Thái độ của phụ nữ trước hành vi bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình - Pdf 25


Ti-rTTrìirãã rnt
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VÃN
TRỊNH THỊ VÂN ANH
THÁI ĐỘ CỦA PHỤ Nữ TRƯỚC HÀNH VI
BẠO Lực ĐỐI VỚI PHỤ NỪ TRONG GIA ĐÌNH
Chuyên ngành: TÂM LÝ HỢC
MÃ SỐ: 5.06.02
LUẬN VẢN THẠC s ĩ KHOA HỌC TÂM LÝ
Người hướng dẫn khoa học: PÍỈS.TS. Lẻ Đức Piiúc
HÀ NỘI - 2006
ằ - ■■



■ — ị
MỘT SỔ KÍ HIỆU VIẾT TẮT
BL:
Bạo lực
BLPNGĐ:
Bạo lực phụ nữ trong gia đình
CH
Cán bộ
CĐ-ĐH
Cao đẳng-Đại học
CN
cỏng nhân
HPGĐ:
Hạnh phúc gia đình
HNGĐ:

1.1.2. Lịch sử nghiôn cứu vẻ bạo lực phụ nữ gia đình 12
1.2. Các khái niệm cơ bản 16
1.2.1. Thái độ 16
1.2.2. Bạo lực 26
1.3. Chức năng và đặc điểm tâm lý của phụ nữ trong gia đình 29
1.4. Bạo lực với phụ nữ trong gia đình 34
1.5. Thang đo thái độ đối với bạo lực phụ nữ trong gia đình 41
CHƯƠNG 2. TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
2.1. Xác định mẫu nghiên cứu 46
2.1.1. Phụ nữ phường Nhân chính và phường Khương mai 46
2.1.2. Trung tâm tư vấn Hạnh phúc gia đình 47
2.2. Nghicn cứu lý luận 48
2.3. Nghiên cứu thực tiễn 48
2.3.1. Tiến trình nghiên cứu 48
2.3.2. Cách quy ước điổm số cho bảng hỏi 51
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u
3.1. Kết qua điều tra thực Irạng thái độ của phụ nữ 53
3.1.1. Nhận Ihức ’ ’ 53
3.1.2. Cam xúc 69
3.1.3. Hành vi 76
3.1.4. Tương quan giữa các mặt biểu hiện của thái độ K9
3.1.5. Kết quá chung về thái độ của phụ nữ 92
3.2. Nguyên nhAn của thực trạng 94
3.2.1. Nguyôn nhân chủ quan 94
3.2.2. Nguyôn nhân khách quan 95
3.3. Kết quả tác động tới một số trường hợp thông qua tư vấn 97
KẾT LUẬN 103
KIÊN NGHỊ 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
PHỤ LỤC 110

