TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ ĐÔ THỊ
---***---
CHUYÊN ĐỀ
THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài:
ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ PHÂN LOẠI
RÁC THẢI TẠI NGUỒN KHU VỰC THÀNH PHỐ SƠN LA
Giảng viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Mã sinh viên
Lớp
: ThS. Ngô Thanh Mai
: Nguyễn Quốc Hưng
: CQ531769
: Kinh tế và quản lý môi trường 53
Hà Nội - 2015
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Ngô Thanh Mai
MỤC LỤC
1.1.1 Khái niệm về rác thải và rác thải sinh hoạt..............................................................4
1.1.3. Ảnh hưởng của rác thải đến môi trường và sức khỏe cộng đồng............................6
1.1.3.1. Ảnh hưởng của chất thải rắn đến sức khỏe cộng đồng......................................6
GVHD: Th.S Ngô Thanh Mai
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH
BẢNG
1.1.1 Khái niệm về rác thải và rác thải sinh hoạt..............................................................4
1.1.3. Ảnh hưởng của rác thải đến môi trường và sức khỏe cộng đồng............................6
1.1.3.1. Ảnh hưởng của chất thải rắn đến sức khỏe cộng đồng......................................6
1.1.3.2. Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường đất..............................................7
1.1.3.3. Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường nước...........................................7
1.1.3.4. Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường không khí...................................7
1.2. Những vấn đề chung về phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn..................................8
1.2.1. Khái niệm về phân loại rác thải tại nguồn............................................................8
1.2.2. Tác dụng của việc phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn.....................................8
1.2.3. Kinh nghiệm về phân loại rác thải tại nguồn ở một số quốc gia và Việt Nam...10
g. Bài học kinh nghiệm rút ra.......................................................................................14
1.1.4. Pháp luật về phân loại rác tại nguồn......................................................................17
Theo chủ nghĩa duy vật của Mác và Lênin:.................................................................18
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC VỀ PHÂN LOẠI RÁC THẢI SINH HOẠT TẠI
NGUỒN CỦA NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA.......................................................21
2.1. Giới thiệu chung về Thành phố Sơn La...................................................................21
2.3. Đánh giá nhận thức của người dân về phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn khu vực
thành phố Sơn La..............................................................................................................24
3.2. Một số giải pháp nâng cao nhận thức của người dân về việc phân loại rác thải sinh
hoạt tại nguồn...................................................................................................................44
3.3. Đề xuất phương án phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn khu vực thành phố Sơn La
..........................................................................................................................................51
3.3.1. Nguyên tắc của mô hình phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn.........................51
3.3.3. Cách phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn........................................................53
Hình 3.1:
phân loại, thu gom và xử lý theo đúng quy định. Đây là một trong những nguyên
nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường ở các khu dân cư, khu đô thị.
Thành phố Sơn La là một trong những thành phố trong nước ta mới bước vào
quá trình đô thị hóa trong vài năm trở lại đây, quá trình này đang diễn ra mạnh mẽ,
một mặt góp phần đáng kể vào công cuộc phát triển phát triển chung của thành phố,
có sức hút tập trung đông dân cư từ các huyện trong tỉnh, cũng như các tỉnh khác
trong cả nước, các hoạt động kinh tế, thương mai, dịch vụ, du lịch ngày càng tăng,
cùng với sự đổi mới và phát triển đó đã làm nảy sinh nhiều vấn đề về môi trường.
Một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu đó là việc xử lý rác thải sinh hoạt
một cách hợp lý. Việc đảm bảo môi trường sạch đẹp, vệ sinh là rất cần thiết, và nếu
triển khai thành công việc phân loại rác tại nguồn trong thành phố sẽ tác động lớn
đến nhận thức người dân trong thành phố, cũng như những người dân ở các huyện
trong tỉnh.
Mặt khác, do ý thức bảo vệ môi trường của người dân chưa cao, việc phân loại
rác chưa được thực hiện và hành vi vứt rác bừa bãi không đúng nơi quy định của
người dân đã gây rất nhiều khó khăn trong việc thu gom rác thải của đội ngũ nhân
viên môi trường.
