. Giải quyết thương tích ở trẻ em phải
là vấn đề của tất cả các hoạt động để nhằm cải thiện tình hình tử vong, mắc
bệnh ở trẻ em và sức khỏe chung của trẻ [71].
Thương tích tuổi thơ là một vấn đề cộng đồng lớn yêu cầu phải có sự
quan tâm khẩn cấp. Thương tích là mối nguy hiểm đối với trẻ em trên toàn thế
giới, gây tử vong hơn 900.000 trẻ em mỗi năm. Các thương tích không chủ ý
chiếm gần 90%, là những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ em từ
10-16 tuổi [31].
Trên thế giới hàng chục triệu trẻ em phải điều trị tại bệnh viện, nhiều
trẻ để lại những thương tật ảnh hưởng đến trẻ suốt đời. Theo thống kê cho
thấy, trẻ từ 0–16 tuổi có thể bị tử vong hoặc để lại thương tật (DALYs) do tai
nạn giao thông đường bộ và ngã chiếm tỉ lệ cao.
Ở nước ta, trong thời kỳ đổi mới, nhờ có sự phát triển kinh tế xã hội và
hiệu quả của các chương trình y tế quốc gia mà hiện nay mô hình bệnh tật và
tử vong ở trẻ em đã có sự thay đổi đáng kể: Tỉ lệ mắc và tử vong do các bệnh
nhiễm trùng, ký sinh trùng đã giảm rõ rệt. Trong khi đó tỉ lệ mắc và tử vong
do các bệnh không nhiễm trùng lại đang không ngừng gia tăng, trong đó có
chấn thương tai nạn thương tích [15].
Theo thống kê của Cục quản lý môi trường Bộ Y tế, năm 2011 có
1.247.209 trường hợp mắc tai nạn thương tích (TNTT) và 36.869 ca tử vong
do TNTT. Năm 2010, trung bình mỗi ngày có khoảng hơn 100 người chết và
hàng nghìn người bị chấn thương gây tàn tật suốt đời do tai nạn thương tích
gây ra. Tỉ suất tử vong do tai nạn thương tích là 42,69/100.000 người
2
mức độ nghiêm trọng do thương tích gây ra đã được kiểm chứng - nhưng
nhận thức về vấn đề này và khả năng ngăn chặn nó, cũng như cam kết để
thực hiện phòng ngừa thương tích ở trẻ em, vẫn còn ở mức thấp không thể
chấp nhận được. Những gì đã được thực chứng là có hiệu quả trong việc làm
giảm gánh nặng thương tích trẻ em ở một vài nước có thể được điều chỉnh và
thực hiện ở các nước khác, với những kết quả tương tự.
Mỗi ngày trên khắp thế giới cuộc sống của hơn 2000 gia đình phải rơi
lệ vì trẻ tử vong do một thương tích không chủ ý hay còn gọi là ‘tai nạn’ mà
có thể ngăn ngừa được. Sự đau khổ mà các gia đình này phải chịu - những
người mẹ, người cha, người anh, người chị, hay ông bà và bạn bè - là vô hạn
và thường lan tỏa ra khắp cộng đồng. Thảm kịch như vậy có thể làm thay đổi
nhiều cuộc đời một cách không thể khác được.
Thương tích không chủ ý là mối đe dọa lớn nhất tới sự sống còn của
các em. Các thương tích không chủ ý cũng là một nguyên nhân chủ yếu của
các trường hợp tàn tật, mà có thể có ảnh hưởng kéo dài một cách toàn diện tới
cuộc đời non trẻ của các em: những mối quan hệ, việc học tập và vui chơi.
Trong số đó, những trẻ em phải sống trong nghèo đói, gánh nặng của thương
4
tích là cao nhất, vì những em này ít có khả năng hưởng lợi từ các biện pháp
phòng ngừa mà các em khác có thể đã nhận được.