tổ chức phụ nữ trên thế giới coi bạo lực đối với phụ nữ như một vấn đề ưu tiên,
cán xem xét trong thập kỷ quốc tế phụ nữ được bắt đầu từ 1975.
ở Việt Nam, bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình đang xảy ra khá phổ biến
ở khắp các tính, thành trong cá nước. Nó diễn ra ở mọi vùng, cả ở đô thị lẫn nông
thôn và ở trong các gia đình thuộc mọi mức thu nhập khác nhau.
Là một chủ đề rất nhạy cảm, liên quan đến những nỗi đau thầm kín trong
cuộc sống ricng tư của người phụ nữ, bạo lực giới, đặc biệt là bạo lực trong gia
đình dường như bị che giấu và chỉ mới được đề cập đến gần đây một cách công
khai trên các phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam. Cũng như các nước
khác trên thế giới, Việt Nam chưa có số liệu đầy đủ về bạo lực giới. Tuy nhiên,
từ các nguồn số liệu khác nhau có thể nói ngược đãi phụ nữ có xu hướng tăng
lên. Người phụ nữ thuộc mọi tầng lớp xã hội đều có thể là nạn nhân của những
dạng bạo lực khác nhau như: Thể chất, tinh thần, tình dục, kinh tế và xã hội
trong những khoảng thời gian tương đối dài của cuộc sống hôn nhân của họ
(Hội đồng dân số 2000).
Theo thống kê của Toà án nhân dân tối cao thì hiện tượng này ngày càng
gia tăng. Trước năm 1986, số vụ giết người là 1000 thì giết người do bạo lực
trong gia đình chiếm 5 - 7%. Từ sau năm 1987, tình trạng này trở nên đáng lo
ngại hơn. Chí tính riêng năm 2001, trong số 11000 vụ giết người thì có tới 16%
số vụ do bạo lực gia đình.
Mặc dù không muốn, phụ nữ đã phải tìm đến ly hôn như một giải pháp
trốn chạy. Số liệu toà án tối cao cho thấy tỷ lệ ly hôn do phụ nữ bị ngược đãi
chiếm gần 60% trong tổng số vụ ly hôn và có xu hướng ngày càng tăng. Số liệu
của một tung tâm tư vấn tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy chủ đề liên quan
đến bạo lực trong gia đình chiếm khoang gần 30% các cuộc gọi đến tư vấn. Tỷ
lệ này ở đường dây tư vấn tâm lý tình cảm của Hà Nội chiếm khoảng 1/4 số các
cuộc gọi đến (Hội đồng dân số, 2000).
Hình thức bạo lực gia đình phổ biến nhất là bạo lực của chồng đối với vợ
bao gồm các hành vi đánh đập, chửi mắng, cấm đoán, cưỡng ép quan hệ tình
dục hoặc cưỡng ép đẻ thêm con Kết quá nghiên cứu của Hội Licn hiệp phụ

nột lần cáu giận ờ cơ quan, chồng tôi về nhà mắng mỏ vợ, tôi cãi lại. Chồng tôi
r3i khùng đã khoá cổng và lôi tôi vào trong nhà đánh đập. Anh ấy đánh tôi dã
nan đốn mức đáu tôi bị vỡ cháy bê bốt máu, đuôi mắt bị rách và gẫy cột sống.
3
Không chịu nổi, tôi đã cố lê lết trốn về nhà ngoại và sống ly thân 2 năm nay.
Hôm nay, lần đầu tiên sau 19 năm tôi được ra ngoài xã hội, đưực tiếp xúc với
nhiều người. Tôi mong các cơ quan, tổ chức hãy giúp tôi được ly hôn và cứu
giúp những người phụ nữ bị ngược đãi như tôi ”
Tất cả các tình trạng trcn do nhiều nguyên nhân gáy ra, nhưng nguồn gốc
vẫn là vì thiếu hiểu biết, hiểu lệch lạc về giới và bình đẳng giới, cũng như vai
trò, chức năng, cách xử sự trong giao tiếp giữa người vợ và người chồng; tư
tưởng trọng nam khinh nữ vãn đang tồn tại trong xã hội; do truyền thống, đạo
lý và các vụ xâm phạm thân thể cũng như hành vi của họ ngược đãi vợ trong
gia đình thường được che giấu. Ở một số nơi, chính quyền địa phương, cơ quan
pháp luật Nhà nước còn cho rằng bạo lực với phụ nữ trong gia đình chỉ là việc
dân sự, không phải là hình sự, để cho các cặp vợ chồng tự giải quyết hoặc nếu
có, chỉ được họ hoà giải v.v
Hiến pháp mới của nước ta đã quy định: “Mọi công dân đều có quyền
bình đẳng trước pháp luật” (Điều 52), “Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối
xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ” (Điều 63), “Nghiêm cấm mọi
hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”
(Điều 70). Những quy định này của Hiến pháp đã được cụ thể hoá thành nhiều
điều trong các Bộ luật Hình sự, Dân sự, Tố tụng hình sự, Lao động, Luật hôn
nhân và gia đình, Pháp luật xử phạt vi phạm hành chính và nhiều văn bản pháp
luật khác. Điều đó đã tạo ra công cụ pháp lý đủ mạnh và nghiêm khắc để xoá
nạn bạo lực phụ nữ. Như vậy, pháp luật đã góp phần xoá bỏ sự phân biệt đối xử
với phụ nữ trong các vấn đề liên quan đến hôn nhân và gia đình trên cơ sở binh
đẳng nam nữ.
Song trên thực tế, ở nơi này hay nơi khác, tinh trạng vi phạm các quyền
của phụ nữ và trẻ cm vẫn chưa giảm. Trong gia đình cũng như ngoài xã hội đã

