1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội – 2012
2 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hoa 3
LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của các
Thầy, Cô trong khoa Xã hội học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Để luận văn này được hoàn thành, ngoài những nỗ lực của bản thân, tôi
đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các truyền thông viên, các cán bộ dự án
và các hộ gia đình tham gia nghiên cứu ở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh
Hòa.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS. TS. Nguyễn Thị Kim
Hoa, giáo viên hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện
giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô của khoa Xã hội học, Ban Tổ chức
– Cán bộ, ĐHQGHN, Phòng Tổ chức – Cán bộ, Trường ĐHKHXH-NV, xin
cảm ơn gia đình, người thân và các đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn
thành luận văn này.
Hà Nội, ngày 21 tháng 2 năm 2012.
Tác giả.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
10
3.1. Mục đích nghiên cứu
10
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
11
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu, mẫu nghiên cứu
11
4.1. Đối tượng nghiên cứu
11
4.2. Khách thể nghiên cứu
11
4.3. Phạm vi nghiên cứu
11
5. Phương pháp nghiên cứu
12
6. Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
14
6.1. Giả thuyết nghiên cứu
14
1.1.3.3. Một số yếu tố tác động tới quá trình truyền thông thay đổi
hành vi
29
1.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
32
1.3. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
36
1.4. Những khái niệm công cụ
39
1.5. Hệ thống chính sách về phòng chống tai nạn thương tích và sơ
cấp cứu
41
Chương 2: Nhận thức và hành vi của người dân về Phòng
chống tai nạn thương tích và Sơ cấp cứu tại cộng đồng trước
và sau truyền thông
48
2.1.
Nhận thức và hành vi của người dân về Phòng chống tai nạn
thương tích tại cộng đồng trước và sau truyền thông
48
TÀI LIỆU THAM KHẢO
132
PHỤ LỤC
1357
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
BYT: Bộ Y tế
CĐAT: Cộng đồng an toàn
CYTDP: Cục Y tế dự phòng
MBH: Mũ bảo hiểm
PCTNTT: Phòng chống tai nạn thương tích
SCC: Sơ cấp cứu
TNTT: Tai nạn thương tích
TT: thương tích
TTV: Truyền thông viên
VMIS: Báo cáo điều tra liên trường về thực trạng chấn thương ở Việt Nam
2003
WHO/TCYTTG: Tổ chức Y tế thế giới
8
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT STT biểu
đồ/bảng
thiện (trước và sau truyền thông)
69
23 Bảng 2.6 Mối liên hệ giữa trình độ học vấn và nhận
thức/hành vi PCTNTT sau khi được tư vấn
70
24 Biểu đồ 2.7 Lý do không hoặc chưa thực hiện biện pháp
phòng tránh/cải thiện
72
25 Biểu đồ 2.8 Nhận thức chung về SCC 77
26 Biểu đồ 2.9 Biện pháp thực hiện khi/nếu có TNTT xảy ra 78
27 Biểu đồ 2.10.1 Sơ cấp cứu Ngã 80
28 Biểu đồ 2.10.2 Sơ cấp cứu Bỏng 82
29 Biểu đồ 2.10.3 Sơ cấp cứu Đuối nước 83
30 Biểu đồ 2.10.4 Sơ cấp cứu Điện giật 84
31 Biểu đồ 2.10.5 Sơ cấp cứu Ngộ độc 85
32 Biểu đồ 2.10.6 Sơ cấp cứu Dị vật đường thở 86
33 Biểu đồ 2.10.7 Sơ cấp cứu Động vật cắn - đốt 87
34 Biểu đồ 2.10.8 Sơ cấp cứu Tai nạn giao thông 89
35 Biểu đồ 2.10.9 Sơ cấp cứu Thương tích do vật sắc nhọn 90
36 Biểu đồ 2.11 Lý do thực hiện hoặc không thực hiện sơ cấp
cứu
91
37 Biểu đồ 3.1 Đơn vị tuyên truyền về TNTT và SCC 94
38 Biểu đồ 3.2 Các phương truyền thông tới người dân 97
39 Biểu đồ 3.3 Các phương thức truyền thông tác động tới 98
10
người dân
40 Biểu đồ 3.4 Nâng cao chất lượng của phương thức truyền
thông tại nhà
(Giám sát Thương tích tại bệnh viện BYT-TCYTTG, 2005-2006).