SV: Nguyễn Quốc Hưng
CQ531769
1
MSV:
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Ngô Thanh Mai
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Đánh giá nhận thức của
dân khu vực, nhân viên công ty môi trường và đô thị, cán bộ Sở tài nguyên và môi
trường tỉnh Sơn La.
4.2. Phương pháp quan sát
Quan sát địa bàn và các khu phố thuộc Thành phố Sơn La nhằm tìm hiểu về
việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt.
SV: Nguyễn Quốc Hưng
CQ531769
2
MSV:
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Ngô Thanh Mai
4.3. Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia
Tham khảo hướng dẫn của các thầy, cô khoa Môi trường và Đô thị, cũng như
những góp ý của các cán bộ của Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Sơn La.
4.4. Phương pháp tổng hợp số liệu
Qua các số liệu thu thập được từ điều tra người dân bằng bảng hỏi lập các
bảng số liệu, vẽ biểu đồ, phân tích số liệu để đưa ra những đánh giá, ý kiến về nhận
thức của người dân về phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn.
5. Kết cấu chuyên đề
Chương 1: Cơ sở lý luận về rác thải sinh hoạt và phân loại rác thải sinh hoạt
tại nguồn
Chương 2: Đánh giá nhận thức về phân loại rác sinh hoạt tại nguồn của người
dân thành phố Sơn La
Chương 3: Đề xuất giải pháp để nâng cao nhận thức của người dân và phương
thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc
hoạt động khác.” Như vậy, rác thải là tất cả những thứ vật chất từ đồ ăn, đồ
dung, chất phế thải trong sản xuất, dịch vụ, y tế,… mà mọi người không dùng nữa
và thải bỏ đi.
Theo Wikipedia: “Rác thải hay chất thải (waste) là vật liệu hay vật chất không
mong muốn. Nó cũng liên quan đến những vật bỏ đi, bã, đồ đồng nát.... tùy thuộc
vào loại vật liệu và các thuật ngữ địa phương. Trong các cơ thể sống, chất thải liên
quan đến những vật chất hay chất độc không mong muốn được thải ra khỏi cơ thể.”
* Từ các khái niệm trên, có thể hiểu Rác thải hiểu là những thứ ở thể rắn được
thải ra từ các hoạt động của con người.
* Rác thải sinh hoạt sinh ra từ các hoạt động sinh hoạt của con người bao gồm
sành sứ, kim loại, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm thừa,
xương động vật, tre, gỗ, lông gà, vịt, vải, giấy, rơm rạ, xác động thực vật,…
SV: Nguyễn Quốc Hưng
CQ531769
4
MSV:
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Ngô Thanh Mai
1.1.2 Phân loại rác thải
1.1.2.1. Phân loại theo nguồn phát sinh
- Chất thải sinh hoạt: phát sinh hằng ngày ở các kho đô thị, làng mac, khu dân
cư, các trung tâm dịch vụ, công viên,…
- Chất thải công nghiệp: phát sinh từ quá trình từ trong quá trình sản xuất công
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Ngô Thanh Mai
- Chất thải ở trạng thái lỏng: phân, bùn từ các cống rãnh, bể phốt, nước thải từ
nhà máy lọc dầu, rượu bia, nước từ các nhà máy sản xuất giấy, dệt, nhuộm, và vế
inh công nghiệp,…
- Chất thải ở trạng thái khí: bao gồm các khí thải động cơ đốt trong các nhà
máy động lực, giao thông, ô tô, máy kéo, tàu hỏa, nhà máy nhiệt điện, sản xuất vật
liệu,…
1.1.3. Ảnh hưởng của rác thải đến môi trường và sức khỏe cộng đồng
1.1.3.1. Ảnh hưởng của chất thải rắn đến sức khỏe cộng đồng
Một trong những dạng chất thải nguy hại xem là ảnh hưởng nhất đến sức khỏe
con người và môi trường là các chất hữu cơ bền. Những hợp chất này vô cùng
bền vững, tồn tại lâu trong môi trường, có khả năng tích lũy sinh học trong
nông sản phẩm, thực phẩm, trong các nguồn nước, mô mỡ của động vật gây ra
hang loạt các bệnh nguy hiểm đối với sức khỏe của con người, phổ biến nhất là
bệnh ung thư. Đặc biệt, các chất hữu cơ trên được tận dụng nhiều trong cuộc
sống hằng ngàycủa con người ở các dạng dầu thải trong các thiết bị gia đình,
các thiết bị ngành điện như máy biến thế, tụ điện, đèn huỳnh quang, dầu chịu
nhiệt, dầu chế biến, chất làm mát trong truyền nhiệt… Theo đánh giá của các
chuyên gia, các loại chất thải nguy hại ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng
nghiêm trọng nhất là đối với khu dân cư, khu vực làng nghề, gần khu công
nghiệp, bãi chon lấp chất thải và vùng nông thôn ô nhiễm môi trường do chất thải
rắn cũng đến mức báo động.