bộ tư vấn, 10 khách hàng gọi điện tư vấn trực tiếp và có hồ sơ được lun tại
Trung tâm.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và phương pháp có liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu thái độ của phụ nữ trước hành vi bạo lực đối với phụ nữ
trons, aia đình và phân tích nguyên nhàn của thực trạng đó.
5
- Đề xuất kiến nghị góp phần hình thành thúi độ đúng đắn, tích cực ỏ phụ
nữ đối với tình trạng bạo lực hiện nay.
5. Giả thuyết khoa học.
- Phụ nữ chưa thực sự có thái độ đúng mức và kịp thời trước hành vi bạo
lực của chồng đối với vợ trong gia đình.
- Nếu nghiên cứu và biết được nguyên nhân của thực trạng trên thì sẽ đưa
ra được những kiến nghị về biện pháp phòng ngừa và khắc phục tình trạng bạo
lực.
6. Phạm vi nghiên cứu.
Nghiên cứu thực trạng thái độ của phụ nữ trước hành vi bạo lực của chồng
A
đối với vự trong gia đình. ( fc
7. Phưưng pháp nghiên cứu:
7.1. Phương pháp nghiên cứu vãn bản, tài liệu.
- Mục đích: Tham khảo để xây dựng cơ sở lý luận và phương pháp nghiên
cứu đề tài.
- Cách tiến hành: Sưu tầm và đọc những nguồn tài liệu nghiên cứu về thái
độ, bạo lực, bạo lực đối với phụ nữ, bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình. Kết
hợp đọc một số luận văn đã bảo vệ trước đó về vấn đề trên để tham khảo thêm
về phương pháp nghiên cứu, thấy được mặt ưu và mặt hạn chế của các luận văn,
trcn cư sở đó bổ sung cho đề tài của mình.
7.2. Phương pháp quan sát.
- Mục đích: Bổ sung cho phương pháp điều tra bằng bẳng hỏi, góp phần

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu về thái độ
1.1.1.1. Ớ phương Tây
Hai nhà tâm lý học đầu tiên nghiên cứu về thái độ là W.I. Thomas và
F.Znanieki (Mỹ- 1918). Hai ông đã tiến hành nghiên cứu thái độ của những
người nông dân Ba Lan di cư sang Mỹ, thông qua sự thích ứng của họ trưóc
những thay đổi của môi trường sống cũng rihư sự thay đổi của các giá trị. Họ
đã đưa ra nhận định: Thái độ là trạng thái tinh thần của cá nhân đối với một giá
trị nào đó.
Từ công trình khởi đầu này, nhiều nghiên cứu về thái độ đã bùng nổ.
P.N.Sikhirev, nhà tàm lý học xã hội Liên Xô(cũ) đã chia lịch sử nghiên cứu thái
độ ở phương Tây ra làm ba thời kỳ chính(5:174,175):
- Thời kỳ th ứ nhất bắt đầu từ năm 1918 đến Chiến tranh thế giới lần thứ
hai. Ớ giai đoạn này, các công trinh nghiên cứu chủ yếu tập trung vào nghiên
cứu định nghĩa, cấu trúc, chức năng của thái độ và mối quan hệ của nó với
hành vi. Công trình nghiên cứu thực nghiệm gây chú ý trong giai đoạn này là
sự phát hiện ra “nghịch lý La Piere”, biểu thị sự không nhất quán giữa phản
ứng bằng lời nói tỏ thái độ và hành vi.
- Thời kỳ thứ hai kéo dài từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai đến cuối
những năm 1950. Thời kỳ này, các nghicn cứu về thái độ tập trung chủ yếu tìm
hiểu, lý giải những hoài nghi về vai trò của thái độ trong việc chi phối hành vi.
Vì nhiều lý do chủ quan và khách quan như do chiến tranh, do bế tắc trong việc
]ý giải các nghịch lý nảy sinh trong quá trình nghiên cứu, nên số lượng các
công trình nghicn cứu về thái độ ở thời kỳ này có sự giảm sút một cách đáng
kể. Tuy nhiên, trong giai đoạn nghiên cứu này cũng đã nổi lên những tên tuổi
như R.A. Likert, Sank, G.w.Allport, Crechphend, J.Bruner, v.v
- Thời kỳ thứ ba (ừ cuối những năm 1950 đến nay. Có thể nói đây là thời
kỳ bùng nổ của những nghicn cứu về thái độ ở phương Tây. Trong tâm lý học
8
xã hội vấn ítc thái độ có một vị trí xứng đáng. Vấn đề thường được đé cập trong

