1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh sốt xuất huyết Dengue là bệnh nhiễm vi rút Dengue cấp tính do
muỗi truyền. Bệnh xảy ra quanh năm, nhưng thường gia tăng vào các
tháng mùa mưa. Đặc điểm của sốt xuất huyết Dengue là sốt, xuất huyết và
thoát huyết tương, có thể dẫn đến sốc giảm thể tích tuần hoàn và rối loạn
đông máu, nếu không được chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời dễ dẫn đến tử
vong [4], [5].
Trong 50 năm qua, tỷ lệ mắc sốt Dengue/sốt xuất huyết Dengue đã
tăng lên gấp 30 lần và ngày càng mở rộng sang những quốc gia mới trước
đây chưa có dịch. Khoảng 50 triệu ca nhiễm sốt xuất huyết ước tính xảy ra
hàng năm và khoảng 2,5 tỷ người sống ở các nước đang lưu hành bệnh sốt
xuất huyết.
Năm 2002, Tổ chức Y tế thế giới kêu gọi một cam kết lớn hơn cho
bệnh sốt xuất huyết từ các nước thành viên. Năm 2005, Tổ chức Y tế thế
giới đã sửa đổi, bổ sung Điều lệ Y tế quốc tế, trong đó coi sốt Dengue/sốt
xuất huyết Dengue là một trường hợp khẩn cấp của Y tế công cộng quốc tế.
Nó đã tác động đến an ninh y tế do sự lây lan dịch bệnh nhanh chóng vượt
ra ngoài biên giới các quốc gia [30].
Việt Nam là một trong những nước có dịch bệnh lưu hành, từ 1996
đến 2000 số mắc và số tử vong trung bình năm của cả nước là 98.642 và
184 trường hợp. Bệnh gặp nhiều ở miền Nam và vùng Duyên Hải miền
Trung. Tại tỉnh Thừa Thiên Huế trong năm 2010 có dịch lớn xảy ra với 2.729
người mắc sốt xuất huyết, trong đó có 02 trường hợp tử vong [20], [7].
Công tác phòng chống sốt xuất huyết ngoài việc dựa vào lực lượng
nòng cốt của ngành Y tế thì dự phòng dựa vào cộng đồng dân cư là rất
quan trọng. Người dân có hiểu biết và thực hành tốt về phòng chống vectơ
2
gây bệnh sốt xuất huyết sẽ giúp cho công tác kiểm soát vectơ truyền bệnh,
không để dịch bùng phát và lây lan trong cộng đồng. Ngoài ra những kiến
thức về triệu chứng cũng giúp cho việc phát hiện sớm, điều trị kịp thời,
năm gần đây. Bệnh này hiện đã trở thành dịch tại trên 100 quốc gia ở châu
Phi, châu Mỹ, khu vực phía Đông Địa Trung Hải, Đông Nam Á và Tây Thái
Bình Dương. Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương là khu vực chịu ảnh
hưởng nặng nề nhất. Trước năm 1970, chỉ có 9 quốc gia có dịch lưu hành.
Con số này tăng lên gấp hơn 4 lần vào năm 1995. Tổ chức Y tế thế giới
(TCYTTG) ước tính mỗi năm có khoảng 50 đến 100 triệu người mắc bệnh.
Không chỉ có số trường hợp mắc bệnh gia tăng mà khả năng nhiễm nhiều
loại virus khác nhau cũng ngày càng báo động. Sau đây là một vài con số
thống kê khác:
4
Trong vụ dịch, tỉ lệ mắc bệnh ở những đối tượng nhạy cảm thường là
40 - 50% nhưng cũng có thể cao đến 80 - 90%.
Mỗi năm có khoảng 500.000 trường hợp Sốt xuất huyết Dengue
(SXHD) cần nhập viện, phần lớn trong số đó là trẻ em. Tỉ lệ tử vong chung
vào khoảng 2,5%.
Nếu không được điều trị, tỉ lệ tử vong của SXHD có thể vượt quá 20%.
Với phương thức điều trị tích cực, tỉ lệ tử vong có thể thấp hơn 1% [27].
Trên cơ sở báo cáo tỷ lệ mắc bệnh sốt xuất huyết và dân số ước tính
trong năm 1990, khoảng 2 tỷ người (40% dân số của thế giới) sống ở các
vùng có ổ dịch sốt xuất huyết đã được báo cáo giữa năm 1975 và 1996. Dự
báo 3,2 tỷ người (34% tổng dân số) sống trong vùng có nguy cơ sốt xuất
huyết năm 2055 và 3,5 tỷ người (chiếm 35% dân số thế giới) năm 2085
[29].