Các thương tích ở trẻ em đã và đang bị lãng quên trong rất nhiều năm
qua, và còn thiếu nhiều trong các sáng kiến hiện thời về sự sống còn của
trẻ trong chương trình nghị sự toàn cầu. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Quỹ
Nhi đồng Liên Hiệp Quốc và nhiều đối tác khác đã quyết định phải đưa vấn
đề thương tích trẻ em thành một ưu tiên cho y tế công cộng toàn cầu và phát
triển các cộng đồng.
Mức độ chín chắn của trẻ em, mối quan tâm và nhu cầu của chúng khác
với người lớn. Vì vậy, việc sao chép đơn thuần các chiến lược phòng chống
gân, phù nề xây xát, gãy xương, gãy răng, vỡ thủng nội tạng, chấn thương sọ
não, bỏng, ngạt/đuối nước, ngộ độc, tự tử, ... mà cần đến sự chăm sóc y tế,
phải nghỉ học/nghỉ làm hoặc bị hạn chế sinh hoạt ít nhất 1 ngày.
Tai nạn thương tích do vô tình là một tai nạn tình cờ xảy ra có thể hoặc
có thể không dẫn đến thương tích, xảy ra trong cộng đồng.
Trẻ em: trẻ em là người dưới 18 tuổi, công ước Liên hiệp quốc về các
quyền của trẻ em [27]. Mặc dù vậy, các khái niệm khác liên quan đến trẻ em
thì dễ thay đổi hơn. “Tuổi thơ” là một kết cấu xã hội, các ranh giới của nó
thay đổi theo thời gian và địa điểm [21], [23] và nó ám chỉ cho sự dễ tổn
thương đối với thương tích. Trẻ em 10 tuổi có thể được bảo vệ không phải
chịu hay làm các công việc trách nhiệm kinh tế gia đình ở nước này, nhưng ở
một nước khác thì những nghĩa vụ này có thể là chỉ tiêu và được coi là có lợi
cho cả trẻ em và gia đình [27], cho nên, tuổi thơ và các giai đoạn phát triển
được đan xen với tuổi, giới tính, gia đình và hoàn cảnh xã hội, trường học,
công việc và văn hóa [27], [36]. Thay vì được đo lường một cách cứng nhắc,
6
trẻ em nên được xem xét qua bối cảnh, văn hóa và năng lực [1]. Do vậy
nghiên cứu tập trung vào các thương tích ở trẻ em dưới 16 tuổi [8] để chỉ rõ
những tai nạn thương tích ở trẻ.
1.2. Sơ lược lịch sử tai nạn thương tích ở trẻ em
Năm 1917, một vụ va chạm giữa con tàu chở đạn dược của Pháp và tàu
của Na uy đã gây nên một vụ nổ lớn tại vùng Halifax, Nova Scotia, một vùng
chật hẹp, đông đúc dân cư, gây nên một thảm họa làm chết 2000 người, bị
thương 9000 người và khoảng 31.000 người bị mất nhà ở. Nước Mỹ và
Canada đã được đề nghị hỗ trợ về y tế. Một đội y tế của bang Boston dưới sự
chỉ huy của bác sĩ William E.Ladd đã chuẩn bị rất nhiều thuốc, phương tiện,
và các y dụng cụ cần thiết để giúp công việc cứu chữa trẻ em bị thương tích
và ông đã dành rất nhiều thời gian, công sức trong việc chăm sóc và chữa trị
thương trẻ em Kiwanis đã được thành lập tại Boston Mỹ [47], [50], [51].
Năm 2005, WHO và UNICEF ra lời kêu gọi một nỗ lực toàn cầu để
phòng chống thương tích ở trẻ em [24]. Năm 2006 lời kêu gọi đó được tiếp
nối bởi kế hoạch hành động 10 năm của WHO về thương tích ở trẻ em [72].
