1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sốt rét là một bệnh truyền nhiễm có tính chất lưu hành tại địa phương, dễ
lây lan trong cộng đồng, dễ gây thành dịch, gây nên hậu quả nghiêm trọng về
kinh tế, xã hội và sức khỏe con người. Hơn nửa thế kỷ qua, nhân loại không
ngừng nỗ lực kiên trì thực hiện công tác phòng chống sốt rét (PCSR), thế nhưng
bệnh sốt rét vẫn là vấn đề nan giải, là một hiểm họa cho loài người đặc biệt
nghiêm trọng ở những nước đang phát triển và các nước thuộc vùng nhiệt đới
[18].
Trong lịch sử thế giới, bệnh sốt rét đã gây ra nhiều vụ dịch lớn, số người
mắc lên tới số hàng trăm triệu người, hàng triệu người đã chết vì sốt rét. Trên thế
giới có 2,7 tỷ người sống trong vùng sốt rét lưu hành (khoảng 40% dân số thế
giới). 300-500 triệu người mắc sốt rét mỗi năm, 1,2- 2,7 triệu người chết vì sốt
rét. [30].
Chương trình tiêu diệt sốt rét và PCSR đã mang lại một số kết quả, song
trong khoảng 15 năm trở lại đây chương trình gặp một số khó khăn nên bệnh sốt
rét vẫn được coi là một trong những bệnh gây tác hại hàng đầu cho một số nước
Châu Phi , Châu Á và cho toàn nhân loại.
Ở Việt Nam tình hình sốt rét cũng rất nghiêm trọng, vì Việt Nam là nước
nằm trong vùng khí hậu gió mùa, nhiệt độ và độ ẩm rất thích hợp cho bệnh phát
triển. Các yếu tố về kinh tế, xã hội như nghèo đói, dân trí thấp, giao thông đi lại
khó khăn, di biến động dân cư, phát triển các dự án kinh tế (như thủy điện, trồng
rừng, khai thác khoáng sản, làm đường ) tại các vùng sốt rét lưu hành tác động
không nhỏ đến hạn chế hay gia tăng của bệnh sốt rét. Việc thực hiện các chiến
lược thanh toán bệnh sốt rét và PCSR đã được Đảng và Nhà nước, cũng như của
các tổ chức phi chính phủ trên toàn cầu quan tâm đầu tư. Từ năm 1958-1990,
Việt Nam đã đạt được nhiều thành quả trong công tác PCSR, song do thiếu điều
2
kiện để duy trì thành quả, bệnh sốt rét đã quay lại trong vòng 10 năm từ 1991-
1.1 LƯỢC SỬ BỆNH SỐT RÉT:
Khoảng 400 năm trước Công nguyên Hypocrat (Hy Lạp) đã mô tả chi tiết
triệu chứng lâm sàng của bệnh sốt rét. Năm 1880 Lavenran (Pháp) khám phá và
mô tả KSTSR trong máu người ở Angiêri. Năm 1886 Golgi mô tả ở Ý 2 loại
KSTSR của người là Plasmodium (P).vivax và P.malariae. Năm 1889-1890 Celli
và Marchifava mô tả P.falciparum.
Năm 1891: Romanovsky tìm thấy thuốc nhuộm và cách nhuộm KSTSR
trên lam máu.
Năm 1922: Stephens phát hiện một loại KSTSR đó là P.ovale.
Năm 1897: Ronald Ross (Anh) lần đầu tiên phát hiện KSTSR ở người
phát triển ở cơ thể muỗi (An. Stephensi) tại Ấn Độ
Năm 1898: Ronald Ross thí nghiệm KSTSR ở người và chim, xác định
muỗi Anopheles là trung gian truyền bệnh sốt rét cho người.
Năm 1898: Grassi, Bignami, Bastianelli (Ý) thí nghiệm toàn bộ chu kỳ
phát triển của KSTSR ở muỗi và người, họ đã khẳng định kết quả nghiên cứu
của Ronald Ross.
Năm 1900 Manson bằng thực nghiệm trên người tình nguyện chứng minh
vai trò truyền bệnh của muỗi Anopheles trong bệnh sốt rét.