Thuyết “tâm thế xã hội ” của D.N. Uznadze cũng đã góp phần tích cực vào
việc nghiên cứu thái độ của các nhà tâm lý học Liên Xô. Theo Uznadze, thái độ
(tâm thế) là trạng thái vô thức xuất hiện khi có sự gặp gỡ của nhu cầu và hoàn
cảnh thoả mãn nhu cầu, quy định xu hướng biểu hiện của tâm lý và hành vi của
con người, giúp con người thích ứng với điều kiện bên ngoài. Từ đây, có thể
khẳng định tâm thế xã hội là một yếu tố hình thành hành vi xã hội của nhân
cách, được thể hiện dưới hình thức thái độ của nhân cách với các điều kiện hoạt
động của nó.
Chính cách tiếp cận, xem xét khái niệm tâm thế theo D. N. Uznadze đã
giúp cho việc xác định nghiên cứu tâm thế xã hội - thái độ trong tâm lý học xã
hội ở Liên Xô trước đây được đặt trong bối cảnh khả quan.
Trong những năm cuối của thế kỷ XX, khi nghiên cứu nhân cách như là
một phạm trù cơ bản của tâm lý học, B. Ph. Lomov đã đề cập đến khái niệm
thái độ chủ quan của nhân cách. Khái niệm này gần giống như các khái niệm
“tâm thể”, “ý cá nhân”, “attitude”. Thái độ chủ quan có tính chất nhiều chiều,
nhiều tầng và cơ động. Thái độ chủ quan tuy là thuộc tính tương đối ổn định,
phản ánh lập trường của cá nhân với hiện thực khách quan nhưng cũng có thay
đổi. Sự thay đổi vị trí khách quan của mỗi cá nhân trong xã hội đòi hỏi phải có
sự đổi mới thái độ chủ quan của nó. Cơ sở khoa học của thái độ chủ quan là các
quan hệ xã hội, phương thức hình thành là thông qua hoạt động và giao tiếp.
Một số nghiên cứu về thái độ đã được các nhà tâm lý học Liên Xô tiến
hành dưới dạng thực nghiệm như: (5:174).
- Sự tác động qua lại của thái độ của các cá nhân trong nhóm, nhân cách
và tập thể (L.I.Bozovic, V.N. Miaxisev ).
- Mối quan hệ giữa trẻ em và người lớn(M.I.Lixina, A.V.Petrovxki,
A.I.Serbacov )
- Thái độ đối với việc học tập và các môn học (A.N. Leonchiep, L.I.
Bozovic, L.X.Xlavina )
- Thái độ đối với nghề nghiệp và lao động(N.I. Krưlov, v.x. Philatov ).
Như vậy,\với cách tiê'p cận hoạt động và nhân cách trong các nghiên cứu