1.2. TÌNH HÌNH SỐT XUẤT HUYẾT TRÊN THẾ GIỚI
SXHD là một căn bệnh có từ lâu và đã phân bố trên toàn thế giới, đặc
biệt tại vùng nhiệt đới trong thế kỷ 18 và 19 khi ngành công nghiệp vận
chuyển và thương mại được mở rộng [28].
1.2.1. Sốt xuất huyết tại Châu Á và Thái Bình Dương
Khoảng 1,8 tỷ người (hơn 70%) dân số có nguy cơ mắc sốt xuất
huyết trên toàn thế giới sống ở các quốc gia thành viên của TCYTTG tại khu
theo mùa và cũng có sự khác biệt giữa các miền. Miền Bắc bệnh thường xảy
ra nhiều từ tháng 7 đến tháng 9, miền Nam và miền Trung bệnh SD/SXHD
xuất hiện quanh năm và tần số mắc bệnh nhiều nhất từ tháng 6 đến tháng
10. Ở miền Nam, nơi có bệnh lưu hành cao nên lứa tuổi mắc bệnh phần lớn
là trẻ em (95%) [13], [2].
Ở miền Bắc SXHD xảy ra lần đầu tiên vào năm 1958, được Chu Văn
Tường và Wihow thông báo vào năm 1959. Trận dịch với sự xác định do
7
DEN-2 xảy ra vào năm 1969 tại Hà Nội rồi lan ra 19 tỉnh, thành với tổng số
46.824 ca mắc và 105 ca tử vong. Những năm có dịch lớn là 1975, 1977,
1978, 1979, 1980, 1983 và 1987. Tỷ lệ mắc thay đổi từ 52,3 đến
260,6/100.000 dân. Tỷ lệ tử vong trong vụ dịch năm 1983 là 1,2% [8].
Ở miền Nam, dịch SXHD đầu tiên xảy ra vào năm 1960. Tháng 3/1963,
dịch lớn đã xảy ra ở Cái Bè, Châu Đốc, Hông Ngự, Tân Châu, Cao Lãnh với
331 bệnh nhi nhập viện và 116 tử vong. Virus DEN-2 ở người và DEN-4 ở
muỗi Aedes aegypti đã được phân lập trong trận dịch năm 1964. Từ năm
1975, dịch SXHD có chu kỳ khoảng 3-5 năm đã xảy ra vào những năm
1975,1978, 1979, 1983, 1987, 1993 và 1998 [1].
Trong năm 2011 cả nước có 69.680 trường hợp mắc và có 61 trường
hợp tử vong do SXHD, số tử vong giảm 48 trường hợp (44%) so với năm
2010, đã thể hiện việc khống chế thành công và duy trì tốt tỷ lệ chết/mắc
(năm 2011 là 0,087%). Đó là thành tựu đáng khích lệ của toàn bộ hệ thống
điều trị phòng, chống dịch SXHD trong điều kiện thực tế của công tác điều
trị SXHD còn gặp nhiều thách thức [6].
Bảng 1.1 Số mắc và chết 100.000 dân do SD/SXHD tại Việt Nam
phân bố theo năm (1999-2008)
Năm
Tổng số
mắc
Số mắc
thuộc Thái Bình Dương cho thấy loài Ae.albopictus, Ae.polynesiensis,
Ae.scutellaris, Ae.cooki, Ae.rotumae, Ac.tongue cũng có thể là vectơ truyền
virus này.
Ở Việt Nam, nghiên cứu về vectơ truyền bệnh SD/SXHD đã được tiến
hành trong nhiều năm bởi Rusell và cộng sự năm 1969. Nguyễn Trung
Thành năm 1971, Võ Thị Phan và cộng sự 1970, 1973, Vũ Đức Hương 1977,
Vũ Sinh Nam 1990, Đỗ Quang Hà 1995. Các tác giả đều khẳng định Aedes
aegypti là vectơ chính trong các vụ dịch SD/SXHD ở Việt Nam. Muỗi Aedes
albopictus chỉ có mặt trong một số rất ít các vụ dịch với chi số mật độ rất
thấp và cũng chưa có kết quả phân lập virus Dengue dương tính từ Aedes
albopictus. Như vậy, ở Việt Nam cho đến thời điểm này Aedes aegypti vẫn là
vectơ chính truyền virus Dengue trong các vụ dịch SD/SXHD đã xảy ra. Để
9
phòng chống hiệu quả SD/SXHD do muỗi Aedes aegypti truyền, những hiểu
biết đầy đủ về sinh học, sinh thái của loài muỗi này là rất quan trọng.