Các năm 1934-1953 Raffele, Garnham, Shortt… tìm ra và mô tả thể tế bào
(ngoại hồng cầu) của KSTSR ở người, động vật có vú và gà. Năm 1980 tìm ra
thể ngủ của P.Cynomolgi và gợi ý vai trò thể ngủ của P.vivax trong việc gây tái
phát xa.
4
Các năm 1976-1983: Trager và Jensen (1976) người Mỹ thành công trong
việc nuôi cấy liên tục P.falciparum trong ống nghiệm (invitro). Năm 1983 dùng
kỹ thuật sinh học phân tử đã ghép và nhân AND của P. falciparum trong E.coli
đem lại khả năng chế tạo vaccine phòng sốt rét.
Năm 1987-1992 hoàn thành một số vaccine phòng sốt rét và đã thử trên
người tình người, bắt đầu thử trên thực địa. Năm 1992-1994 M.E.Patarroyo đã
phân chia thành các thể hoa cúc. Đối với các loài P. Falciparum thì tất cả các
thoa trùng khi vào gan đều phát triển và trưởng thành, phân chia thành các thể
tiểu hoa cúc rồi vào máu trong một thời gian ngắn. Còn P.vivax và có thể
P.ovale, một số thoa trùng không trưởng thành ngay mà ở thể ngủ. Sau khoảng
1-6 tháng, chúng phát triển thành các thể tiểu hoa cúc rồi vào máu gây nên
những cơn tái phát.
+ Trong máu, các thể tiểu hoa cúc xâm chiếm hồng cầu và phát triển một
chu kỳ vô tính ở đó qua các thể nhẫn, thể tư dưỡng, thể phân liệt. Cuối chu kỳ
hồng cầu vỡ ra và các thể tiểu hoa cúc lại xâm chiếm các hồng cầu mới.
- Chu kỳ phát triển hữu tính xảy ra trong muỗi Anopheles: Sau khi được
muỗi Anopheles hút vào dạ dày, các giao bào đực và cái phát triển trở thành giao
tử. Giao tử đực và cái phối hợp với nhau tạo thành hợp tử rồi thành trứng di
động. Trứng di động chui qua thành dạ dày của muỗi, phát triển trên mặt ngoài
của thành dạ dày, tròn lại, to dần và phân chia thành nhiều thoa trùng ở bên
trong. Cuối cùng các thoa trùng được giải phóng, di chuyển về tuyến nước bọt
của muỗi, khi muỗi đốt người thoa trùng xâm nhập vào cơ thể người và bắt đầu
chu kỳ sinh sản vô tính ở trong cơ thể người.
6
- Thể vô tính (tư dưỡng phân liệt)
- Thể hữu tính (giao bào hay giao tử)
Ký sinh trùng sốt rét trong cơ thể người gây bệnh sốt rét. KSTSR có kích
thước rất nhỏ và chỉ có thể thấy được bằng kính hiển vi.
Đời sống KSTSR ở người có hạn định, tùy theo loại KSTSR mà chúng tồn
tại trong cơ thể từ 6 tháng đến 3 năm, một số trường hợp có thể tồn tại lâu hơn,
trên 10 năm như P.malaria 1[9], [29].
1.2.3 Muỗi Anophen truyền bệnh sốt rét:
Anopheles thuộc họ Culicidae, họ phụ Anophelinae. Chu kỳ sinh sản gồm
hai giai đoạn: giai đoạn dưới nước (trứng, bọ gậy), giai đoạn trên cạn (muỗi
trưởng thành). Sự sinh sản và phát triển của muỗi phụ thuộc vào các yếu tố: nhiệt
dịch này chỉ mạnh khi người sống lâu năm trong vùng sốt rét và mất dần sau khi
ra khỏi vùng đó. Miễn dịch bệnh sốt rét thể hiện ở các mức độ khác nhau: có sốt
và trong máu có KST; không sốt và trong máu có KST, còn gọi người mang
KST lạnh; không sốt và không có KST trong máu ngoại vi [18], [19].
