§¹i häc quèc gia Hµ Néi
Trêng §¹i häc khoa häc x héi vµ nh©n v¨n·
Khoa T©m lý häc
- - - - - - - - - - - - - - -
Báo cáo thực tập
Nhận thức của người dân về hiện tượng bạo
hành đối với phụ nữ trong gia đình
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Ngọc Diệp
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Tuyết
Lớp : K49- Tâm lý học
Hà Nội - 2008
PHẦN 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1. Lý do chọn đề tài:
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường bên cạnh những yếu
tố tích cực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, đời sống vật chất cũng như tinh
thần của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, các nhu cầu của cá nhân dần
được đáp ứng đầy đủ thì cũng kéo theo sự xuất hiện những mặt tác động tiêu
cực đến đời sống. Đặc biệt xuất hiện nhiều hiện tượng tâm lý xã hội mới tiêu
cực như : Những vấn đề nảy sinh trong tình yêu hôn nhân, nạn bạo hành gia
đình, tình trạng xâm hại phụ nữ, trẻ em
Những vấn đề trăn trở trên là những vấn đề không của riêng ai chúng ta
cần nhận diện được nó và cần tìm ra biện pháp hạn chế ngăn chặn.
Do vậy, để nhận diện chính xác và từng bước cải thiện tình trạng này
thì mỗi người dân, đặc biệt là người phụ nữ phải nhận thức đúng đắn về vấn
đề bạo hành đối với phụ nữ trong gia đình, để tìm hiểu, đánh giá về vấn đề
này, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: " Tìm hiểu nhận thức của người
dân về hiện tượng bạo hành đối với phụ nữ trong gia đình".
2. Đối tượng nghiên cứu:
Nhận thức của người dân về hiện tượng bạo hành đối với phụ nữ trong
gia đình.
- Tìm hiểu một số văn bản pháp luật nói về quyền của phụ nữ được bảo
vệ trước những hành vi bạo hành trong gia đình.
* Từ cơ sở lý luận trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu thực tiễn để
tìm hiểu nhận thức của người dân về vấn đề sau:
- Nhận thức của người dân về thực trạng của hiện tượng bạo hành đối
với phụ nữ trong gia đình ( Hình thức, nguyên nhân, hậu quả, giải pháp
ngăn chặn)
- Những cảm xúc và phản ứng của người phụ nữ bị bạo hành.
- Nhận thức của người dân về mối quan hệ vợ chồng trong gia đình
Nguyễn Thị Tuyết - Lớp K49- Tâm lý học
3
ngày nay.
- Nhận thức của người dân về đối tượng có nguy cơ thực hiện hành vi
bạo hành đối với phụ nữ trong gia đình.
Từ những đánh giá thu được tôi đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng
cao nhận thức của người dân, để từ đó có biện pháp hạn chế những hành vi
bạo hành đối với phụ nữ trong gia đình.
7. Giả thuyết nghiên cứu
- Phần lớn người dân nhận thức chưa đầy đủ về các hình thức bạo
hành đối với phụ nữ trong gia đình hiện nay.
- Người dân chưa quan tâm đến giải pháp ngăn chặn bạo hành đối với
phụ nữ trong gia đình.
8. Phương pháp nghiên cứu
Việc sử dụng phương pháp này giúp chúng tôi xây dựng cơ sở lý luận
cho đề tài. Xác định được khái niệm công cụ và những khái niệm liên quan.
Đồng thời chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm mục đích tham khảo
những kết quả điều tra có liên quan đến chủ thể nghiên cứu.
Phương pháp này giúp chúng tôi chỉ ra được đặc điểm tâm lý của khách
thể nghiên cứu.
Nguyễn Thị Tuyết - Lớp K49- Tâm lý học
5
thủ đô, thanh niên, phụ nữ, tiền phong
" Bạo hành là vấn đề tư vấn bạo hành " đang được nhiều người đề cập.
Chúng tôi hy vọng rằng với nội dung nghiên cứu về " Nhận thức của người
dân về hiện tượng bạo hành đối với phụ nữ trong gia đình " sẽ góp phần cho
việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về vấn đề nay, từ đó có
những phản ứng và giải pháp hạn chế, ngăn chặn hiện tượng này.
