Vận dụng phương pháp công tác xã hội nhóm nhằm giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng giới đối với phụ nữ trong gia đình nông thôn tại xã Tân Lập- Sông Lô- Vĩnh Phúc hiện nay - Pdf 26

MỞ ĐẦU
1. Phần mở đầu
Trong lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng minh rằng xã hội sẽ
không có những bước tiến ổn định, vững chắc nếu trong xã hội tồn tại một
bộ phận người đông đảo bị áp bức hoặc bị hạn chế vươn lên. Chính vì vậy
tạo quyền bình đẳng cho phụ nữ và bình đẳng giới đã trở thành mục tiêu
phát triển của thiên niên kỷ và điều này đã đánh dấu một bước tiến đáng kể
của nhân loại.
Bất bình đẳng giới là một trong những vấn đề được đặt ra từ lâu ở
nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt ngày nay tình trạng bất bình đẳng
giới diễn ra ngày càng phổ biến và nghiêm trọng không chỉ ở những nước
có nền kinh tế phát triển cao mà ở cả các quốc gia đang phát triển và chậm
phát triển. Nó đó trở thành vấn đề chung của toàn cầu và cần sự quan tâm
của tất cả các quốc gia trên thế giới.
Việt Nam vốn đi lên từ nước nông nghiệp lạc hậu, những tư tường,
quan niệm của nền nông nghiệp làm hạn chế nhận thức của người dân về
bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình, đặc biệt là với trẻ em gái và
phụ nữ. Mặt khác, ở Việt Nam vẫn còn tồn tại tư tưởng “trọng nam khinh
nữ” từ thời phong kiến để lại.
Công tác xã hội là một khoa học ứng dụng, một hoạt động chuyên
nghiệp trong đó nhân viên công tác xã hội bằng kỹ năng kiến thức của
mình tác nghiệp với các đối tượng là cá nhân, nhóm, cộng đồng yếu thế
trong xã hội tự phát huy tiềm năng của mình để cải tạo hoàn cảnh vừa
vươn lên theo hướng tích cực bền vững. Nhóm phụ nữ đang là nạn nhân
của bất bình đẳng trong gia đình là đối tượng của công tác xã hội.
Tân Lập là một xó nghốo của huyện Sụng Lụ- Vĩnh Phúc, là một xã
thuần nông, nhân dân sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa và hoa màu. Với
đặc điểm kinh tế nông nghiệp, trình độ dân trí chưa cao, cơ hội tiếp cận
những nguồn thông tin mới còn hạn chế nên tư tưởng của ngưới dân nơi
đõy còn rất lạc hậu.Tư tưởng phong kiến gia trưởng cùng những sự biến
đổi chậm chập của ý thức xã hội, của các thiên kiến về giới vẫn bám rễ lâu

Các kết quả nghiên cứu của cỏc nhúm đề tài, công trình khoa học
trên đã đề cập đến vấn đề giới, vai trò của bình đẳng giới đối với sự phát
triển xã hội nói chung, ở các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, gia đình.
Nhưng do mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu khác nhau, vì vậy chưa có
một công trình nghiên, phân tích một cách toàn diện, hệ thống thực hiện
vấn đề bình đẳng giới hay bất bình đẳng giới đối với phụ nữ trong gia đình
2
ở huyện Sụng Lụ nói chung và ở xó Tõn Lập nói riêng, nhất là vận dụng
các kỹ năng và phương pháp của công tác xã hội và giải quyết vấn đề. Do
vậy, tác giả chọn đề tài “Vận dụng phương pháp công tác xã hội nhóm
nhằm giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng giới đối với phụ nữ trong gia
đình nông thôn tại xó Tõn Lập- Sụng Lụ- Vĩnh Phúc hiện nay” là đề tài
nghiên cứu của mình. Đây là một vấn đề cần được giải quyết và phương
pháp vận dụng giải quyết hoàn toàn mới mẻ- Công tác xã hội nhằm phát
huy vai trò của phụ nữ nông thôn xó Tõn Lập trong sự nghiệp xây dựng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
4.2 Phạm vi nghiên cứu
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
5.2 Phương pháp nghiên cứu
6. Đóng góp mới về khoa học của đề tài
7. Kế cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Nội dung, Kết thúc và Thư mục tài liệu tham
khảo, khóa luận bố cục thành 3 chương :
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung.