1.3 PHÂN VÙNG SỐT RÉT VÀ DỊCH TỄ CAN THIỆP:
Phân vùng dịch tễ sốt rét (DTSR) là một công việc hết sức quan trọng và
cần thiết giúp cho các nhà chuyên môn cũng như các nhà quản lý cập nhật được
tình hình sốt rét, nắm được mức độ lưu hành và diễn biến dịch tễ của bệnh dưới
tác động của chương trình phòng chống. Phân vùng sốt rét giúp cho chúng ta xác
định được các đối tượng nguy cơ ở các mức độ khác nhau, từ đó với một nguồn
tài chính và nhân lực nhất định, các biện pháp can thiệp sẽ được ưu tiên tập trung
vào các đối tượng nguy cơ cao vì vậy tính hiệu quả của các biện pháp phòng
chống được nâng cao.
Trên thế giới đã có nhiều tác giả đưa ra các phương pháp phân vùng sốt rét
khác nhau. Gill (1938) dựa vào khí hậu đã phân sốt rét thành các vùng: Sốt rét
nhiệt đới do P.falciparum; Sốt rét ôn đới do cả P.falciparum và P.vivax và Sốt rét
hàn đới chỉ có P.vivax với á chủng ủ bệnh dài, tái phát xa. Mac Donald (1957)
8
dựa vào các yếu tố khí hậu, địa hình, sinh cảnh, mức sốt rét và các véc tơ truyền
bệnh sốt rét từ đó phân chia các vùng sốt rét trên thế giới thành 12 vùng sốt rét
khác nhau.
Ở Thái Lan người ta phân vùng sốt rét thành vùng không có lan truyền
bệnh và vùng phòng chống lan truyền bệnh. Vùng phòng chống sốt rét lan truyền
bệnh được chia thành 2 tiểu vùng là vùng lan truyền quanh năm và vùng lan
truyền có chu kỳ. Ở Malaysia người ta dựa vào chỉ số KST hàng năm là cơ bản
để phân ra 3 vùng sốt rét: vùng có sốt rét, vùng có khả năng sốt rét và vùng
không có sốt rét .
Tại Việt Nam, trong những năm 1931 đến 1934 các tác giả Pháp dựa vào
nguyên tắc sinh thái- địa lý để xác định được các vùng sốt rét và đã phân thành 6
dịch tễ sốt rét và can thiệp sẽ được thực hiện và điều chỉnh sau nhiều năm [25].
1.3.1 Mục tiêu phân vùng dịch tễ sốt rét và can thiệp:
+ Xác định được các vùng dịch tễ sốt rét theo mức độ lưu hành khác nhau
và dân số nguy cơ của từng vùng.
+ Xây dựng chiến lược, biện pháp can thiệp phù hợp, làm cơ sở lập kế
hoạch phòng chống sốt rét về phòng chống véc tơ, điều trị và quản lý bệnh nhân
sốt rét cho từng vùng.
1.3.2 Phương pháp phân vùng và các chỉ số áp dụng:
1.3.2.1 Phân vùng theo quốc tế:
Căn cứ vào mức lưu hành đã được TCYTTG công nhận, Mac Donald đã
phân làm 4 vùng sốt rét [40]: vùng SRLH nhẹ, vùng SRLH vừa, vùng SRLH
nặng, vùng SRLH rất nặng.
10
1.3.2.2 Phân vùng sốt rét của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay:
- Tên gọi phân vùng: Phân vùng sốt rét lần này đã được thống nhất gọi là
“Phân vùng Dịch tễ sốt rét và can thiệp”.
- Tên gọi của mỗi vùng: Được thể hiện mức độ lưu hành của bệnh sốt rét,
cụ thể phân thành 5 vùng như sau: 1.Vùng không có SRLH; 2.Vùng nguy cơ sốt
rét quay lại; 3.Vùng SRLH nhẹ; 4.Vùng SRLH vừa; 5.Vùng SRLH nặng [28].
Các yếu tố và chỉ số sau sử dụng để phân vùng:
* Vùng địa lý bao gồm: Núi cao, núi đồi, núi rừng nước chảy, núi nhô ra
biển, đồng bằng/đồng bằng ven biển/nước lợ, thị trấn, thị xã, thành phố, cao
nguyên
* Sinh cảnh: Rừng rậm, rừng thưa, rừng tái sinh (rừng trồng), rừng xen kẽ,
rừng cây công nghiệp/ăn quả, ven rừng, savan, trảng cỏ, cây bụi, rừng ngập mặn.