Hiện kết quả phân tích mẫu đất, nước, không khí đều tìm thấy sự tồn tại của
các hợp chất hữu cơ trên. Cho đến nay, tác hại nghiêm trọng của chúng đã thể hiện
rõ qua những hình ảnh em bé bị dị dạng, số lượng những bệnh nhân bị tim mạch, rối
- Chất thải rắn vứt bừa bãi ra đất hoặc chôn lấp vào đất chứa các chất hữu cơ
khó phân hủy làm thay đổi độ pH của đất.
- Rác còn là nơi sinh sống của các loài côn trùng, gặm nhấm, vi khuẩn, nấm
mốc… những loài này di động mang các vi trùng gây bệnh truyền nhiễm cho cộng
đồng.
- Chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp, nông
nghiệp khi đưa vào môi trường đất sẽ làm thay đổi thành phần cấp hạt, tăng độ chặt,
giảm tính thấm nước, giảm lượng mùn, làm mất cân bằng dinh dưỡng… làm cho
đất bị chai cuwnsgkhoong còn khả năng sản xuất. Tóm lại rác thải sinh hoạt là
nguyên nhân gây ra ô nhiễm đất.
1.1.3.3. Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường nước
- Nước ngấm xuống đất từ các chất thải được chôn lấp, các hố phân, nước
làm lạnh tro xỉ, làm ô nhiễm nguồn nước ngầm.
- Nước chảy khi mưa to qua các bãi chôn lấp, các hố phân, chảy vào các
mương, rãnh, ao, hồ, song, suối làm ô nhiễm nước mặt.
Nước này chứa các vi trùng gây bệnh, các kim loại nặng, các chất hữu cơ, các
muối vô cơ hòa tan vượt quá tiêu chuẩn môi trường nhiều lần.
1.1.3.4. Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường không khí
- Rác thải hữu cơ phân hủy tạo ra các mùi và các khí độc hại như CH4, CO2,
NH3,... gây ô nhiễm không khí.
SV: Nguyễn Quốc Hưng
CQ531769
7
MSV:
Chuyên đề thực tập
này. Giảm khối lượng rác mang đi chôn lấp, diện tích đất phục vụ cho việc chôn lấp
rác cũng sẽ giảm đáng kể. Bên cạnh đó, thành phố cũng sẽ giảm được gánh nặng chi
SV: Nguyễn Quốc Hưng
CQ531769
8
MSV:
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Ngô Thanh Mai
phí trong việc xử lý nước rỉ rác cũng như xử lý mùi. Số liệu được lấy từ
http://plo.vn/doi-song-truyen-thong/.
• Lợi ích môi trường
Ngoài lợi ích kinh tế có thể tính toán được, việc phân loại chất thải rắn tại
nguồn còn mang lại nhiều lợi ích đối với môi trường. Khi giảm được khối lượng
chất thải rắn sinh hoạt phải chôn lấp, khối lượng nước rỉ rác sẽ giảm. Nhờ đó, các
tác động tiêu cực đến môi trường cũng sẽ giảm đáng kể như: giảm rủi ro trong quá
trình xử lý nước rỉ rác, giảm ô nhiễm nguồn nước ngầm, nước mặt...