- Thái độ kỳ thị của cán bộ làm công tác tuycn truycn đối với những người
nhiễm HIV/A1DS - Đỗ Thị Thanh Hà(Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học; 2005).
Ngoài ra còn nhiều luận văn, luận án tâm ií học cũng nghicn cứu về thái
độ. Các tác giả này đã đóng góp đáng kể cho mảng đề tài về thái độ nói chung
cũng như sự phong phú về đối tượng. Tuy vậy, phần lớn các nghiên cứu này
mới chí dừng lại ở quy mô nhỏ dưới dạng các luận án, luận văn và tập trung
chủ yếu vào thái độ của học sinh, sinh vicn mà thôi.
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu về BLPNGĐ.
1.1.2.1.Trẽn thê giới
Vấn đề BLPNGĐ bắt đầu được nghiên cứu từ năm 1975, khi được coi như
một vấn đề ưu tiên cần xem xét. Gần ba thập kỷ qua, nhiều nghiên cứu trên thế
giới cho thấy tình trạng phụ nữ bị bạo lực trong gia đình ngày càng tăng. Hầu
hết các nghiên cứu này dựa trên sự phân tích số liệu từ các phòng cấp cứu bệnh
viện hoặc sử dụng các kỹ thuật phân tích định tính để xem xét nguy cơ và bản
chất của loại bạo lực này. Cụ thể là một số nghiên cứu sau (Theo 7:9):
- Smith(Canađa;1987) điều tra ngẫu nhiên qua điện thoại phát hiện thấy
trong số 604 phụ nữ độ tuổi 18->50 đã có chồng, có 36,4% bị hành hạ về thể
chất.
- Schei và Bakketeig(Na Uy; 1989) điều tra 150 phu nữ từ 20 đến 49 tuổi ở
Trondheim thì có 25% bị chồng hành hạ về thể xác và tình dục.
- Profami Lia(Colombia; 1990) nghiên cứu trên 3272 phụ nữ thành thị và
2118 phụ nữ nông thôn, thấy có 20% bị hành hạ về thể xác, 33% về tinh thần
và 10% về tình dục.
- Shrader và Valdez Santiago(Mexico; 1992), nghiên cứu 342 phụ nữ có
33% sống trong mối quan hệ bạo lực và 6% bị hiếp trong hôn nhân. Trong số
những người bị hành hạ có 66% về thể xác, 76% về tâm lí và 21% về tinh dục.
- Kim và Cho(Hàn Quốc; 1992) điều tra 707 phụ nữ, phát hiện có 37,5%
phụ nữ bị chồng đánh trong đó 12,4% bị đánh nghiêm trọng.
- Rao(Ân Độ; 1993) trong số 170 phụ nữ ở tuổi sinh con ở vùng nông thôn
miền Nam Karnataka có 22% phụ nữ bị hành hạ về thể chất, số bị chồng đánh