* Độ cao: Địa hình có độ cao trên 1.000 mét ở miền Bắc và trên 1.500 mét
ở miền Nam (từ đèo Hải Vân trở vào).
* Chỉ số bệnh nhân sốt rét: (Số liệu trong 5 năm liên tục trước thời điểm
tiến hành phân vùng 1998-2002) Tóm tắt
Hình 1.1 Quá trình lây truyền sốt rét
Môi trường tự nhiên và sinh học: Sinh địa cảnh, độ cao, độ
ẩm, lượng mưa…thảm thực vật, côn trùng, động vật.
Bệnh nhân, người
lành mang KST lạnh
Vectơ truyền
bệnh: Anopheles
Cơ thể, tập thể
cảm thụ
Môi trường kinh tế, xã hội: hoạt động kinh tế, trình độ xã
hội, nghề nghiệp, phong tục, y tế, bảo đảm xã hội
12 Hình 1.2 Chu trình lây truyền bệnh sốt rét
Muốn PCSR cần phải:
-Diệt vectơ truyền bệnh.
tố dịch tễ, các kỹ thuật xét nghiệm phát hiện ký sinh trùng trong máu.
1.3.5.1 Yếu tố dịch tễ liên quan đến sốt rét:
Những người sống trong vùng sốt rét hoặc qua lại vùng có sốt rét lưu hành
hoặc có tiền sử bị sốt rét trong 6 tháng gần đây, đôi khi lâu hơn như trường hợp
tái phát do P.vivax [29].
1.3.5.2 Chẩn đoán lâm sàng:
Biểu hiện lâm sàng sốt rét thường rất đa dạng, tùy thuộc loại KST nhiễm,
miễn dịch của cơ thể (bị sốt rét nhiều lần hay lần đầu), trẻ em hay người lớn, phụ
nữ mang thai.
* Sốt rét thường: Dựa vào 3 yếu tố:
- Dịch tễ: Những người sống trong vùng sốt rét hoặc qua lại vùng có sốt
rét lưu hành hoặc có tiền sử bị sốt rét trong 6 tháng gần đây, đôi khi lâu hơn như
trường hợp tái phát do P.vivax.
- Lâm sàng:
+ Có cơn sốt điển hình: Rét run- sốt nóng- ra mồ hôi hoặc
+ Có cơn sốt không điển hình như:
. Sốt không thành cơn: Ớn lạnh, gai rét (hay gặp trẻ nhỏ và người sống lâu
vùng SRLH).
. Sốt liên tục hoặc dao động trong vòng 5-7 ngày đầu, rồi thành cơn (ở
bệnh nhân bị sốt rét lần đầu).
+ Những dấu hiệu khác: Thiếu máu, lách to.
- Xét nghiệm:
+ Xét nghiệm tìm KSTSR, nếu kết quả lần đầu âm tính phải xét nghiệm 2-
3 lần/ngày vào lúc sốt.
14
+ Sử dụng que thử chẩn đoán nhanh KSTSR để hổ trợ chẩn đoán khi lam
âm tính.
+ Nơi không có kính hiển vi thì lấy lam máu gởi đến điểm kính gần nhất.
* Chẩn đoán sốt rét ác tính (SRAT):
- Ở một nơi không có SRLH, nay nếu có trên 5 BNSR nội địa có KST
trong vòng 1-2 tuần ở thôn bản, ấp.
- Ở một nơi vùng SRLH mà 3 năm liền không có BNSR nay nếu có trên 5
BNSR nội địa có KST trong vòng 1-2 tuần ở thôn bản, ấp.
- Ở một nơi SRLH khi có số BNSR hoặc số người có KSTSR trong tháng
tăng lên trên trị số trung bình tháng cùng kỳ của 3 năm liên tục cộng với 2 độ
lệch chuẩn (Mean + 2SD) của một xã [11], [12].