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài.
1.2.1 Khái niệm nhận thức
Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người
( Nhận thức, tình cẩm, hành động). Nhận thức là tiền đề của tình cảm và
hành động, đồng thời có quan hệ chặt chẽ với chúng và các hiện tượng tâm lý
khác.
Con người có thể đạt tới những mức độ nhận thức khác nhau: Mức độ
thấp là nhận thức cảm tính bao gồm cả cảm giác và tri giác, mức độ cao là
nhận thức lý tính bao gồm tư duy và tưởng tượng. Nhận thức cảm tính và
nhận thức lý tính có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, chi phối
lẫn nhau trong cùng một hoạt động thống nhất của con người.
Nhận thức cảm tính: ( giai đoạn nhận thức cấp thấp ) ở giai doạn này
con người chỉ phản ánh được các thuộc tính bên ngoài, trực quan cụ thể của
sự vật hiện tượng; phản ánh những mối liên hệ về không gian, thời gian và
trạng thái hoạt động của sự vật hiện tượng khi nó đang trực tiếp tác động vào
giác quan của con người.
Nhận thức lý tính: ( Giai đoạn nhận thức cấp cao) ở mức độ nhận thức
này con người có thể phản ánh được các mối quan hệ có tính chất quy luật,
các thuộc tính bản chất bên trong của sự vật hiện tượng khi chúng không còn
tác động trực tiếp vào con người.
Lênin đã vạch rõ quy luật chung nhất của hoạt động nhận thức là : " Từ
trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực
Nguyễn Thị Tuyết - Lớp K49- Tâm lý học
7
Theo Hoàng Phê : Gia đình - tập hợp những người cùng sống chung
thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn
nhân và dòng máu, thường gồm có vợ, chồng, con cái ( 12).
Lốc Khơ: "Gia đình là một nhóm người liên kết với nhau bởi các quan
hệ hôn nhân máu mủ, hay bằng nhận con nuôi, tạo thành một hệ thống riêng
biệt, tác động qua lại và giao tiếp lẫn nhau qua các vai trò xã hội của từng
người là chồng, là vợ, là bố mẹ, là con cái, là anh em tạo nên một nền
văn hoá chung " ( 18).
Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện viết : " Gia đình là một tập hợp những
người có cùng huyết thống sống chung trong một mái nhà chủ yếu gồm cha
mẹ và con cái" ( 18).
Tóm lại : có nhiều cách định nghĩa về gia đình theo nhiều cách khác
nhau và hướng tiếp cận khác nhau, ở báo cáo thực tập này tôi sử dụng định
nghĩa về gia đình theo cách tiếp cận của tâm lý học tức là nhấn mạnh đến mối
quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, vai trò của gia đình đối với đời
sống tinh thần của mỗi thành viên - gia đình là một tổ ấm, là mối quan hệ
bền chặt liên kết các thành viên bằng tình yêu thương và trách nhiệm, đảm
bảo cho mọi thành viên có cuộc sống an toàn, hạnh phúc trong gia đình của
mình.
1.2.3 Khái niệm bạo hành
Qua nhiều nghiên cứu vệ bạo hành gia đình đối với phụ nữ được tiến
hành ở nhiều nước trên thế giới và ở Việt Nam, cho chúng ta thấy rằng nạn
bạo hành gia đình là một vấn đề cần được Nhà nước và các cơ quan pháp luật
ngăn chặn và có những giải pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ người phụ nữ trước
những người đàn ông, những người chồng có hành vi bạo lực, ngược đãi. Để
giải quyết được vấn đề này, trước hết chúng ta cần hiểu rõ bản chất của hiện
tượng bạo hành đối với phụ nữ trong gia đình ( Hình thức, nguyên nhân, hậu
quả).
Nguyễn Thị Tuyết - Lớp K49- Tâm lý học
9
rằng sẽ diết hại, so sánh với vật nuôi, đạp phá đồ vật quý giá của nạn nhân
để họ đau đớn về mặt tinh thần. Rất nhiều phụ nữ phải sống trong tình trạng
thường xuyên bị xúc phạm khiến họ ngộ nhận, bị mất đi niềm tin vào chính
bản thân mình, buộc họ phải tin rằng họ bị hành hạ như thế là đúng. Điều này
đã đẩy phụ nữ vào cuộc sống đau khổ hoặc tự tìm đến cái chết.