Mạng lưới y tế của Việt Nam rộng khắp nhưng hiện đang quá tải và phát
triển còn nhiều bất cập. Các nghiên cứu đã cho thấy THƯƠNG TÍCH là nguyên
nhân hàng đầu gây tử vong và thương tật, điều này tạo ra áp lực ngày càng tăng
đối với ngành y tế vốn đã hoạt động quá tải.
Trong khi đó, nhận thức chung của người dân về phòng chống tai nạn
thương tích (PCTNTT) và sơ cấp cứu (SCC) còn hạn chế. Nhiều trường hợp tai
nạn thương tích xảy ra do sự bất cẩn, thiếu ý thức của con người, trong khi
chúng hoàn toàn có thể phòng tránh được nếu được nhận thức và quan tâm đầy
đủ hơn. Nhiều trường hợp tử vong, biến chứng đáng tiếc do không được SCC kịp
thời, đúng cách, gây tốn kém chi phí (trực tiếp và gián tiếp) cho xã hội.
Tuy nhiên, TNTT lại là vấn đề y tế có thể phòng tránh được nếu người dân
được hướng dẫn đúng cách. Việc nạn nhân được SCC kịp thời ngay sau khi tai
nạn xảy ra sẽ góp phần cứu sống tính mạng hoặc giảm nhẹ mức độ thương tật
của nạn nhân. PCTNTT và SCC tại cộng đồng tuy là hai lĩnh vực nhưng lại liên
quan chặt chẽ với nhau, bổ sung hiệu quả cho nhau. Vấn đề đặt ra là cần thiết
phải có những biện pháp thích hợp nhằm nâng cao nhận thức của người dân, thay
12
đổi quan điểm, thái độ và đặc biệt là thay đổi hành vi, vận động sự tham gia tích
cực của người dân trong vấn đề PCTNTT và SCC tại cộng đồng.
Khánh Hoà là một tỉnh lớn thuộc miền nam trung bộ Việt Nam, có tốc độ
phát triển kinh tế khá mạnh mẽ. Mặc dù vậy, Khánh Hoà đang phải đối mặt với
tình hình tử vong và thương tật do thương tích gây ra gia tăng nhanh chóng.
Cuộc Điều tra VMIS năm 2003 cho thấy tỉ lệ thương tích và tỉ lệ tử vong do
thương tích tại Khánh Hoà tương đối cao so với các đô thị lớn khác tại Việt Nam
như Hà Nội và Hải Phòng. Khánh Hoà cũng là tỉnh đứng thứ 19/64 tỉnh thành
trong cả nước về vấn đề tai nạn giao thông. Tại Khánh Hoà, thành phố Nha
Trang là địa bàn có mật độ dân cư đông đúc, có tiềm lực phát triển kinh tế và du
lịch nhưng cũng là nơi tiềm ẩn nhiều nguy cơ tai nạn thương tích trong cộng
sự hiệu quả trong đời sống để nâng cao ý thức và thay đổi hành vi của người dân.
Tìm hiểu những yếu tố kinh tế – văn hoá – xã hội khác có ảnh hưởng đến việc
thay đổi và duy trì hành vi của người dân và biện pháp ứng dụng phù hợp để hỗ
trợ cho các chương trình truyền thông.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ những tác động tích cực và/hoặc tiêu cực của truyền thông đến
nhận thức, hành vi PCTNTT và SCC của người dân.
Tìm ra những phương thức truyền thông hiệu quả nhằm nâng cao nhận
thức và thay đổi hành vi về PCTNTT và SCC của người dân tại cộng đồng.
14 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu các phương thức truyền thông PCTNTT và SCC được sử dụng
để tác động và thay đổi nhận thức, hành vi của người dân tại cộng đồng
theo định hướng đưa ra.
Tìm hiểu những thay đổi trong nhận thức của người dân về PCTNTT và
SCC tại cộng đồng, so sánh nhận thức của người dân trước và sau truyền
thông.
Rút ra những hoạt động truyền thông, phương thức truyền thông tác động
hiệu quả đến việc thay đổi nhận thức của người dân về PCTNTT và SCC
tại cộng đồng.
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu:
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu về tác động của truyền thông tới nhận thức và hành vi
của người dân về PCTNTT và SCC tại cộng đồng.
4.2. Khách thể nghiên cứu:
nhận thức, hành vi của người dân về PCTNTT và SCC.
Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi:
Thực hiện 200 phỏng vấn bằng bảng hỏi đối với đại diện của hộ gia đình.
Phương pháp phỏng vấn sâu:
16
Thực hiện 10 phỏng vấn sâu với đại diện hộ gia đình, 1 phỏng vấn sâu với
cán bộ phụ trách chương trình, 1 phỏng vấn nhóm tập trung với nhóm cán bộ
truyền thông.