Diện tích bãi chôn lấp thu hẹp sẽ góp phần hạn chế hiệu ứng nhà kính do khí
của bãi chôn lấp. Ở các bãi chôn lấp, các khí chính gây nên hiệu ứng nhà kính gồm
CH4, CO2, NH3. Theo báo cáo đầu tư chương trình khu xử lý chất thải rắn Đa
Phước, tương ứng với một tấn chất thải rắn sinh hoạt lưu lượng khí tạo ra là 266 m 3,
trong đó chủ yếu là khí CH4. Khí CH4có khả năng tác động ảnh hưởng đến tầng
ôzôn cao gấp 21 lần so với CO2. Việc giảm chôn lấp chất thải rắn có thể phân hủy
kéo theo việc giảm lượng khí làm ảnh hưởng đến tầng ôzôn.
Việc tận dụng các chất thải rắn có thể tái sinh tái chế giúp bảo tồn nguồn
Ở châu Âu, nhiều quốc gia đã thực hiện quản lý chất thải thông qua phân loại
tại nguồn và xử lý tốt, đạt hiệu quả cao về kinh tế và môi trường. Tại các quốc gia
như Đan Mạch, Anh, Hà Lan, Đức... việc quản lý chất thải rắn được thực hiện rất
chặt chẽ, công tác phân loại và thu gom rác đã thành nền nếp và người dân chấp
hành rất nghiêm quy định này.
Các loại rác thải có thể tái chế được như giấy loại, chai lọ thủy tinh, vỏ đồ
hộp... được thu gom vào các thùng chứa riêng. Đặc biệt, rác thải nhà bếp có thành
phần hữu cơ dễ phân hủy được yêu cầu phân loại riêng đựng vào các túi có màu sắc
theo đúng quy định thu gom hàng ngày để đưa đến nhà máy sản xuất phân compost.
Đối với các loại rác bao bì có thể tái chế, người dân mang đến thùng rác đặt cố định
trong khu dân cư, hoặc có thể gọi điện để bộ phận chuyên trách mang đi nhưng phải
thanh toán phí thông qua việc mua tem dán vào các túi rác này theo trọng lượng.
Đối với chất thải công nghiệp, các công ty đều phải tuân thủ quy định phân loại
riêng từng loại chất thải trong sản xuất và chất thải sinh hoạt của nhà máy để thu
gom và xử lý riêng biệt. Với các sản phẩm sau khi sử dụng sinh ra nhiều rác, chính
quyền yêu cầu các công ty ngay từ giai đoạn thiết kế xây dựng phải dự kiến nơi
chứa các sản phẩm thải loại của mình hoặc trong giá bán sản phẩm đã phải tính đến
chi phí thu gom và xử lý lượng rác thải.
b. Kinh nghiệm của Nhật Bản:
Nhật Bản là một trong những quốc gia đi đầu trong việc phân loại rác thải tại
nguồn trên thế giới hiện nay. Và việc thực hiện phân loại rác tại nguồn đã được tiến
hành ở nhiều thành phố của Nhật bản tiêu biểu như thành phố Bunkyo, thành phố
Usudachou ở quận Ngano, thành phố Toyoake ở quận Aichi,… và đã đạt được
những thành công nhất định.
Hệ thống phân loại rác tại nguồn chủ yếu được chia thành 3 mô hình:
- Mô hình thu gom theo nhóm: là việc thực hiện mô hình theo nhóm dân cư,
khu vực dân cư. Hình thức này các hộ sẽ phân loại rác tại các hộ gia đình vào các
vật chứa (túi nilon, túi giấy, rỏ nhựa, thùng rác,…). Mỗi thành phố, mỗi khu vực sẽ
SV: Nguyễn Quốc Hưng
CQ531769
sẵn cho khoảng 10-20 hộ gia đình. Các loại thải khác nhau. Thông thường người
dân không thể đổ một loại rác vào ngày đã được quy định dành cho việc thu gom
loại rác khác. Chính quyền thành phố có thong báo tới người dân và yêu cầu người
dân phải tuân thủ quy tắc đó.