1.4 CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG CHỐNG VÀ TIÊU DIỆT BỆNH SỐT RÉT
TRÊN THẾ GIỚI:
Bệnh sốt rét có từ thời thượng cổ, theo nhiều tác giả trên thế giới có thể
bệnh sốt rét (BSR) xuất hiện trước tiên là ở Châu Phi, vì ở đây hội đủ các điều
kiện thuận lợi về đặc điểm tự nhiên xã hội, sinh cảnh môi trường, sinh học để sốt
rét tồn tại và phát triển. Từ Châu Phi, BSR lan sang bán đảo Mesopotamia, Ấn
Độ, Nam Trung Hoa qua thung lũng sông Nil. Từ đây BSR lan sang bờ Địa
Trung Hải và xa hơn. Từ Ấn Độ và Trung Quốc, sốt rét lan sang Châu Á đặc biệt
Đông Nam Á rồi đến Châu Đại Dương. Sốt rét có mặt ở Châu Âu nửa sau thế kỷ
18 và Châu Mỹ nửa sau thế kỷ 19. Đầu thế kỷ 20, BSR được coi như đã phát
triển tới mức rộng nhất của bệnh đó trên thế giới [30].
Theo nhiều tác giả vào các năm 30 của thế kỷ 20, hàng năm trên toàn thế
giới có 700 triệu BNSR, 6 - 7 triệu người đã chết vì sốt rét. Vụ dịch Pen Giáp ở
16
Ấn Độ (1898) giết hại 307.000 người, vụ dịch ở Srilanca và Ceylon (1934) giết
hại 82.000 người. Ở Liên Xô (cũ), từ năm 1923 - 1926 có trên 10 triệu BNSR và
hơn 60.000 chết do sốt rét; Ở Châu Mỹ như Srilanca, Braxin có từ 100.000 - 3
triệu người mắc sốt rét, tử vong 14.000 – 82.000 người đã chết vì sốt rét. Những
năm 90 của thế kỷ 20, sốt rét vẫn lưu hành với mức độ trên 100 nước, làm chết
1,5 – 1,7 triệu người. Hiện nay sốt rét còn đe dọa sức khỏe và tính mạng của một
nửa dân số trên thế giới [19], [29].
1.4.1 Chương trình tiêu diệt sốt rét (TDSR) trên thế giới 1955 – 1968:
Amsterdam đã khẳng định lại chiến lược PCSR trên toàn cầu với mục tiêu: Giảm
mắc, giảm chết và giảm thiệt hại do sốt rét.
Tháng 1/1998 TCYTTG phát động chiến dịch “Đẩy lùi sốt rét”, đây không
phải là chiến dịch mới để PCSR mà là một sự chung sức, phối hợp hoạt động vì
mục đích chung là giảm gánh nặng do sốt rét. Mục tiêu của “Đẩy lùi sốt rét” là:
giảm được ít nhất 50% gánh nặng do sốt rét (BNSR, tử vong sốt rét và dịch sốt
rét) trên thế giới vào năm 2010 [27], [46].
1.5 CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG SỐT RÉT TẠI VIỆT NAM, NHỮNG
KHÓ KHĂN THÁCH THỨC VÀ NHỮNG NỖ LỰC:
Bệnh sốt rét (BSR) đã được đề cập đến trong y văn Việt Nam từ thế kỷ thứ
13, Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông gọi sốt rét là ”ngược tật”, hai ông đã mô
tả và để lại các bài thuốc nam chữa trị sốt rét. Trong nhân dân BSR được gọi là
sốt rét ngã nước, sốt rét rừng. Bên cạnh các thầy thuốc y học cổ truyền, nhiều tác
giả người Pháp và Việt Nam đã điều tra nghiên cứu về sốt rét và PCSR. Giống
như các nước ở khu vực Đông Nam Á, ở Việt Nam trong từng thời kỳ dịch bệnh
sốt rét đã diễn ra phức tạp, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe nhân dân,
18
nền kinh tế - xã hội đất nước, nặng nề nhất là nhân dân vùng miền núi, vùng sâu
vùng xa. Cụ thể trong giai đoạn 1965 – 1975, ở Miền Bắc trong vòng 11 năm đã
có 321 vụ dịch lớn nhỏ xảy ra, trung bình 30 vụ dịch sốt rét/năm. Các địa
phương xảy ra dịch đáng lưu ý là: Quỳnh Thế, Tương Dương, Đường 7 Nghệ
An; Mường Mán, Tuần Giáo, Dương Châu, Quảng Đông, Quảng Bình. Giai
đoạn sau chiến tranh khi cả nước thống nhất, từ năm 1975 – 1997, tổng cộng có
1.435 vụ dịch, trên 400.000 BNSR, trên 8.000 SRAT, 3.725 ca tử vong. Thời kỳ
có nhiều vụ dịch nhất và dịch lớn nhất là từ 1986 – 1980, chủ yếu ở Miền Bắc.