Muỗi Aedes aegypti có vòng đời biến đổi hoàn toàn với giai đoạn ấu
trùng sống trong nước, chu kỳ phát triển gồm 4 giai đoạn: trứng, lăng
quăng, nhộng và muỗi trưởng thành. Chỉ có giai đoạn trưởng thành liên
quan trực tiếp đến truyền bệnh. Thời gian trung bình từ trứng đến muỗi
trưởng thành trong phòng thí nghiệm là 8,3 ± 0,2 ngày, dài nhất 10 ngày,
ngắn nhất 7 ngày.
Muỗi trưởng thành có màu đen hoặc màu nâu đen với nhiều đốm trắng
bạc ở thân và ở chân. Những đốm này tạo thành hình đàn ở mặt lưng. Bụng và
chân có các vảy trắng và chích cuối cùng hoàn toàn trắng. Muỗi cái trưởng
thành có thể giao phối trong không gian hẹp, hút máu người và động vật
nhưng chúng thích hút máu người hơn. Muỗi trú đậu chủ yếu trong nhà (99,6%
ở thành phố và 96,9% ở nông thôn). Muỗi ưa nơi kín gió, trú đậu cả nơi tối và
nơi sáng [9].
1.4.3. Tính cảm nhiễm và sức đề kháng
Mọi người chưa có miễn dịch đặc hiệu đều có thể mắc bệnh. Trẻ em dễ
• Xuất huyết ở niêm mạc: Chảy máu mũi, lợi, đôi khi xuất huyết ở kết
mạc, tiểu ra máu. Kinh nguyệt kéo dài hoặc xuất hiện kinh sớm.
• Xuất huyết nội tạng như tiêu hóa, phổi, não là biểu hiện nặng.
- Gan to.
- Sốc: Suy tuần hoàn cấp, thường xảy ra vào ngày thứ 3 đến ngày thứ 7
của bệnh, biểu hiện bởi các triệu chứng như vật vã, bứt rứt hoặc li bì,
lạnh đầu chi, da lạnh ẩm, mạch nhanh nhỏ, huyết áp hạ hoặc huyết
áp kẹt (hiệu số huyết áp tối đa và tối thiểu ≤ 20 mmHg), tiểu ít.
1.5.2.2. Cận lâm sàng
- Biểu hiện cô đặc máu do thoát huyết tương: Hematocrit tăng ≥ 20%
giá trị bình thường theo tuổi, giới; hoặc bằng chứng của thoát huyết
tương.
- Số lượng tiểu cầu giảm ≤ 100.000 tế bào/mm
3
.
- Tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng bệnh sốt xuất huyết Dengue là sốt và
Xuất huyết kèm theo cô đặc máu, số lượng tiểu cầu giảm [4].
1.5.3. Phân độ lâm sàng
11
Theo TCYTTG, chia làm 4 độ:
- Độ I: Sốt đột ngột, kéo dài từ 2 - 7 ngày; dấu hiệu dây thắt dương
tính.
- Độ II: Triệu chứng như độ I, kèm theo xuất huyết tự nhiên dưới da
hoặc niêm mạc.
- Độ III: Có dấu hiệu suy tuần hoàn, mạch nhanh nhỏ, huyết áp kẹt, hạ
huyết áp; kèm theo các triệu chứng da lạnh, ẩm, bứt rứt, vật vã li bì.
- Độ IV: Sốc nặng, mạch nhỏ khó bắt, huyết áp không đo được [12].
1.6. NHỮNG ẢNH HƯỞNG VỀ KINH TẾ XÃ HỘI CỦA SD/SXHD
Hiện nay ở Đông Nam Á, SXHD là một trong những nguyên nhân chính
trẻ nằm viện và tử vong. Trong 2 năm 1988 - 1989, ở 15 tỉnh thành phía
xuất huyết dựa vào cộng đồng trên các phương tiện thông tin đại chúng
thức về mặt xã hội cho người dân và chính quyền.