*Cưỡng bức về mặt xã hội: Bao gồm việc cắt đứt quan hệ xã hội giữa
người phụ nữ với những người thân, bạn bè, đe doạ người phụ nữ cùng gia
đình và bạn bè của họ. Cũng có trường hợp người đàn ông buộc người phụ nữ
phải cách ly với môi trường bên ngoài bằng cách nhốt trong nhà, cắt điện
thoại, không đi làm, kiểm soát mọi hành động của người vợ( đi đâu phải báo
cáo, bóc thư riêng để xem, lục soát người, phòng riêng, vali dù nạn nhân
không đồng ý).
* Cưỡng bức về tài chính: Người đàn ông nắm quyền kiểm soát hoàn
toàn những vấn đề về tài chính. Người phụ nữ không được phép tự tìm kiếm
việc làm. Người đàn ông chỉ cung cấp cho người phụ nữ một khoản tiền rất
nhỏ so với số tiền cần thiết để đảm bảo các nhu cầu thiết yếu của đời sống gia
đình. Việc kiểm soát về tài chính còn đồng nghĩa với việc không đảm bảo các
nhu cầu thiết yếu của con người.
Thời gian gần đây việc trút mọi công việc như kiếm sông đến nội trợ,
chăm sóc gia đình con cái đã ghánh nặng lên người phụ nữ và đây cũng là
một dạng của bạo lực gia đình không hoặc (chưa tìm ) nhìn thấy được.
Các hình thức biểu hiện của hiện tượng bạo hànhđối với phụ nữ
trong gia đình
Các hình thức bạo hành đối với phụ nữ được hiểu rất đa dạng và phức
tạp nhưng tôi có thể phân chia thành 3 hình thức biểu hiện ; bạo hành về thể
chất, bạo hành về tinh thần và bạo hành về tình dục.
*Bạo hành thể chất: là những hành vi bạo hành mà người gây ra bạo
hành thường sử dụng sức mạnh cơ bắp ( tay, chân) hoặc kèm theo công cụ
Nguyễn Thị Tuyết - Lớp K49- Tâm lý học
11
dụ như doạ lấy vợ khác, doạ bỏ đi, doạ tự tử
+ Lạm dụng về kinh tế và quyền lực của người đàn ông: là biểu hiện sự
buộc vợ phải phụ thuộc vào mình về tài chính hoặc để vợ lo toan kinh tế một
cách thái quá ( ỉ lại vợ), luôn cố gắng tìm mọi cách để vợ lao động quá sức,
kiểm soát tài chính không cho vợ tham gia vào những quyết định liên quan
đến tài chính, luôn đẩy vợ vào tình thế phải "xin tiền", yêu cầu vợ phải đưa
ra nhưng khoản tiền đã dùng, hoặc để vợ làm những việc không mang tính
hiện thực trong khi chỉ có một khoản tiền ít ỏi Đôi khi vì điều đó mà người
đàn ông đã lạm dụng quyền lực của mình. tự mình quyết việc quan trọng,
hành động như thể một ông chủ của gia đình, cư xử với vợ như người hầu,
bắt vợ làm theo ý kiến của mình, không đếm xỉa đến quyền của vợ.
+ Làm nhục, cô lập vợ: Như chế ngạo thân thể người phụ nữ, cách ăn
mặc, khả năng làm mẹ, trí óc và chănm sóc gia đình, bảo vợ là ngu đần, dơ
hơi, không có ích, vô tác dụng, có những lời nhận xét không hay về vợ tại
công ty hay cơ quan của mình và những lời khó chịu tại nơi công cộng
Những điều này làm cho người phụ nữ cảm thấy mình bị mất tự trọng, mình
chỉ là người thừa đối với chồng điều này dẫn đến hành vi cô lập vợ, không
cho vợ tiếp xúc, giao lưu với bạn bè, người thân, cảm thấy khó chụi khi bạn
bè của vợ đến nhà thăm hỏi, luôn giám sát vợ đi đâu, nói chuyện với ai hạn
chế vợ có thời gian riêng cho mình. Khiến người phụ nữ cảm thấy mất tự do,
bị cô lập, họ cảm thấy cô đơn không được chia sẻ những vương mắc khó
khăn trong cuộc sống.