Thời gian từ 1990-1991 các khu vực có nhiều vụ dịch nhất là các tỉnh Miền Bắc
(Tây Bắc, Khu IV cũ và Việt Bắc), các tỉnh phía Nam có: Miền Trung - Tây
Nguyên, Nam Bộ, Lâm Đồng cũng có dịch nhưng thấp hơn [2], [46].
1.5.1 Giai đoạn 1958-1975: Do đất nước bị chia cắt nên chương trình TDSR
là vấn đề sức khỏe quan trọng trong cộng đồng, góp phần phát triển kinh tế- xã
hội ở Việt Nam đến năm 2010. Mục tiêu cụ thể: Giảm mắc sốt rét 50% (
0,8/1.000 dân), Giảm chết sốt rét 75% (0,02/100.000 dân). Không có dịch sốt rét
lớn xảy ra [24].
Phân tích và đánh giá tình hình sốt rét ở Việt Nam 2000-2007 đã cho thấy
trong giai đoạn này, trung bình mỗi năm cả nước có 140.000 đến 150.000 bệnh
nhân mắc sốt rét, trong đó tỷ lệ người có ký sinh trùng sốt rét chiếm 24%, nhiễm
P.falciparum 75% và tỷ lệ lam dương tính 1,42%. Tỷ lệ mắc giảm mạnh từ 6,9
%o năm 2000 xuống 2,21%o năm 2007. Tỷ lệ chết giảm từ 0,19/100.000 xuống
0,02/100.000. Mắc sốt rét trẻ em: 9,65% và tỷ lệ chết do sốt rét chiếm 30-40%
tổng số chết chung. Phụ nữ có thai mắc tỷ lệ rất thấp: 0,36%. Số BNSR được
điều trị hàng năm trung bình từ 150.000 – 160.000 và giảm dần qua các
20
năm.v.v…Kết quả đã phản ánh bệnh sốt rét ở Việt Nam tiếp tục giảm mạnh
trong 8 năm qua từ 2000 – 2007 [46].
1.5.4 Những khó khăn và thách thức hiện tại:
- Dân số trong môi trường sốt rét lớn: 37 triệu người (43% dân số toàn
quốc), trong khi đó độ bao phủ và chất lượng PCSR còn hạn chế (phòng chống
véc tơ cho 11 triệu người, điều trị sốt rét cho 2 triệu lượt người).
- Người mắc sốt rét, mang KSTSR ở cộng đồng còn cao.
- Di biến động dân, dân ngủ lại trong rừng còn nhiều.
- Kinh tế, tập quán, nhận thức, hành vi PCSR của dân còn thấp.
- Màng lưới y tế cơ sở còn thiếu, yếu; quản lý y dược tư nhân còn yếu.
- Nguồn lực PCSR không ổn định.
- Chính quyền và y tế địa phương một số nơi còn chủ quan, lơ là đối với
công tác PCSR.
Với những lý do trên nguy cơ sốt rét quay trở lại còn lớn [29].