- Hội nghị đã ne,he trình bày và thảo luận về các chủ đề như: Vấn đề khái
niệm về bạo lực gia đình, vai trò của văn hoá và tôn giáo trong việc phòng
chống bạo lực gia đình, hình thức, nguycn nhân của bạo lực gia đình, những
13
thứ thách và chiến lược trong công tác phòng chống bạo lực gia đình, xây dựng
luật pháp chống bạo lực gia đình
Hội nghị đã thống nhất trên một số vấn đề như:
- Bạo lực gia đình không phải là chuyện riêng của gia đình;
- Phụ nữ đang bị coi là phụ thuộc vào nam giới trên phạm vi toàn cầu.
Hiện nay, ở nhiều nước Châu Á không chỉ văn hoá và tôn giáo đang tiếp tay
cho việc củng cố tình trạng bất bình đẳng nam nữ và khuyến khích bạo lực gia
đình mà còn một số chính phủ, cảnh sát chưa có hoạt động tích cực ngăn chặn
bạo lực gia đình vì coi đây là việc riêng của gia đình.
Mặc dù vấn đề BLPNGĐ mới được đề cập đến và xem xét trong vài thập
kỷ gần đây nhưng cũng đã thu hút được sự quan tâm và nghiên cứu của nhiều
tổ chức cũng như cá nhân của nhiều nước trên thế giới. Các kết quả nghiên cứu
đã chứng tỏ tính chất nghiêm trọng của tệ nạn này, đồng thời cho thấy các
nguyên nhân, hình thức bạo lực khác nhau và sự ảnh hưởng của chúng đến sức
khoẻ thể chất, tinh thần, tình dục. Việc nghiên cứu đã góp phần giúp cho các
nhà hoạch định chính sách, các thể chế xã hội ở mỗi nước có biện pháp giải
quyết tình trạng này.
1.1.2.2. Ở Việt Nam
Từ cuối những năm 1980, vấn đề binh đẳng giới đã được đề cập tới tại
Việt Nam và nhanh chóng được các tổ chức xã hội quan tâm. Đảng và Pháp
luật luôn coi trọng vấn đề bình đẳng giới và hướng đến việc thúc đẩy sự phát
triển của công tác này, cam kết một cách mạnh mẽ về công bằng xã hội, trong
đó có bình đẳng giới, với cộng đồng thế giới, góp phần tạo điều kiện cho phụ
nữ phát huy tốt vai trò xã hội của họ.
Gần đây, BLPNGĐ ngày càng được rất nhiều người quan tâm. Song,
những công trình nghiên cứu về vấn đề này thì còn rất ít. Có thể kể đến một số

xã hội”. Nghiên cứu này cũng có bàn về sự bất. bình đẳng giới, nguyên nhân
của sự bất bình đẳng, việc đấu tranh cho quyền lợi và sự công bằng của phụ nữ,
xoá bỏ tình trạng bạo lực.
Ngoài ra, còn một số nghiên cứu, báo cáo khác về vấn đề. Nhìn chung,
mỗi công trình đều phát hiện được những khía cạnh nhất định của tệ nạn này,
góp phần làm rõ hơn tình trạng bạo lực và đưa ra các biện pháp giải quyết cụ
thè. Tuy nhiên, nghicn cứu về thái độ đối với BLPNGĐ chưa nhiều, đặc biệt là
15
trong lĩnh vực tâm lý học. Chưa có nghicn cứu nào được thực hiện trên lĩnh vực
tâm lý học về thái độ của chính người phụ nữ - Người phái chịu sự bạo lực một
cách trực tiếp.
1.2. Các khái niệm CƯ bản
1.2.1. Thái độ
1.2.1.1. Khái niệm “ Thái độ”
Có thể nói rằng, thái độ là thuật ngữ được sử dụng rất nhiều trong tâm lý
học nói riêng và trong cuộc sống nói chung nhưng “khái niệm thái độ” thì
tương đối phức tạp. Thuật ngữ “thái độ”(attitude trong tiếng Anh) dùng để chỉ
tư thế hoặc dáng điệu của một người. Từ trước đến nay có nhiều nhà tâm lý học
nghiên cứu về thái độ, song định nghĩa về thái độ vẫn chưa được thống nhất.
Theo D.N.Uznadze:HTiái độ là trạng thái sẵn sàng hướng tới một hoạt
động nhất định, là cơ sở của tính tích cực có sự lựa chọn của chủ thể. Theo ông,
thái độ là phản ứng cơ bản đầu tiên của chủ thể đối với đối tượng tác động.
Thái độ là trạng thái toàn vẹn của ý thức cá nhân. Thái độ chỉ xuất hiện khi có
nhu cầu và hoàn cảnh thoả mãn nhu cầu.
H.Fillmore: Thái độ là sự sẵn sàng phán ứng tích cực hay tiêu cực đối với
đối tượng hay các ký hiệu trong môi trường Thái độ là sự định hướng của cá
nhân đến các khía cạnh khác nhau của môi trường(Theo 4:17).
M.Vorwerg xác định: Thái độ là sự sẵn sàng bị quy định và có tính chất
bắt buộc nào đó, nảy sinh trong những nhóm nhất định và trong những tình
huống cụ thể. về mặt lượng cũng như mặt nội dung, sự sẵn sàng này phụ thuộc