+ Chồng không chung thuỷ: chồng đi cặp bồ hoặc lấy vợ bé, khiến
người phụ nữ phải sống trong chua xót, buồn tủi thường là khi không chung
thủy khi về nhà hay đánh đập, chửi mắng vợ con. nhiều phụ nữ chịu quá
nhiều uất ức đi đến ly hôn thậm trí đã tự tử.
* Bạo hành tình dục:
Là sự cưỡng bức, ép buộc người phụ nữ phải làm những việc liên quan
Nguyễn Thị Tuyết - Lớp K49- Tâm lý học
13
những hành vi lệch lạc. Những nghiên cứu về thanh niên phạm pháp cho thấy
phần lớn các em đều có hoàn cảnh gia đình không hoà thuận người phụ nữ
trong gia đình có bạo hành. Vì nhiều lý do mà họ phải âm thầm chịu thì nỗi
cay đắng lặng lẽ đó còn đi theo suốt cuộc đời họ.
1.3 Quyền của người phụ nữ được bảo vệ trước những hành vi bạo
hành gia đình qua các văn bản pháp luật.
Khi bàn đến vấn đề bạo hành chống lại phụ nữ thì dường như phần lớn
các chính phủ, cá quốc gia đều coi là vấn đề riêng của mỗi gia đình, giữa các
cá nhân với nhau. Chính vì vậy mà tình trạng bạo hành gia đình cũng không
ngừng tăng lên qua các báo cáo của toà án nhân dân, Hội liên hiệp phụ nữ
Những văn bản Pháp lý quốc tế:
Để có cái nhìn bản chất vào thực trạng của nạn bạo hành đang diễn ra ở
hầu hết các quốc gia, nhiều diễn đàn quốc tế được tổ chức mà nội dung của
diễn đàn đã đi sâu vào vấn đề bạo hành gia đình. Từ đó chính phủ của các
nước đã nhìn nhận như một sự vi phạm không thể chấp nhận được đối với
nhân phẩm con người, vi phạm công ước quốc tế về xoá bỏ mọi phân biệt đối
xử với phụ nữ.
Theo tuyên ngôn về loại trừ nạn bạo lực chống lại phụ nữ do đại hội
đồng liên hợp quốc thông qua năm 1993 có đoạn đã dề cập đến “bất kỳ một
hành động bạo lực nào dựa trên cơ sở giới nào dẫn đến, hoặc có khả năng
dẫn đến, những tổn thất về thân thể, về tình dục hay những đau khổ của phụ
nữ, bao gồm cả sự đe doạ có những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay
tước đoạt một cách tuỳ tiện sự tự do, dù nó xảy ra ở nơi công cộng hay trong
cuộc sống riêng tư”.
Tuyên bố Jakarta về sự tiến bộ của phụ nữ châu á và thái bình dương
tháng 6.1994 cũng nêu: “phải xoá bỏ bạo lực chống phụ nữ trong gia đình,
xã hội và tình hình xung đột để phụ nữ được hưởng quyền lợi như các cá
nhân và thành viên của gia đình, xã hội, nhà nước và cộng đồng quốc tế”.
Nguyễn Thị Tuyết - Lớp K49- Tâm lý học
15
của các quốc gia tham gia thực hiện công ước nhằm xoá bỏ mọi hình thức
phân biệt đối xử với phụ nữ, đảm bảo mọi phụ nữ được hưởng quyền của
mình như nam giới, phát huy tối đa năng lực của phụ nữ trong xã hội, tiến
tới một xã hội công băng văn minh.