Kế hoạch này liệt kê các mục tiêu, hoạt động và các kết quả mong muốn về
thương tích trẻ em và bao gồm các lĩnh vực số liệu, nghiên cứu, dự phòng,
dịch vụ, xây dựng năng lực và truyền thông, từ đó vấn đề nghiên cứu tai nạn
thương tích ở trẻ em đã được triển khai một cách rộng rãi và toàn diện trên
các lĩnh vực điều trị, tổ chức mạng lưới cấp cứu, vấn đề kiểm soát và phòng
ngừa tai nạn thương tích ở trẻ em.
Trước năm 1997, vấn đề nghiên cứu can thiệp phòng ngừa tai nạn
thương tích trong cộng đồng ít được quan tâm ở nước ta. Năm 1997 chương
trình phòng chống tai nạn thương tích xây dựng cộng đồng an toàn mới bắt
đầu được nghiên cứu và triển khai thí điểm tại Việt Nam. Trong những năm
8
gần đây nước ta mới đưa ra và bắt đầu triển khai chính sách Quốc gia về
phòng chống tai nạn thương tích. Hội nghị Quốc gia lần thứ nhất về triển khai
chính sách Quốc gia về phòng chống tai nạn thương tích được tổ chức tại Hà
Nội ngày 17 và 18/12/2002 [6], [28,[35].
1.3. Tình hình tai nạn thương tích ở trẻ em trong và ngoài nước
1.3.1. Tai nạn thương tích ở các nước phát triển và công nghiệp hoá
Theo UNICEF, tai nạn thương tích là nguyên nhân hàng đầu gây tử
vong cho trẻ em ở tất cả các nước phát triển, ước tính chiếm 40% các trường
hợp tử vong ở lứa tuổi 1 - 14. Ở các nước thuộc OECD, mỗi năm ước tính
khoảng 20.000 trẻ em bị chết do các tai nạn thương tích như TNGT, thương
tích có chủ định, đuối nước, ngã, bỏng, ngộ độc và chấn thương khác; trong
đó TNGT chiếm khoảng 41% tất cả tử vong do tai nạn thương tích gây ra. Cứ
100.000 trẻ em sinh ra ở các nước thuộc OECD có khoảng 200 trẻ em sẽ chết
Japan
7909
36
Austria
608
42
Korea
12624
53
Belgium
781
40
Mexico
29745
30
Norway
294
37
Finland
368
43
Poland
5756
44
France
4701
41
Portugal
1524
40
Switzerland
537
40
Ireland
357
39
UK
3183
29
Italia
2563
28
USA
37265
49
trẻ em từ 10-19 tuổi [5],[33]. Riêng thương tích giao thông đường bộ là
nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong cao trong số trẻ ở độ tuổi 15 -19 và là
nguyên nhân đứng thứ hai trong số trẻ em từ 10-14 tuổi. Ngoài những ca tử
vong, hàng chục triệu trẻ em đòi hỏi phải được chăm sóc tại bệnh viện cho
các thương tích không gây tử vong. Nhiều trẻ em bị để lại với một loại hình
thương tật nào đó, thường là hậu quả suốt đời [31].
Nhìn chung, trên 95% các ca tử vong do thương tích ở trẻ em xảy ra tại
các quốc gia thu nhập thấp và trung bình. Mặc dù tỉ lệ tử vong do thương tích
11
ở trẻ em thấp hơn nhiều trong số trẻ em ở các quốc gia phát triển, nhưng
thương tích vẫn là một nguyên nhân chính dẫn đến tử vong, chiếm khoảng
40% tất cả các ca tử vong ở trẻ em, thương tích là nguyên nhân của 30% số
ca tử vong ở độ tuổi từ 1- 3, con số này lên tới 40% ở trẻ em 4 tuổi và 50% 60% ở độ tuổi 5 -17, thương tích không phải là điều tất yếu xảy ra; chúng có
thể được phòng chống hoặc kiểm soát. Ví dụ ở các quốc gia thuộc Tổ chức
hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) số lượng các ca tử vong do thương tích
ở trẻ em dưới 15 tuổi giảm 50% từ năm 1970 đến 1995. Cho đến gần đây,
người ta ít để ý đến vấn đề thương tích ở các quốc gia thu nhập thấp và trung
bình. Thiếu nhận thức về vấn đề này, cộng với những hoàn cảnh đặc biệt mà
những nước này đối mặt có nghĩa là các biện pháp đã được kiểm chứng chưa
được thực hiện với cùng mức độ như chúng đã được thực hiện ở các quốc gia
thu nhập cao WHO (2004).