Phương pháp quan sát:
Quan sát không tham dự về hộ gia đình, tìm hiểu ý thức và hành vi thực tế
của hộ gia đình trước và sau khi tuyên truyền.
Phương pháp phân tích tài liệu:
Phân tích những bài báo, những tài liệu nghiên cứu khoa học của các tác
giả, các nhà khoa học có liên quan đến công trình nghiên cứu.
Phân tích và tổng hợp kết quả điều tra của “Chương trình Kiểm soát
thương tích 2004 – 2007” và “Chương trình Tăng cường Chăm sóc Chấn
thương trước Nhập viện 2008 – 2010” của tổ chức Counterpart International
(Hoa Kỳ) tại tỉnh Khánh Hòa, bao gồm:
o Điều tra ban đầu về tình hình tai nạn thương tích tại thành phố Nha
Trang T10/2006: 200 mẫu.
o Bảng kiểm đánh giá hộ gia đình an toàn hàng tháng tại thành phố Nha
Trang: 500 bảng.
o Báo cáo đánh giá hàng tháng về công tác tuyên truyền PCTNTT tại
cộng đồng, thành phố Nha Trang.
o Điều tra Nhận thức của cộng đồng về Cấp cứu Tai nạn thương tích tại
thời điểm T12/2008 và T12/2009 tại thành phố Nha Trang: 1200 mẫu
Đặc điểm nhân khẩu xã hội: tuổi, giới tính, học vấn, nghề nghiệp, thu nhập, tôn giáo …
6.2. Khung lý thuyết:
Truyền thông qua các phương tiện truyền thông địa phương: nghiên cứu
này sử dụng hai phương tiện là bảng tin phường và loa phường
Truyền thông có tổ chức/truyền thông nhóm: được thực hiện thông qua
nhóm truyền thông viên, truyền thông trực tiếp tại hộ gia đình và tại cuộc họp
cộng đồng
2. Nội dung truyền thông: là nội dung thông điệp được truyền tải đến đối
tượng đích là người dân tại cộng đồng, bao gồm Khái niệm, sự nguy hiểm
và cách thức phòng chống, xử lý đối với từng loại hình TNTT được đề cập
trong nghiên cứu.
3. Thời gian, cường độ truyền thông: gồm có thời điểm thực hiện truyền
thông, khoảng thời gian cho một cuộc truyền thông và cường độ (hay tần
suất) truyền thông.
Kĩ năng truyền thông: kĩ thuật, kĩ xảo, kinh nghiệm thực hành truyền
thông do các chủ thể truyền thông sử dụng trong quá trình truyền thông.
Hoạt động truyền thông PCTNTT và SCC như đã được mô tả như trên,
đến lượt mình, là nhân tố tác động, làm thay đổi nhận thức, từ đó làm thay đổi
hành vi về PCTNTT và về SCC của người dân.
Nhận thức và hành vi PCTNTT và SCC của người dân nằm trong bối cảnh
xã hội trong đó có tính đến các đặc điểm nhân khẩu xã hội như: tuổi, giới tính,
học vấn, nghề nghiệp, thu nhập, tôn giáo …
20
PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
1.1. Cơ sở lý luận:
Một số lý thuyết xã hội học đã được vận dụng để xem xét, giải thích các
vấn đề trong đề tài nghiên cứu:
1.1.1. Lý thuyết hành động xã hội
Theo Max Weber, hành động xã hội là hành vi mà chủ thể gắn cho một ý
nghĩa chủ quan nhất định. Weber nhấn mạnh đến động cơ bên trong của chủ thể
Hành động duy lý truyền thống: hành động tuân thủ những thói quen, nghi
lễ, phong tục, tập quán được truyền lại từ đời này sang đời khác.
[22, tr. 87-89]
1.1.2. Lý thuyết tương tác xã hội
Tương tác xã hội được coi là quá trình hành động và hành động đáp lại của
một hành động của một chủ thể này với một chủ thể khác. Các nhà xã hội học
thường nghiên cứu tương tác xã hội ở cấp độ vi mô và vĩ mô. Nghiên cứu ở cấp
độ vi mô là nghiên cứu ở cấp độ tương tác nhỏ nhất. Còn nghiên cứu ở cấp độ vĩ
mô là nghiên cứ về sự tương tác của các cơ cấu xã hội, các hệ thống xã hội hay
giữa các thiết chế xã hội với nhau như chính trị, tôn giáo, nghệ thuật, …
Như vậy, ta cần phải hiểu tương tác xã hội theo nghĩa rộng: tương tác
không đơn thuần chỉ là hành động và phản ứng. Đó là hình thức thông tin và giao
tiếp của ít nhất hai chủ thể hành động. Trong quá trình này, sự tác động qua lại
22
của các chủ thể sẽ được thực hiện, đồng thời diễn ra sự thích ứng của một hành
động này với một hành động khác. Qua đó, họ đạt được sự hiểu biết lẫn nhau cả
về tình huống và ý nghĩa của hành động. Ví dụ: trong nghiên cứu này, sự tương
tác xã hội diễn ra giữa hai chủ thể: truyền thông viên và đại diện hộ gia đình.