Những văn bản pháp luật Việt nam
Ở Việt nam các quyền của phụ nữ được pháp luật quy định và được tôn
trọng. Trên thực tế, ngay từ bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân
chủ cộng hoà 1946. Điều 9 Hiến pháp 1946 quy định “ Đàn bà ngang quyền
với đàn ông về mọi phương diện”. Tuy nhiên phải đến hiến pháp năm 1980,
1992 quyền này mới được đề cập một cách cụ thể hơn. Hiến pháp năm 1992,
điều 63 quy định “ Công dân nữ và nam có quyền ngang bằng nhau về mọi
mặt chính trị, kinh tế, xã hội và gia đình ”.
Bộ luật lao động hiện hành của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam có riêng một chương X về lao động nữ. Kèm theo bộ luật còn có nghị
định, thông tư, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của bộ
luật Lao động về những quy định riêng đối với lao động nữ.
Trong bộ luật dân sự, các quyền của con người được thể hiện rõ ràng,
đầy đủ. Trong đó có quyền bất khả xâm phạm thân thể của công dân. Điều 32
có ghi “ Quyền được bảo đảm an toàn về tình trạng, sức khoẻ, thân thể ”
Bộ luật hình sự quy định một số biện pháp chế tài áp dụng đối với
những kẻ có hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm và thân thể người
phụ nữ. Điều 121 quy định “ Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm,
danh dự của người khác, thì bị phát cảnh cáo, cải tạo không giam giữ. đến 2
năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm” Điều 100 quy định “ Người nào đối
xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc
mình làm người đó tự sát, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm”.
Luật hôn nhân và gia đình được coi là văn bản có quy định rõ nhất về
quyền của phụ nữ được bảo vệ trước các hành vi bạo hành gia đình. Luật hôn
Nguyễn Thị Tuyết - Lớp K49- Tâm lý học
Từ năm 2000 trở lại đây được sự quan tâm của Nhà nước đối với các
huyện miền núi chương trình 135, chương trình 137 đặc biệt quan tâm đã
giúp phần nào đời sống của người dân ở thị trấn được nâng lên.
* Một số nét chính trong hoạt động của Hội LHPN thị trấn Than
Uyên.
Theo báo cáo của chị chủ tich hội phụ nữ về phong trào hoạt động của
hội phụ nữ trong những năm qua :
- Trong những năm qua, thực hiện 6 chương trình công tác trọng tâm
của hội, chị em phụ nữ đặc biệt chú trọng đến chương trình 2. Đó là chương
trình tạo việc làm, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo, đặc biệt là giúp phụ
nữ nghèo thoát nghèo được 6 chị có hoàn cảnh gia đình khó khăn bằng hình
thức cho vay không lãi, hoặc vay lãi xuất thấp để phát triển kinh tế gia đình.
Từ năm 2005 thị trấn đã cùng với các cấp các ngành phát động hội viên
thực hiện tốt việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình trong 2
năm trở lại đây tình trạng sinh con thứ 3 đã giảm. Tình trạng bỏ học ở các
cháu cấp 2 và cấp 3 không còn nữa. chị em phụ nữ không những năng động
sáng tạo trong cách nghĩ, cách làm để phát triển kinh tế gia đình, cùng chồng
nuôi dạy con cái và xây dựng gia đình hạnh phúc.
Bên cạnh những mặt đạt được. Do cơ chế thị trường tác động cũng
phần nào làm ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình của hội viên. Công việc gia
Nguyễn Thị Tuyết - Lớp K49- Tâm lý học
18
đình chiếm phần nhiều khiến nhiều chị em phải vất vả bươn trải để lo cho gia
đình, lo cho con cái ăn học.Việc tham gia công tác xã hội một số ít chị
không muốn tham gia, những chị ít này thường là những gia đình không hạnh
phúc. Người chồng luôn gia trưởng, không chia sẻ công việc gia đình cùng
vợ, không cho vợ tham gia các hoạt động xã hội, thường xuyên bị người
chồng đánh đập, chửi mắng, thậm trí lăng nhục trước những nơi đông người
làm cho người vợ xấu hổ.