- Không thu gom các loại rác thải không tuân thủ đúng quy định. Rất nhiều
thành phố sẽ không thu gom rác thải mà việc thải bỏ chúng không tuân thủ đúng
quy định. Trong trường hợp này, rác thải đó sẽ không dược thu gom và sẽ bị bỏ lại
cùng với một tờ cảnh báo được đánh trên thùng chứa.
- Hướng dẫn để người dân có thể thực hiện việc phân loại rác một cách đúng
đắn. Khi người dân thực hiện không đúng các quy định này, nhân viên của chính
SV: Nguyễn Quốc Hưng
CQ531769
11
MSV:
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Ngô Thanh Mai
quyền thành phố bằng một chiếc xe chuyên dụng sẽ tới tận nhà của người này để
cảnh báo về hành động đó.
Chính bằng phương pháp này, Nhật Bản đã thực hiện thành công dụ án 3R đã
đạt được hiệu quả kinh tế, tài chính, xã hội và môi trường.
c. Kinh nghiệm của Thái Lan:
Thái lan cũng thực hiện phân loại rác tại nguồn. Rác thải được chia thành 3
loại và bỏ vào 3 thùng riêng biệt. Những chất có thể tái sinh, thực phẩm và các chất
độc hại.
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Ngô Thanh Mai
số trường học và vài quận trung tâm, để tách ra một số loại bao bì dễ tái chế, lượng
rác còn lại vẫn đang phải chôn lấp, tuy nhiên được ép chặt để giảm thể tích và quấn
nilon rất kỹ xung quanh mỗi khối rác để giảm bớt ô nhiễm.
e. Kinh nghiệm của Việt Nam
Dự báo tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị đến năm 2020 khoảng gần 22
triệu tấn/năm. Tỷ lệ phần trăm các chất có trong rác thải không ổn định, biến động,
phụ thuộc vào mức sống và phong cách tiêu dùng của nhân dân ở mỗi đô thị. Tính
trung bình, tỷ lệ thành phần các chất hữu cơ chiếm 45% - 60% tổng lượng chất thải
rắn; tỷ lệ thành phần nilông, chất dẻo chiếm từ 6 - 16%, độ ẩm trung bình của rác
thải từ 46 % - 52%. Để quản lý tốt nguồn chất thải này, đòi hỏi các cơ quan hữu
quan cần đặc biệt quan tâm hơn nữa đến các khâu giảm thiểu tại nguồn, tăng cường
tái chế, tái sử dụng, đầu tư công nghệ xử lý, tiêu hủy thích hợp góp phần giảm thiểu
ô nhiễm môi trường. Theo các chuyên gia MT, nếu thực hiện phân loại rác tại
nguồn ( chỉ có rác vô cơ mới phải đưa đi chôn lấp) thì sẽ giảm ít nhất 50% khối
lượng và các vấn đề MT cũng giảm nhiều.Ở Hà Nội, chương trình thí điểm phân
loại rác tại nguồn đã được triển khai tại phường Phan Chu Trinh từ năm 2002.
Các hộ gia đình được hướng dẫn cách phân loại rác thành 2 túi, một loại có thể
làm phân compost, loại còn lại được phát túi nilon 2 màu để phân loại rác tại
nhà. Tuy nhiên hiệu quả của Dự án chưa cao, khi Dự án kết thúc thì quá trình
phân loại rác cũng kết thúc.
Trung tuần tháng 2/2007, Công ty MT đô thị Hà Nội và cơ quan hợp tác phát
triển Nhật Bản (JICA) đã tổ chức hội nghị " Sáng lập các ngôi sao 3R Hà
Nội" nhằm liên kết thiết lập mạng lưới các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh
vực MT. Đây là một phần của Dự án tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu rác thải tại 4
quận nội thành Hà Nội, được gọi là Dự án 3R.
GVHD: Th.S Ngô Thanh Mai
rác dân lập và lực lượng thu gom “ve chai”.