Hướng dẫn giáo viên, học sinh về cách phòng chống sốt xuất huyết
trong năm học để phối hợp với giáo viên, học sinh trong chương trình sinh
hoạt.
1.7.3. Về chuyên môn kỹ thuật
Các biện pháp phòng chống muỗi đốt tại nhà:
Huỷ bỏ các dụng cụ chứa nước không cần thiết ở gần như chẻ nhỏ gáo
dừa, các lu hũ bể, đập dẹp các hộp lon
Nếu thấy dụng cụ chứa nước có lăng quăng thì súc rữa: đổ bỏ hết
nước hoặc sang nước qua nơi chứa nước khác (có vải lược) vá nắp đậy kín.
Thả cá ăn bọ gậy hoặc dùng vợt để bắt bọ gậy.
Trong nhà phải trật tự, ngăn nắp. Sạch từ trong nhà ra ngoài đường.
Khai thông cống rãnh, phát quang bụi rậm, lấp những vũng nước xung
quanh nhà.
13
Xua diệt muỗi bằng cách dùng nhang muỗi, hoặc dùng bó lá sả, cọng
dừa quất đập muỗi.
Phun thuốc hóa chất diệt muỗi trưởng thành: chỉ phun các ổ dịch xác
định năm trước và tại vùng có dịch. Ưu tiên các cơ sở có nhiều trẻ em các
cơ sở tập trung nhiều bệnh nhân nghi ngờ bị sốt xuất huyết.
Phòng chống sinh học: Phóng thả Mesocyclops trong các dụng cụ chứa
nước để diệt bọ gậy. Sử dụng Mesocyclops diệt bọ gậy là biện pháp được
thừ nghiệm thành công ở nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước.
Bảo vệ cá nhân: Ngủ mùng kể cả ban ngày, mặc quần dài, áo tay dài.
Dùng các hóa chất xua muỗi, hương trừ muỗi, thuốc bôi da, màn có tầm
chất, tẩm lưới Mesofluthrin có tác dụng xua và diệt muỗi cao, an toàn, ảnh
hưởng đến sự hoạt động của mọi người trong nhà [14].
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
giữa giá trị thu được từ mẫu với giá trị thực của quần thể do nhà
nghiên cứu mong muốn. Chọn e = 0,06.
Thay vào công thức ta có:
Lấy tròn cỡ mẫu là 300.
2.2.3. Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống.
- Chọn hộ gia đình:
15
+ Lập danh sách các hộ gia đình của 4 khu vực theo số thứ tự từ 1 đến
2362.
+ Tính khoảng cách mẫu: k = 2362/300 7.
+ Chọn hộ gia đình đâu tiên bằng cách sử dụng bảng số ngẫu nhiên, chọn
một số ngẫu nhiên bằng hoặc nhỏ hơn khoảng cách mẫu từ 1 đến 7. Giả
sử chọn được số 5 thì đây là hộ đầu tiên được chọn theo danh sách thứ
tự hộ gia đình.
+ Chọn hộ gia đình thứ 2: cộng khoảng cách mẫu với số ngẫu nhiên trên
là 5, gia đình thứ 2 được chọn có số thứ tự là 12 theo danh sách.
+ Xác định hộ gia đình tiếp theo bằng cách cộng khoảng cách mẫu với số
thứ tự hộ gia đình được xác định ở trước. Tiếp tục như vậy cho đến khi
đủ số hộ gia đình của cỡ mẫu đã xác định.
- Chọn người được điều tra trong hộ gia đình:
+ Mỗi hộ gia đình chọn một người trong độ tuổi 15 - 60 theo tiêu chí chọn
mẫu và tiêu chí loại trừ.
+ Chọn đủ 300 người.
2.2.4. Tiêu chí chọn mẫu
- Người dân có độ tuổi 15 - 60 hiện sống tại phường Hương Long, có mặt
tại thời điểm khảo sát.
- Có khả năng nghe và trả lời các câu hỏi phỏng vấn.
2.2.5. Tiêu chí loại trừ
- Những người có mặt tại hộ gia đình tại thời điểm khảo sát nhưng
+ Dụng cụ trữ chứa nước: bồn nhựa, bể xây, chum vại, phuy,
2.3.2. Hiểu biết của người dân về bệnh sốt xuất huyết
- Người dân nghe nói về bệnh SXHD: có nghe nói, chưa nghe nói.
- Biết về sự nguy hiểm của bệnh SXHD: bệnh SXHD nguy hiểm là đúng.