Các quốc gia đối phó với nhiều ưu tiên cạnh tranh và các can thiệp cho
thương tích cần được đánh giá đúng mức về tính hiệu quả. Tuy nhiên, cần
phải biết thêm rất nhiều về việc phòng chống thương tích và tử vong ở trẻ em
so với những gì đã được thực hiện ( Kim Phụng- Quảng trị).
1.3.2. Tai nạn thương tích ở các nước đang phát triển
Theo thống kê của UNICEF, ở các nước đang phát triển ước tính mỗi
năm có khoảng 1 triệu trẻ em dưới 16 tuổi chết vì tai nạn thương tích, 98% tất
1994
- Trung Quốc (Thành phố)
48
31
1994
- SriLanka
116
39
1986
- Thái Lan
106
30
1981
50
28
28
1992
- Goatêmala
86
17
1984
- Liên bang Nga
415
102
1994
- Vênêzuêla
99
23
1989
- Mỹ
1. Châu Phi
- Morisơ
2. Đông Nam Á
3. Trung Đông
- Ai Cập
4. Châu Mỹ
5. So sánh với
13
1.3.3. Tình hình tai nạn thương tích ở trẻ em Việt Nam
Ở nước ta, trong thời kỳ đổi mới, nhờ có sự phát triển của kinh tế xã
hội và hiệu quả của các chương trình y tế Quốc gia, hiện nay tỉ lệ mắc và tử
vong do các bệnh nhiễm trùng, ký sinh trùng đã giảm đi rõ rệt, trong khi đó tỉ
lệ mắc và tử vong do các bệnh không nhiễm trùng lại đang không ngừng gia
tăng, trong đó có tai nạn thương tích. Tính chung trong cả nước, mỗi ngày có
khoảng hơn 20 trẻ chết, hơn 70 trẻ tàn phế và hàng trăm trường hợp bị chấn
thương vì tai nạn thương tích [38], [40], [41].
Theo Nguyễn Văn Thưởng và cộng sự, ở nước ta, kể từ khi những
chính sách kinh tế mới, sản xuất phát triển, điều kiện kinh tế xã hội được cải
thiện; đời sống nhân dân khá lên thì số người bị chấn thương và chết vì các tai
nạn trong sinh hoạt, lao động, sản xuất giao thông ngày càng nhiều và đã xếp
vào hàng thứ 3, thứ 4 trong 10 nguyên nhân hàng đầu về bệnh tật và tử vong
tại các bệnh viện [39].
Theo kế hoạch hành động chiến lược nhằm giảm tai nạn thương tích
cho trẻ em Việt Nam tháng 6/2001, trong năm 1999, số trẻ em tử vong liên
quan đến tai nạn giao thông. Các nghiên cứu ở cấp cộng đồng cho thấy tai nạn
9
Ngộ độc
5
3
Ngã
3
2
Điện giật
3
2
Loại khác
15
9
TSTV: Tổng số tử vong chung (là tử vong do tất cả các nguyên nhân).
Theo thống kê của Cục Quản lý môi trường y tế, số liệu ghi nhận được
trong năm 2010 cho thấy toàn quốc có 36.869 trường hợp tử vong do TNTT,
tích ở một số nước như sau :
Tại Trung Quốc điều tra năm 1997 có 31% tàn tật là do chấn thương
gây ra.