- Thái độ có ảnh hưởng đến định hướng và hoạt động.
Hầu hết các định nghĩa trên cho ta thấy quan niệm chung: Thái độ là
trạng thái sẵn sàng phản ứng và thuộc phạm vi bên trong cá nhân nhưng được
biểu hiện và nhận thấy thông qua những hành vi, cử chỉ ở bên ngoài.
Ở Việt Nam, một số định nghĩa cũng thể hiện quan điểm trên như: Thái
độ là dáng vẻ, cách, những biểu hiện bên ngoài của tình cảm, ý nghĩ của một
người nào đó đối với công việc hay đối với người khác.
Theo từ điển Tiếng Việt: Thái độ là tổng thể nói chung những biểu hiện
ra bèn ngoài(bằng net mặt, cử chỉ, lời nói, hành động) của ý nghĩ, tình cảm đối
với ai hoặc đối với sự việc nào đó hay thái độ là cách nghĩ, cách nhìn và cách
hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình hình(20:877).
j OA. HOC QUỐC GIA HÀ NÓI
I ỈRUNG TÀM THÕNG TIN THƯ VIỆN
Trong từ điển Tâm lý học của Nguyễn Khắc Viện định nghĩa: Thái độ là
những phán ứng tức thì, tiếp nhận dễ dàng hay khó khăn, đồng tình hay chống
đối như đã có sẵn những cơ cấu tâm lý tạo ra định hướng cho việc ứng phó.
Gần đây, có bài viết của Võ Thị Minh Chí về “Nghiên cứu thái độ trong
nhân cách”. Theo tác giả, thái độ là một thuộc tính tâm lý, một thành tố tích
cực của ý thức cá thể, là mối quan hệ chủ quan với thế giới được phản ánh và
được khách quan hoá bởi tâm vận động của con người khi nghiên cứu về con
người, về nhân cách không thể không nghiên cứu thái độ của họ.(5:261- 264)
Như vậy, qua tổng kết và phân tích các định nghĩa về thái độ, chúng tôi
thấy nội dung của các định nghĩa đều thể hiện cho rằng, Nghiên cứu thai độ
phải xem xét thái độ trong mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội và phải dựa
trên các thành phần cơ bản là nhận thức, cảm xúc và hành vi. Xuất phát từ các
quan điểm đã phân tích, chúng tôi sử dụng khái niệm thái độ làm cơ sở cho
nghiên cứu này như sau: Thái độ là những phản ứng và sự đánh giá của cá
nhân hay nhóm người đối với một đối tượng nào đó(người, sự vật, hiện
tượng).
I.2.I.2. Cấu trúc của thái độ