1.6 CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG SỐT RÉT TẠI TỈNH QUẢNG NAM VÀ
HUYỆN PHƯỚC SƠN
Lam
(+)
2006
3.427
3
0
78.228
1.790
2007
2.504
6
0
73.138
1.111
2008
1.329
5
1
54.066
484
1.6.2. Những khó khăn khi triển khai công tác phòng chống sốt rét tại tỉnh
Quảng Nam:
- Đời sống dân cư: 80% dân sống nghề nông, mức sống giữa thành thị và
nông thôn chênh lệch nhau, đặc biệt người dân sống ở miền núi còn rất khó
khăn, tình hình đói nghèo còn cao (>30%). Đồng bào dân tộc thiểu số sống chủ
yếu ở miền núi chiếm tỷ lệ khoảng 5% dân số, còn tập quán du canh du cư, hoặc
định cư nhưng du canh, làm nương rẫy chủ yếu, phong tục tập quán còn lạc hậu,
nhận thức về y tế, vệ sinh phòng bệnh còn thấp.
mùa rõ rệt, mùa nắng và mùa mùa mưa, tạo điều kiện thuận lợi cho muỗi phát
triển và truyền bệnh quanh năm.
Nghề nghiệp người dân của huyện đa số làm rẫy, một số làm ruộng nước.
Có thói quen đi rừng săn bắt, hái lượm, lấy mây rừng. Có sự giao lưu giữa các
vùng SRLH trên địa bàn, giữa các nhóm khai thác khoáng sản trong rừng thiếu
biện pháp phòng chống sốt rét thuộc địa bàn các xã và cận xã bị mắc bệnh sốt rét
vào khu dân cư và ngược lại. Từ đặc điểm tạo điều kiện thuận lợi cho việc lây
truyền và biến động về tình hình sốt rét tại huyện.
Đời sống kinh tế khó khăn , có nhiều xã có tỷ lệ hộ đói nghèo cao, chiếm
tỷ lệ trên 50%. Dân trí thấp, nhận thức của người dân ở các xã này về mọi mặt xã
hội còn hạn chế. Còn nhiều phong tục, tập quán lạc hậu như cúng bái, ma chay,
ăn kiêng, ở cữ v.v Giao thông đi lại từ huyện đến các xã, thôn còn nhiều khó
khăn: đường rừng, dốc, nhiều khe suối, nhất là về mùa mưa.
1.7.2 Tình hình tổ chức mạng lưới y tế cơ sở ở huyện Phước Sơn:
Trung tâm y tế huyện Phước Sơn gồm có Bệnh viện đa khoa, đội YTDP
và 11 trạm y tế xã với cơ cấu như sau:
Bảng 1.1 Tình hình nhân lực y tế TTYT huyện Phước Sơn
Tên đơn vị
Tổng
số
Cơ cấu trình độ chuyên môn
Sau
đại học
Đại
học
Trung cấp
y dược
Sơ cấp
y dược
Cán bộ
24
Mạng lưới nhân viên y tế thôn bản đã có từ năm 2000, nay đang được
củng cố và từng bước ổn định hoạt động. Hiện tại huyện có 66 thôn đều có y tế
thôn bản, đa số là người dân tộc thiểu số tại chỗ chiếm tỷ lệ 94%.
Hình 1.3 Tổ chức xây dựng mạng lưới y tế tại huyện
1.7.3 Các biện pháp phòng chống SR:
1.7.3.1 Công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ (TTGDSK) về PCSR:
Công tác TTGDSK được xã hội hoá, ngành y tế cùng với các cấp chính
quyền, các ban ngành khác; đặc biệt là văn hoá thông tin, giáo dục và các tổ chức
xã hội, tổ chức TTGDSK về PCSR với nhiều kênh, nhiều hình thức đa dạng và
phong phú như : qua phương tiện thông tin đại chúng (đài, báo, tivi), qua tranh
ảnh, tờ rơi, áp phích, tranh gấp…, qua truyền thông giáo dục trực tiếp (tại các
cuộc họp), giảng dạy trong các trường học… [22], [32].
1.7.3.2 Giám sát, phát hiện chủ động, điều trị sớm bệnh nhân sốt rét :
- Giám sát: Hàng tháng, mạng lưới y tế xã tổ chức giám sát SR tại các thôn
bản, đặc biệt là các thôn bản trọng điểm để phát hiện, điều trị sớm những trường
TTYT huyện Phước Sơn
Các khoa lâm sàng
Đội YTLĐ
thị trấn đã có bác sỹ công tác. Từng bước hoàn thiện mạng lưới y tế thôn bản đặc
biệt ở các vùng sâu, vùng xa. Đào tạo và đào tạo lại các kiến thức và kỹ năng
chuyên khoa về PCSR.