- Các nguồn cung cấp thông tin về bệnh sốt xuất huyết.
- Biết đúng triệu chứng của bệnh SXHD: 2 triệu chứng sốt và xuất huyết.
+ Biết đúng triệu chứng sốt: sốt cao liên tục từ 2 ngày trở lên,
+ Biết đúng triệu chứng xuất huyết: chấm xuất huyết dưới da, chảy máu
cam, chảy máu răng, đi cầu ra máu, nôn ra máu.
- Biết về nguyên nhân gây bệnh SXHD: do muỗi truyền là đúng.
- Hiểu biết về loại muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết: muỗi Aedes aegypti
hoặc muỗi vằn là đúng.
- Biết về nơi trú đậu của muỗi: muỗi đậu chủ yếu trên quần áo, mùng,
màn trong nhà.
- Biết về thời gian muỗi thường đốt người: ban ngày là đúng.
17
- Biết về nơi sinh sản, phát triển chủ yếu của muỗi và bọ gậy: dụng cụ
chứa nước sinh hoạt và vật dụng phế thải chứa nước.
- Hiểu biết đúng về vectơ truyền sốt xuất huyết: biết đúng về nguyên
nhân gây bệnh sốt xuất huyết, biết đúng loại muỗi truyền bệnh, biết
đúng về nơi trú đậu chủ yếu của muỗi, thời gian muỗi đốt người, nơi
sinh sản, phát triển chủ yếu của muỗi và bọ gậy.
2.3.3. Thực hành của người dân về phòng chống sốt xuất huyết
- Các cơ sở y tế mà người dân tìm đến đầu tiên khi bị bệnh: Bệnh viện,
Trạm y tế, Y tế tư
- Các cách xử trí sốt tại nhà mà người dân sử dụng: dùng thuốc hạ nhiệt,
cho uống nhiều nước, lau mát, cho uống nước hoa quả, uống ORS
- Thực hành phòng chống muỗi và bọ gậy: bình xịt hoá chất, hương xua
muỗi, nằm màn khi ngủ cả ban đêm và ban ngày, phát quang bụi rậm,
khai thông cống rãnh, loại bỏ các dụng cụ phế thải, thay nước lọ hoa
35 – 60 179 59,67
Nghề
nghiệp
Lao động phổ thông 199 66,34
CBCC – HSSV 67 22,33
Nội trợ - hưu trí 34 11,33
Học vấn
Dưới THCS 169 56,33
THCS trở lên 131 43,67
- Nam giới có tỷ lệ 54,33%, nữ giới có tỷ lệ 45,67%.
- Nhóm tuổi từ 35 - 60 có tỷ lệ 59,67%, nhóm tuổi từ 15 – 34 (40,33%).
- Nghề nghiệp: lao động phổ thông có tỷ lệ 66,34%, tiếp đến là CBCC –
HSSV (22,33%), nội trợ - hưu trí (11,33%).
- Học vấn: dưới THCS có tỷ lệ 56,33%, THCS trở lên (43,67%).
19
3.1.2. Nguồn nước và dụng cụ chứa nước đang sử dụng tại hộ gia
đình
Bảng 3.2 Nguồn nước đang sử dụng ở các hộ gia đình
Nguồn nước n=300 Tỷ lệ %
Nước máy 299 99,67
Nước giếng 33 11,00
Nước mưa 1 0,33
Có 99,67% hộ gia đình sử dụng nước máy, nước giếng (11,00%).
Bảng 3.3 Dụng cụ chứa nước đang sử dụng ở các hộ gia đình
Dụng cụ chứa nước n=118 Tỷ lệ %
Bồn nhựa 59 50,00
Bể xây 41 34,75
Chum vại 17 14,41
Phuy 4 3,39
Có 39,33% (118/300) hộ gia đình có sử dụng các dụng cụ chứa nước.
Chảy máu (cam, răng, ói máu, đi cầu ra máu) 51 17,40
Lạnh chân tay 25 8,33
Đau bụng 7 2,33
Người dân biết cả 2 triệu chứng sốt và xuất huyết có tỷ lệ là 64,00%,
biết triệu chứng sốt (85,67%), nổi chấm xuất huyết da (63,00%).