Trước những thực trạng trên tuy không nhiều, Hội phụ nữ khu, Hội
phụ nữ trong gia đình là một hành vi mà người chồng hoặc những người khác
trong gia đình sử dụng để cư xử với người phụ nữ ví dụ như: đánh mắng,
chửi, xỉ nhục ”
Qua đây chúng ta nhận thấy cách hiểu hiện tượng bạo hành đối với phụ
nữ trong gia đình của những người đã lập gia đình và những thanh niên chưa
có gia đình không có gì khác biệt. Tuy nhiên phần lớn số còn lại chỉ kể ra
những hành vi cụ thể như: đánh đập, chửi mắng, lăng mạ, xúc phạm Bên
cạnh đó vẫn còn một số người không trả lời trực tiếp nội dung của câu hỏi mà
lại tỏ thái độ bất bình như: “Đây là một việc rất đáng bị phê phán, không thể
chấp nhận được trong xã hội ta, nếu không muốn nói rằng đây là hành vi vi
phạm pháp luật”.
nhìn chung đa phần người dân hiểu biết về hiện tượng bạo hành trong
gia đình đối với phụ nữ và liệt kê ra được các hình thức bạo hành. Trong đó
mới tập trung chủ yếu hai hình thức bạo hành thể chất và bạo hành tinh thần.
Các hành vi được liệt kê theo nhóm như: Bạo hành thể chất có các biểu hiện
như: đánh đập, hành hung, đuổi vợ ra khỏ nhà, cấm vợ ăn mặc đẹp, túm
tóc, xô đẩy, gây ra thương tích cho phụ nữ Bạo hành tinh thần gồm: chửi
măng, ép buộc, áp đặt, lăng mạ, không cho vợ giao lưu với xã hội, uy hiếp
tinh thần, sỉ nhục riêng các hình thức bạo hành tình dục không được người
dân kể cụ thể mà nêu một cách chung chung như là: “ép buộc vợ, bắt vợ làm
Nguyễn Thị Tuyết - Lớp K49- Tâm lý học
20
những điều không vợ không muốn ” có lẽ đây là một vấn đề tế nhị nên người
dân ngại nói ra. Để tìm hiểu rõ hơn nhận thức của người dân về hiện tượng
bạo hành đối với phụ nữ trong gia đình, tôi có đề cập đến từng hình thức bạo
hành cụ thể.
2.1.2 Hình thức bạo hành về thể chất
Như chúng ta đã biết hình thức bạo hành thể chất tập trung vào những
hành vi cụ thể như đấm đá, xô đẩy thô bạo, dùng các vật dụng khác để đánh
người phụ nữ: Cấm không cho người phụ nữ ăn, ngủ, nghỉ ngơi để biết
người phụ
nữ
5 16.7 8 26.6 2 6.7 6 20 5 16.7 4 13.3
Người khác
dùng tay xô
đẩy thô bạo
người phụ
nữ
7 23.3 5 16.7 2 6.7 5 16.7 3 10 7 23.3
Nguyễn Thị Tuyết - Lớp K49- Tâm lý học
21
Người khác
dùng các
vật dụng
đánh người
phụ nữ
1 3.3 3 10 11
36.
7
2 6.7 3 10 10 33.3
Người khác
cấm không
cho người
phụ nữ ăn
1 3.3 2 6.7 12 36 1 3.3 1 3.3 13 40
Người khác
cấm không
cho phụ nữ
ngủ nghỉ
ngơi
giờ nhẹ nhàng với vợ con, không bao giờ chiều chuộng vợ con”, “Khi đem
đến sự cố cho anh ấy ( dù là nhỏ) anh ấy có thể đánh đập và có thể cáu gắt,
chửi bới lung tung”.
Theo lời kể của chị Hương 31 tuổi có chồng tên là T “ Có lần anh ấy
đạp chân lên cổ tôi, rồi tát tôi hôm vừa rồi anh ấy tức tôi và cầm que củi
quật vào hông tôi trong khi tôi đang cúi xuống cho lợn ăn, tôi không làm sao
thở nổi” chị còn nói “ Từ tết đến giờ đã bị mấy trận đòn đau rồi, có hôm anh
ấy khoá trái cửa đánh tôi ở trong nhà, không cho tôi khóc sợ hàng xóm nghe
thấy can ngăn”.