- Thiếu cơ sở hạ tầng thu gom, vận chuyển, tái chế và xử lý.
- Mặt bằng dân trí cần phải được nâng cao và đồng bộ hơn để đáp ứng được
nhu cầu thực tế. Riêng vấn đề này cần được đánh giá kỹ hơn và khoa học hơn.
- Trong các chương trình thí điểm, toàn bộ túi ni lông và thùng đựng chất thải
rắn sau khi phân loại đều do ngân sách thành phố hoặc dự án chi trả, nên sau khi
chương trình thí điểm kết thúc, ngân sách thành phố rất khó bù đắp được (ước tính
hàng trăm tỷ đồng mỗi năm).
Ở các nước đã áp dụng thành công chương trình phân loại chất thải rắn tại
nguồn đều có đặc điểm:
- Chương trình phân loại chất thải rắn tại nguồn được xây dựng chung và thực
hiện đồng bộ từ chính phủ trung ương đến các tỉnh thành địa phương trong sự kết
hợp đồng bộ giữa các cơ quan hành chính quản lý nhà nước.
- Các văn bản pháp quy, chương trình, kế hoạch,… được chuẩn bị kỹ lưỡng và
đầy đủ bởi các chuyên gia có trình độ (chuyên môn và kinh nghiệm) cao.
- Có chính sách và tài chính hỗ trợ đầy đủ cả ở cấp Trung ương và địa phương.
- Người dân có ý thức, trình độ dân trí cao và hợp tác tốt với các cơ quan hành
chính nhà nước do đối thoại minh bạch.
- Các tổ chức phi chính phủ (NGO) và xã hội hoạt động mạnh và đồng bộ.
- Các công ty cung cấp dịch vụ tốt và bình đẳng.
- Đội ngũ lãnh đạo và quản lý đô thị giỏi.
- Chi phí cho chương trình phân loại chất thải rắn tại các hộ gia đình đều do
chủ nguồn thải chi trả qua tiền bán túi ni lông (trong suốt) đựng chất thải rắn đã
phân loại hoặc phí vệ sinh với nhiều phương pháp tính khác nhau.
Do đó sự thành công của việc phân loại rác thải tại nguồn để sử dụng lại, tái
chế rác thải là kết quả của 3 yếu tố gắn bó hữu cơ với nhau:
- Sự tham gia của cộng đồng
nhất và không thể thiếu được trong các trường học phổ thông.
- Sự đầu tư thoả đáng của nhà nước và xã hội vào các cơ sở tái chế rác thải để
đủ năng lực tiếp nhận, tiếp tục phân loại và tái chế lượng rác đã được phân loại sơ
bộ tại nguồn . Như vậy,trình độ phát triển về kinh tế - xã hội, sự giác ngộ và nhận
thức của cộng đồng, sự đầu tư cơ sở vật chất đạt ngưỡng cần thiết để thực hiện xử
lý, tái chế phần lớn lượng rác thải ra hàng ngày có vai trò rất quan trọng.
- Xây dựng một đội ngũ cán bộ có trình độ, có nhiệt tâm tình nguyện khuyến
cáo, vận động cộng đồng thu gom, phân loại rác thải tại nguồn.
Ở CHLB Đức, tất cả các Bang, các khu đô thị, dân cư đều có các cơ quan,
công ty khuyến cáo tuyên truyền cho chương trình bảo vệ môi trường sống nói
chung và đặc biệt là vấn đề thu gom, phân loại và xử lý rác thải sinh hoạt nói
riêng. Họ xây dựng những tài liệu, tư liệu giảng bài cho cộng đồng bằng nhiều
hình thức:
• Sáng tạo ra những thùng phân tách rác với những màu sắc, ký hiệu rõ rệt,
đẹp, hấp dẫn, dễ phân biệt; các loại rác được tách ra theo các sơ đồ, hình ảnh dây
chuyền rất dễ hiểu, dễ làm theo, từ phân loại rác thải giấy, thủy tinh, kim loại, chất
dẻo nhân tạo, vải và đặc biệt là rác thải hữu cơ; hoạt động tuyên truyền, khuyến cáo
SV: Nguyễn Quốc Hưng
CQ531769
16
MSV:
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Ngô Thanh Mai
còn được thể hiện bằng các áp phích tuyên truyền phong phú, hấp dẫn.