Bảng 3.7 Hiểu biết về sự nguy hiểm của bệnh sốt xuất huyết
Bệnh nguy hiểm n Tỷ lệ %
Có 289 96,33
Không 11 3,67
Tổng cộng 300 100
Có 96,33% người dân trả lời bệnh sốt xuất huyết là nguy hiểm.
3.2.3. Hiểu biết về nguyên nhân truyền bệnh sốt xuất huyết
Bảng 3.8 Hiểu biết về nguyên nhân truyền bệnh sốt xuất huyết
21
Nguyên nhân n Tỷ lệ %
Do muỗi đốt 287 97,95
Nguyên nhân khác 6 2,05
Tổng cộng 293 100
Có 97,95% người dân biết đúng muỗi là nguyên nhân truyền bệnh sốt
xuất huyết.
Bảng 3.9 Hiểu biết đúng về loại muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết
Loại muỗi n Tỷ lệ %
Muỗi vằn 200 69,69
Loại khác 87 30,31
Tổng cộng 287 100
Tỷ lệ người dân biết đúng loại muỗi vằn truyền bệnh SXH là 69,69%.
3.2.4. Hiểu biết về đặc tính muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết
Bảng 3.10 Hiểu biết về đặc tính muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết
-
T
Không biết 12 4,18
22
3.3.1. Thực hành khi có người bị bệnh sốt xuất huyết
Bảng 3.11 Cơ sở y tế mà người dân tìm đến đầu tiên khi bị bệnh
Cơ sở y tế n Tỷ lệ %
Bệnh viện 171 57,00
Trạm y tế 112 37,33
Y tế tư 17 5,67
Tổng cộng 300 100
Biểu đồ 3.2 Cơ sở y tế mà người dân tìm đến đầu tiên khi bị bệnh
Cơ sở y tế đầu tiên người dân tìm đến khi mắc sốt xuất huyết là Bệnh
viện (57,00%), tiếp đó là Trạm y tế (37,33%).
Bảng 3.12 Cách xử trí sốt tại nhà
Cách xử trí n=300 Tỷ lệ %
Dùng thuốc hạ nhiệt 209 69,67
Cho uống nhiều nước 90 30,00
Lau mát 86 28,67
Cho uống nước hoa quả 65 21,67
Cho uống ORS 56 18,67
Không biết 18 6,00
Biểu đồ 3.3 Cách xử trí sốt tại nhà
Khi sốt dùng thuốc hạ nhiệt (69,67%), 30,00% cho uống nhiều nước.
3.3.2. Thực hành phòng chống muỗi và bọ gậy
Bảng 3.13 Các biện pháp phòng chống muỗi và bọ gậy
Biện pháp phòng chống n=300 Tỷ lệ %
Nằm màn khi ngủ 137 45,67
Vệ sinh dụng cụ chứa nước 118 39,33
Bình xịt hóa chất 105 35,00
Phát quang bụi rậm, khai thông cống
rãnh
xuất huyết với đặc trưng của đối tượng
Các đặc trưng Tổng
Biết 2 triệu
chứng sốt và
xuất huyết
Ý nghĩa
thống kê
n %
Giới
Nam 160 107 66,88
χ
2
=0,283
p>0,05
Nữ 133 85 63,91
Nhóm tuổi
15 – 34 120 87 72,50
χ
2
=4,37
p<0,05
35 – 60 173 105 60,69
Học vấn
Dưới THCS 163 90 55,21
χ
2
=17,30
p<0,05
THCS trở lên 130 102 78,46
Nghề
Nhóm
tuổi
15 – 34 118 20 16,95
χ
2
=4,14
p<0,05
35 – 60 169 46 27,22
Học vấn
Dưới THCS 161 30 18,63
χ
2
=3,94
p<0,05
THCS trở lên 126 36 28,57
Nghề
nghiệp
Lao động phổ thông 192 35 18,23
χ
2
=7,66
p<0,05
CBCC – HSSV 64 20 31,25
Nội trợ – hưu trí 31 11 35,48
Tổng cộng 287 66 22,99
- Nam giới biết đúng vectơ truyền sốt xuất huyết (26,11%) cao hơn nữ
giới (19,23%). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
- Nhóm tuổi 15 – 34 biết đúng vectơ truyền sốt xuất huyết (16,95%)
thấp hơn nhóm 35 - 60 (27,22%), (p<0,05).
- Nhóm học vấn THCS trở lên biết đúng vectơ truyền sốt xuất huyết
χ
2
=4,30
p<0,05
THCS trở lên 131 47 35,88