- Chức năng thể hiện giá trị: Thông qua sự đánh giá một cách có chọn
lọc về đối tượng qua biểu lộ cảm xúc, hành động cũng như ý định hành động,
cá nhủn thể hiện giá trị nhan cách của mình.
- Chức năng tự vệ: Trong tình huống có xung đột nội tâm, con người tìm
cách thay đổi thái độ như tự bào chữa, biện minh cho hành vi mâu thuẫn với
thái độ, qua đó làm giảm căng thẳng, tạo cân bằng nội tâm.
- Chức năng điều chỉnh hành vi và hoạt động: Thái độ đảm bảo sự tham
gia của cá nhân vào cuộc sống xã hội, quy định phương pháp hoạt động và mối
quan hệ của cá nhân với người khác. Qua đó, quy định tính chất và mức độ
tham gia của họ vào sự phát triển các quan hệ xã hội.
1.2.1.4. Cơ chê hình thành thái độ
Theo M.Vorwerg và H.Hiebsch(Đức), thái độ của cá nhân được hình
thành thông qua 4 cơ chế tâm lý xã hội: bắt chước, đồng nhất hoá, giảng dạy và
chỉ dẫn(40:129-150).
- Bắt chước: Là sự hình thành thái độ bằng con đường tự phát. Nghĩa là cá
nhân học các phương thức hành vi hoặc phan ứng mà không cần sử dụng các kỹ
19
thuật giáo dục theo một phương thức nào đó. Theo Miller và Dollarđ thì có 4
nhóm người chính khiến cho ta thích bắt chước và dễ gây ảnh hưởng tới người
khác là: Những người lớn tuổi; những người có địa vị xã hội hơn hẳn; những
người có trí tuệ hơn hẳn; những người thành thạo hơn hẳn trong một lĩnh vực
nào đó.
- Đồng nhất hoá: Thực chất đây cũng là sự bắt chước nhưng bắt chước có
ý thức. Trong quá trình này, chủ thể thống nhất bản thân mình với các cá nhân
khác của nhóm này hay nhóm khác dựa trên sự nhận thức và mối liên hệ cảm
XIÍC, đồng thời chuyển những chuẩn mực, những giá trị vào thế giới nội tâm của
mình. Đây là sự bắt chước một khuôn mẫu nào đó.
- Giảng dạy: Là cách hình thành thái độ do người khác tác động vào cá
nhân một cách chủ động, có mục đích bằng con đường truyền thụ, thông báo
tất cả những gì cần thiết.

quan điểm của người nhận thì thông điệp sẽ bị loại bỏ. Tuy nhiên, một số
nghiên cứu khác của Insko(1967); Kiesler, Collins và Miller(1969) lại cho thấy
rằng cách tiếp cận đó sẽ có hiệu quả hơn trong việc làm thay đổi thái độ.
Festinger và Waltes(1962) quan niệm những thông điệp không phải thiết
kế để ảnh hưởng tới người nhận dường như sẽ thuyết phục mọi người nhiều
hơn. Nếu có nguồn tin tin cậy nhưng quan điểm của nguồn tin lại khác xa với
quan điểm của người nhận thì sự thuyết phục sẽ giảm đi. Nguồn tin tin cậy vừa
phải nhưng quan điểm khác vừa phải thì sự thuyết phục sẽ nhiều nhất.
Ví dụ, Aronson, Jurner và Carlsmith(1963) đã nghiên cứu về sự ảnh hưởng
của nguồn tin tin cậy và khoảng cách giữa thông điệp với quan điểm người
nhận trong việc làm thay đổi thái độ(32:187,188). Các tác giả yêu cầu sinh viên
đánh giá một khổ thơ, sau đó đưa cho họ một bản đánh giá của T.s.
Eliot(nguồn tin tin cậy cao), rồi một bản của giáo viên (nguồn tin tin cậy vừa
phải). Kết quả, nguồn tin Eliot có tác động nhiều hơn nguồn tin của giáo viên.
Khi quan điểm của Eliot khác xa với sinh viên thì sự tác động không còn nữa.
Nguồn tin của giáo viên làm thay đổi nhiều nhất khi quan điểm của cô ấy vừa
phải. Nhưng khi quan điểm của cô ấy khác xa với sinh viên thì sự thay đổi ý
kiến bị hạ xuống đột ngột. Các tác giá giải thích rằng quan điểm khác xa với
sinh viên của Eliot đặt sinh vicn rơi vào sự mâu thuăn(bất đồng). Eliot rất đáng
21

Trích đoạn Chức năng và đặc điểm tâm lý của phụ nữ trong gia đình 1 Chức năng của phụ nữ trong gia đình Chức năng xây dimg hạnh phúc gia đình Không chấp nhận trong bất cứ trường hợp nào Tham gia tập huấn vé chống BLPNGĐ Không biết đến các chương trình phát thanh, truyền hình đưa tin về bạo lực
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status