Phần lớn người dân cho rằng, những hành vi bạo hành thể chất thỉnh
thoảng mới xảy ra, nhưng có lẽ nói đúng hơn là nó có thể xảy ra thường
xuyên ở một số gia đình như gia đình chị Thu, gia đình chị Hương
Qua tìm hiểu nhận thức của người dân về những biểu hiện của bạo
hành về mặt thể chất, tôi nhận thấy đây là một hình thức đang diễn ra ở mức
độ thỉnh thoảng tại địa phương. Theo những lời tâm sự của một số nạn nhân
bạo hành, thì các hành vi bạo hành thể chất đối với phụ nữ phần lớn là do ông
chồng gây nên, những hình thức chủ yếu là : đấm, đá, tát, xô đẩy người
phụ nữ.
2.1.3 Hình thức bạo hành về tinh thần
Nguyễn Thị Tuyết - Lớp K49- Tâm lý học
23
Có thể nói, những hành vi bạo hành thể chất để lại những vết thương
trên cơ thể người phụ nữ và những nỗi khổ tâm trong lòng. Những hành động
“ phàm phu” như vậy đã để lại nhiều đau đớn trên thịt da người phụ nữ. Thế
mà bên cạnh đó, vẫn còn những cách ứng xử, những lời nói, những ánh mắt,
cử chỉ, điệu bộ đến “rợn người” của những ngã đàn ông nhằm vào phụ nữ
như để lợi dụng, hành hạ, uy hiếp tinh thần. Vết thương nào, nỗi đau nào
cũng mang lại cho người phụ nữ một cuộc sống tưởng chừng như “địa ngục”.
Để nhằm tìm hiểu nhận thức của người dân về các hành vi bạo hành về tinh
thần đối với phụ nữ trong gia đình với những câu hỏi đặt ra “ Theo anh chị
như : hành vi “ bảo vợ ngu đần, dở hơi, vô tác dụng” những người chọn
thỉnh thoảng có 20 người ( 66.7%), thường xuyên 8 gười chiếm ( 26.7 %),
không có 2 chiếm ( 6.6%); hành vi “ xử xự với vợ như người hầu, bắt làm
theo ý mình” thỉnh thoảng chiếm 50%, thường xuyên chiếm ( 33.3%) ;
“Cấm vợ tham gia các hoạt động xã hội” : thường xuyên chiếm ( 56.7%)
Thỉnh thoảng (33.3 %); “ Chồng cặp bồ lấy vợ bé” không có chiếm ( 50%,
thỉnh thoảng (33.3%); “ Lạnh lùng bỏ rơi không quan tâm đến vợ” thường
xuyên chiếm 56.7%, thỉnh thoảng 40%; “ Những lời nhận xét không hay về
vợ” không có chiếm 64.4%, thường xuyên 33.3%. Nhìn chung các cách ứng
xử của người chồng mang tính bạo hành tinh thần đều xảy ra nhiều ở mức độ
thỉnh thoảng, và thường xuyên vẫn chiếm tỉ lệ cao hơn so với các mức độ
không có.
Quả đúng như thực tế, cũng như kết quả thu được ở các nghiên cứu
khác ; “ hành động tự quyết định” của người đàn ông hay người chồng trong
gia đình là cách ứng xử thường thấy nhất, từ việc nhỏ đến việc lớn, có
trường hợp trong gia đình người phụ nữ không được tham gia và bàn bạc,
không được đưa ra quyết định nhưng số lượng này ít không nhiều. Trong xã
hội ngày nay có nhiều phụ nữ thành đạt, có vị trí trong xã hội. Đặc biệt là
nhận thức của người dân đã được nâng lên người phụ nữ cũng đã dần được
bình đẳng với nam giới như vậy không có nghĩa là tình trạng bạo hành về tinh
thần không còn nó vẫn còn tồn tại những biểu hiện bạo hành có phần tinh vi
hơn khiến chính những người phụ nữ họ là đối tượng của nạn bạo hành mà
không biết như phải lo kinh tế gia đình, chăm sóc con cái không có thời gian
tham gia vào công tác xã hội, không có thời gian chăm sóc sức khoẻ cho bản
Nguyễn Thị Tuyết - Lớp K49- Tâm lý học
25