CQ531769
17
MSV:
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Ngô Thanh Mai
đấu thầu dịch vụ trên cơ sở đảm bảo và an ninh môi trường”.
- Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 của Chính phủ về phí BVMT
đối với chất thải.
- Nghị định số 04/2007/NĐ-CP ngày 18/1/2007 của Chính phủ về sửa đổi bổ
sung một số điều của nghị định số 67/2003.
- Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về phí
BVMT đối với chất thải rắn.
- Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 25/12/2006 của Bộ Tài Nguyên
và Môi trường về việc ban hành danh mục chất thải nguy hại.
1.3. Cơ sở lý luận về nhận thức của cộng đồng
1.3.1. Khái niệm về nhận thức
Theo từ điển Tiếng việt phổ thông, Viện ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Thành
phố Hồ Chí Minh, nhận thức được hiểu là: (danh từ) là quá trình và kết quả phản ánh
và tái hiện hiện thực vào trong tư duy, quá trình còn người nhận biết, hiểu biết thế
giới khách quan, hoặc kết quả của quá trình đó; (động từ) là nhận ra và biết được.
Theo sách Tâm lý học đại cương, Khoa Giáo dục học, trường Đại học Khoa
học xã hội và Nhân văn: nhờ hoạt động nhận thức mà con người phản ánh hiện thực
xung quanh ta và các hiện thực của bản thân ta, trên cơ sở đó con người tỏ thái độ,
tình cảm và hành động. Trong việc nhận thức thế giới con người có thể đạt tới mức
nghiệm khoa học, loại tri thức này quan trọng ở chỗ đây là cơ sở để hình thành nhận
thức khoa học và lý luận.
Hai loại tri thức này có quan hệ chặt chẽ với nhau, xâm nhập vào nhau để tạo
nên tính phong phú, sinh động của nhận thức kinh nghiệm.
Nhận thức lý luận (gọi tắt là lý luận) là loại nhận thức gián tiếp, trừu tượng
và khái quát về bản chất và quy luật của các sự vật, hiện tượng. Nhận thức lý luận
có tính gián tiếp vì nó được hình thành và phát triển trên cơ sở của nhận thức kinh
nghiệm. Nhận thức lý luận có tính trừu tượng và khái quát vì nó chỉ tập trung phản
ánh cái bản chất mang tính quy luật của sự vật và hiện tượng. Do đó, tri thức lý luận
thể hiện chân lý sâu sắc hơn, chính xác hơn và có hệ thống hơn.
•
Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận là hai giai đoạn nhận thức khác
nhau, có quan hệ biện chứng với nhau. Trong đó nhận thức kinh nghiệm là cơ sở
của nhận thức lý luận. Nó cung cấp cho nhận thức lý luận những tư liệu phong phú,
cụ thể. Vì nó gắn chặt với thực tiễn nên tạo thành cơ sở hiện thực để kiểm tra, sửa
chữa, bổ sung cho lý luận và cung cấp tư liệu để tổng kết thành lý luận. Ngược lại,
mặc dù được hình thành từ tổng kết kinh nghiệm, nhận thức lý luận không xuất hiện
một cách tự phát từ kinh nghiệm. Do tính độc lập tương đối của nó, lý luận có thể đi
trước những sự kiện kinh nghiệm, hướng dẫn sự hình thành tri thức kinh nghiệm có
giá trị, lựa chọn kinh nghiệm hợp lý để phục vụ cho hoạt động thực tiễn. Thông qua
đó mà nâng những tri thức kinh nghiệm từ chỗ là cái cụ thể, riêng lẻ, đơn nhất trở
thành cái khái quát, phổ biến.