Ở Ấn độ điều tra năm 1991: thành thị 28% bị cụt chi, 42% mất chức
năng khớp và 22% bất thường chi là do tai nạn thương tích gây ra, trong khi
đó tỉ lệ tương ứng ở vùng thuần nông là 22%, 42% và 27% [54].
16
Tại Philippines điều tra năm 1991: tỉ lệ tàn tật do tai nạn thương tích
gây ra là: 21/100.000 dân bị liệt, liệt tứ chi là 12/100.0000 dân, liệt một chỉ là
120/100.000 dân [54].
Tại Thái Lan, theo nghiên cứu của Tosutho và Suriyawongpaisal chi
phí do TNGT gây ra năm 1995 cho thấy: ước tính chi phí gián tiếp khoảng 15
tỉ bahts, tương đương 600 triệu USD; nếu tính cả các phí tổn trực tiếp
như phí tổn của dịch vụ y tế và hư hỏng tài sản thì tổng chi phí khoảng 40 tỉ
bahts, tương đương với 1,6 tỉ USD (1995), chiếm khoảng 23 % tổng số ngân
sách chi tiêu của ngành y tế vào khoảng 0,9% GDP [54].
Ở Việt Nam, kể từ khi có chính sách kinh tế mới, mở cửa và hội nhập,
sản xuất phát triển, điều kiện kinh tế xã hội được cải thiện, đời sống nhân dân
khá lên thì số người bị chấn thương và chết vì các tai nạn ngày càng nhiều,
xếp vào hàng thứ 3, thứ 4 trong 10 nguyên nhân hàng đầu về bệnh tật và tử
vong tại các bệnh viện.
Theo Jennifer Oxley, Cuong Pham V, Anne Jamaludin, Mark
Stevenson (8.2011), nghiên cứu đánh giá các can thiệp về phòng chống tai
nạn thương tích trẻ em ở Việt Nam tại 6 tỉnh Hải Phòng, Hải Dương, Quảng
Trị, Huế, Đồng Tháp và Cần Thơ từ năm 2006-2010 cho thấy đa số trẻ em bị
tai nạn thương tích là nam (khoảng 70%). Ngoài ra, trẻ em ở độ tuổi từ 5 đến
14 - 42 % về mọi tai nạn thương tích, sau đó là trẻ ở độ tuổi 15-19, 20% trẻ bị
tai nạn thương tích ở độ tuổi dưới 4 tuổi. Ở các xã được can thiệp ở bốn trong
18
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Trẻ em dưới 16 tuổi.
- Bố mẹ hoặc người chăm sóc trẻ bị TNTT tại các hộ gia đình được
điều tra.
- Trẻ dưới 12 tuổi: phỏng vấn bố, mẹ hoặc người chăm sóc trẻ
- Trẻ trên 12 tuổi: phỏng vấn trực tiếp ( có phiếu phỏng vấn phần phụ
lục)
* Các tiêu chuẩn lựa chọn:
Các tai nạn thương tích gây thương tổn do: tai nạn giao thông, ngã, tai
nạn lao động, va chạm, điện giật dẫn đến bị vết thương chảy máu, bong gân,
phù nề xây xát, gãy xương, gãy răng, vỡ thủng nội tạng, chấn thương sọ não,
bỏng, ngạt/đuối nước, ngộ độc, tự tử, mà cần đến sự chăm sóc y tế, phải nghỉ
học/nghỉ làm hoặc bị hạn chế sinh hoạt ít nhất 1 ngày.
* Tiêu chuẩn loại trừ:
Các tai nạn thương tích do thiên tai, thảm họa như lũ lụt gây vỡ đê,
động đất.
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu:
Thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
2.1.3. Thời gian nghiên cứu.
Từ ngày 01/10/2012 đến ngày 30/10/2013.