Thông qua quá trình này, truyền thông viên truyền đạt các thông tin, kiến thức và
hướng dẫn các biện pháp thực hiện PCTNTT và SCC. Ngược lại, đại diện hộ gia
đình cũng tiếp nhận và phản hồi lại các thông tin trên. Qua đó, cả hai chủ thể đạt
đến một sự hiểu biết và thống nhất chung về phương thức hành động PCTNTT
và SCC tại gia đình và cộng đồng.
Cả hai chủ thể hành động trong tương tác đều chịu ảnh hưởng của các giá
trị, chuẩn mực xã hội nhưng đồng thời các chủ thể này thường chịu ảnh hưởng
của các tiểu văn hoá, thậm chí phản văn hoá khác nhau. Truyền thông viên và đại
diện hộ gia đình là những cá thể khác nhau, mức độ chịu ảnh hưởng của những
giá trị chuẩn mực đối với mỗi chủ thể là khác nhau, vì vậy, mức độ hiểu biết,
thay đổi hành vi. Vai trò của truyền thông là cần giúp đối tượng thoát ra khỏi giai
đoạn này bằng cách thực hiện các biện pháp thu hút đối tượng, làm cho đối
tượng nhận thức rõ về vấn đề và những hệ quả tiêu cực của vấn đề.
Hiểu biết: đối tượng đã có sự hiểu biết nhất định về vấn đề, đồng thời cân
nhắc sự được mất trong các trường hợp duy trì hay thay đổi hành vi hiện tại. Có
thể trong giai đoạn này, mặc dù có sự hiểu biết về mặt tiêu cực của hành vi hiện
tại nhưng đối tượng vẫn chưa thể chấp nhận việc thay đổi hành vi mới (vẫn còn
duy trì hành vi cũ). Vai trò của truyền thông là giúp đối tượng nhận thức một
Duy trì
Thực hiện hành vi
Sẵn sàng thay đổi/Muốn thay đổi
Hiểu biết
Chưa hiểu biết
Thụt lùi
24
cách rõ ràng lợi ích của việc thay đổi hành vi, những rào cản đối với việc chấp
nhận và thay đổi hành vi mới đồng thời tạo động lực cho đối tượng thay đổi hành
vi.
Sẵn sàng thay đổi/Muốn thay đổi: Đối tượng đã có hiểu biết rõ về mặt tiêu
cực của hành vi cũ, lợi ích của việc thay đổi hành vi và bắt đầu có ý định/kế
hoạch thay đổi hành vi. Tuy nhiên, đối tượng vẫn có thể chưa thực hiện ngay
hành vi mới, do đã từng thất bại trong việc thay đổi hành vi trước đây, hoặc do
không biết cách/phương pháp để thay đổi hành vi, hoặc do e ngại về chính khả
năng của mình. Vai trò của truyền thông là tích cực cung cấp các thông tin hỗ trợ
cho việc thực hiện hành vi (hỗ trợ của xã hội, các nhóm, các tổ chức …), các
thông tin tư vấn kĩ thuật và tạo động lực thúc đẩy hành động xảy ra.
Thực hiện hành vi: đối tượng thực hiện (có thể chỉ là thử) hành vi mới.
Tùy thuộc vào đặc điểm của đối tượng, nhóm đối tượng thuần nhất hay
không thuần nhất và đối tượng đang ở giai đoạn nào của quá trình truyền thông
mà truyền thông cần đưa ra những thông điệp cũng như thông qua các phương
tiện truyền thông phù hợp.
Quá trình thay đổi hành vi diễn ra khác nhau ở các đối tượng khác nhau,
với tốc độ khác nhau, tùy thuộc vào nhận thức của bản thân đối tượng, các nguồn
tin và cách thức truyền thông khác nhau cũng như bối cảnh kinh tế - văn hóa – xã
hội khác nhau
[35, pg. 73 – 86]