Theo học thuyết của Chủ nghĩa Mác- Lê nin, nắm vững bản chất, chức năng
của từng loại nhận thức đó cũng như mối quan hệ biện chứng giữa chúng có ý nghĩa
phương pháp luận quan trọng trọng việc đấu tranh khắc phục bệnh kinh nghiệm chủ
nghĩa và bệnh giáo điều.
1.3.2.2. Dựa vào tính tự phát hay tự giác của sự xâm nhập vào bản chất của sự vật
Nhận thức thông thường (hay nhận thức tiền khoa học) là loại nhận thức
Hai loại nhận thức này cũng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Nhận thức
thông thường có trước nhận thức khoa học và là nguồn chất liệu để xây dựng nội
dung của các khoa học. Ngược lại, khi đạt tới trình độ nhận thức khoa học thì nó lại
tác động trở lại nhận thức thông thường, xâm nhập và làm cho nhận thức thông
thường phát triển, tăng cường nội dung khoa học cho quá trình nhận thức thế giới
của con người.
1.4. Kết luận
Phần I đã đưa ra được khái niệm về rác thải và rác thải sinh hoạt, ảnh hưởng
của nó đối với môi trường xung quanh và sức khỏe con người. Từ đó đưa ra khái
niệm về phân loại rác thải tại nguồn và lợi ích của nó đối với kinh tế, môi trường và
xã hội, để từ đó có thể hiểu được tầm quan trọng của việc phân loại rác thải sinh
hoạt tại nguồn. Đưa ra kinh nghiệm của các nước cũng như Việt Nam trong việc
phân loại rác thải tại nguồn từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm về việc phân
loại. Bên cạnh đó, phần I đã đưa ra được những quy định của pháp luật về phân loại
rác thải tại nguồn. Đưa ra được cơ sở về nhận thức của con người. Từ những cơ sở
lý thuyết đó, chúng ta mới có thể hiểu rõ và phân tích đúng được các vấn đề liên
quan, đó chính là đánh giá về nhận thức của người dân về phân loại rác thải sinh
hoạt tại nguồn.
SV: Nguyễn Quốc Hưng
CQ531769
20
MSV:
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Ngô Thanh Mai
tinh thần của nhân dân các dân tộc được cải thiện, công tác xóa đói, giảm nghèo,
các vấn đề xã hội bức xúc được quan tâm tập trung giải quyết; quốc phòng - an ninh
đảm bảo, quan hệ hợp tác quốc tế không ngừng được củng cố, tăng cường, mở rộng
và phát triển.
SV: Nguyễn Quốc Hưng
CQ531769
21
MSV:
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Ngô Thanh Mai
Dân số có 1.160.000 người, trong đó tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động là
721,82 nghìn người, chiếm 62,7% tổng dân số, số lao động đã qua đào tạo là 227,37
nghìn lao động, số lao động phổ thông là 421,63 nghìn lao động. Lực lượng lao
động trẻ, dồi dào và được tỉnh Sơn La chú trọng đào tạo về cơ bản đáp ứng được
nhu cầu sử dụng lao động trong các lĩnh vực sản xuất, chế biến, nông, lâm, ngư
nghiệp...
2.2. Hiện trạng phát sinh rác thải sinh hoạt ở Thành phố Sơn La
Hiện nay, số dân sống ở khu vực thành phố ước tính khoảng 95.000 người, và
trung bình mỗi người, mỗi ngày thải ra môi trường 0,75 kg rác thải sinh hoạt, như
vậy tổng lượng rác thải sinh hoạt sẽ là 71.250 kg. Số rác này mới được thu gom, xử
lý bằng cách chôn lấp ở các bãi rác khoảng 50-60%, số còn lại được thải vào môi
trường tự nhiên.
Thành phần rác thải sinh hoạt hiện nay trong thành phố rất đa dạng, chủ yếu là
chất hữu cơ dễ phân hủy, bên cạnh đó có thêm chất thải vô cơ.
5
Túi nilon, cao su, nhựa, da
4-7
6
Lông gà, long vịt
0-8
7
Giấy, bìa, vải vụn
0-3
8
Gỗ vụn
3-8
9
Thủy tinh
0-1