19
2.2. Phương pháp nghiên cứu
+ Lập danh sách 8 xã sau đó bốc ngẫu nhiên lấy 2 xã. Hai xã được lựa
chọn là xã Hoàng Tân và xã Tiền An.
- Giai đoạn 3: Chọn đối tượng nghiên cứu là trẻ em dưới 16 tuổi đủ các
tiêu chuẩn nghiên cứu và lập danh sách toàn bộ số trẻ dưới 16 tuổi tại các
xã/phường được chọn nghiên cứu.
SƠ ĐỒ QUÁ TRÌNH CHỌN MẪU
Tỉnh Quảng
Ninh
Chủ động
Quảng Yên
Ngẫu nhiên
1 phường
2 xã
Ngẫu nhiên
Hộ gia đình
2.2.4. Các chỉ số và biến số nghiên cứu
2.2.4.1. Chỉ số
- Tỷ lệ tai nạn thương tích là số trẻ bị tai nạn thương tích trong số trẻ
điều tra.
21
- Tỷ lệ phần trăm các loại thương tích theo địa dư, tuổi, giới, vị trí tổn
- Nguồn cung cấp kiến thức về phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ
em. Kiến thức có thể có được qua những thông tin mà thầy cô, cha mẹ, bạn
bè, sách vở và báo chí cung cấp.
- Thực hành đúng hoặc không đúng. Trong nghiên cứu về thực hành cần
tìm hiểu những thực hành nào có lợi cho sức khỏe cần được phát huy và duy
trì, những thực hành xấu, ảnh hưởng đến sức khỏe cần phải thay đổi.
2.3. Phương pháp thu thập số liệu
2.3.1. Xây dựng bộ công cụ
- Công cụ điều tra định lượng: Bảng câu hỏi phỏng vấn có cấu trúc được
xây dựng, thử nghiệm và điều chỉnh cho phù hợp trước khi tiến hành điều tra.
- Xây dựng bộ công cụ đánh giá: Các câu hỏi được xây dựng dựa vào các
khái niệm, kiến thức đã học về TNTT và có tham khảo các nghiên cứu về
TNTT đã được công bố [42] [45] để xây dựng bộ công cụ điều tra.
- Thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu: Khi bộ câu hỏi phỏng
vấn được xây dựng xong, điều tra thử 10 hộ gia đình có trẻ em, chỉnh sửa nội
dung của bộ câu hỏi cho phù hợp sau đó in thành bộ phục vụ cho tập huấn và
điều tra hộ gia đình (phụ lục).
2.3.2. Thu thập số liệu
Bước 1: Tập huấn thu thập số liệu
- Tổ chức tập huấn cho đối tượng bao gồm: 02 cán bộ giám sát điều tra,
mỗi đoàn điều tra có 1 giám sát viên, 6 điều tra viên, 3 người dẫn đường là y
tế thôn tại địa phương.
23
- Nội dung tập huấn là: Tập huấn kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng
phỏng vấn, điều tra và làm việc với cộng đồng. Sau đó tiến hành thực hành
điều tra 04 hộ gia đình.
- Thời gian, địa điểm: 1/2 ngày, tại Uỷ ban nhân dân phường Hà An thị xã Quảng Yên.
- Tập huấn là nghiên cứu viên.
- Thiết kế bộ câu hỏi điều tra chuẩn.
- Tập huấn kỹ bộ câu hỏi cho nhóm nghiên cứu và điều tra viên
- Giám sát chặt chẽ quá trình điều tra.
- Kiểm tra từng phiếu, làm sạch số liệu trước khi xử lý.
2.5. Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu được, được phân tích và tính toán theo phần mềm
phương pháp thống kê y học EpiInpo 2002.
- Tỉ lệ phần trăm (%) giữa các biến số trong nghiên cứu.
- So sánh hai tỉ lệ phần trăm bằng test khi bình phương. Có sự khác
nhau khi p