1.1.2 Phương pháp công tác xã hội nhóm
● Công tác xã hội
Công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp được thực hiện dựa trên
nền tảng khoa học chuyện ngành nhằm hỗ trợ đối tượng (cá nhân, nhóm,
cộng đồng) có vấn đề xã hội. Giải quyết vấn đề gặp phải, cải thiện hoàn
cảnh, vươn lên hòa nhập xã hội theo hướng tích cực, bền vững.
● Công tác xã hội nhóm
Công tác xã hội nhóm là một phương pháp của Công tác xã hội nhằm
tạo dựng và phát huy sự tương tác, chia sẻ kinh nghiệm, nguồn lực giữa
4
các thành viên, giúp củng cố, tăng cường chức năng xã hội và khả năng
giải quyết vấn đề, thỏa mãn nhu cầu của nhóm. Thông qua sinh hoạt nhóm
mỗi cá nhân hòa nhập phát huy tiềm năng, thay đổi thái độ, hành vi và khả
năng đương đầu với nam đề của cuộc sống, tự lực và hợp tác giải quyết
vấn đề đặt ra vì mục tiêu cải thiện hoàn cảnh một cách tích cực [22,84].
1.2 Cơ sở lý luận và lý thuyết vận dụng
1.2.1 Cơ sở lý luận
1.2.2 Một số lý thuyết vận dụng trong Công tác xã hội nhóm
Kết luận chương 1:
Trước hết, cần khẳng định giới và bình đẳng giới là hai lĩnh vực quan
trọng được nhiều nhà chức trách, Đảng, Nhà nước và cả xã hội quan tâm.
Gắn liền với bình đẳng giới là phát triển xã hội, muốn xã hội phát triển thì
con người phải bình đẳng, có điều kiện cống hiến và hưởng thụ thì xã hội
mới phát triển bền vững.
Với nền tảng cơ sở lý luận, các khái niệm về giới, bình đẳng giới
cũng như lý luận của chủ nghĩa Mac- Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh về
bình đẳng giới là cội nguồn, gốc rễ sâu xa, là nền tảng để Đảng, Nhà nước
đưa ra và ban hành các văn bản, chính sách, pháp luật bảo vệ qquyền và lợi
ích cho phụ nữ.
Bên cạnh đó, việc hình thành công tác xã hội nhóm cần nền tảng lý

hơn nữ giới. Mặt khác, tuy phụ nữ không nhiều sức bằng nam giới nhưng
họ khéo léo nên việc đảm nhiệm việc chăm sóc, cất trữ là đương nhiên.
Tuy nhiên, hiện nay cũng không ít người nam giới đi làm ăn xa nên mọi
công việc sản xuất cũng như tái sản xuất đều do người phụ nữ gánh vác,
6
họ cũng làm đất, phun thuốc trừ sâu và tất cả những công việc của nhà
nông. Điều đáng nói ở đây là cả hai giới cùng tham gia sản xuất công việc
đồng áng nhưng khi về đến nhà người phụ nữ lại đi nấu cơm, giặt quần áo,
lau dọn nhà cửa, còn nam giới thì ngồi xem tivi hoặc đi chơi nhà hàng
xóm. Người phụ nữ tất bật với mọi công việc phục vụ chồng và các thành
viên trong gia đình, mà nam giới không hiểu được sự vất vả của người phụ
nữ. Cùng chia sẻ công việc gia đình, giúp đỡ nhau trong công việc gia đình
chính là biện pháp nâng cao tính bình đẳng hơn trong gia đình.
2.2.1.2 Công việc tái sản xuất
Tái sản xuất không chỉ đơn thuần là việc sinh đẻ mà còn là sự chăm
sóc, nuôi dưỡng không chỉ trẻ em mà còn cả người lớn nữa trong trường
hợp những người này bị ốm đau hay già cả qua hàng loạt các công việc nội
trợ hàng ngày. Công việc tái sản xuất trong gia đình trên địa bàn xó Tõn
Lập bao gồm các hoạt động như công việc nội trợ, kế hoạch hóa gia đình,
dạy dỗ và chăm sóc con cỏi…Đõy là các chỉ số cơ bản mà khi đo lường
được chúng sẽ cho ta thấy bức tranh về phân công lao động giới trong hoạt
động phi sản xuất nhưng thường hay biểu lộ những mặt trái của quan hệ
giới.
Sinh sản:
Tái sản xuất ra con người là một trong những nhiệm vụ quan trọng
hàng đầu của bất kỳ một cộng đồng người nào nhằm duy trì nòi giống và
duy trì lực lượng lao động.
Bất bình đẳng giới về nhận thức những thông tin đầy đủ về sức khỏe
sinh sản. Với câu hỏi “Ai là người tìm hiểu thông tin về sức khỏe sinh sản?”
thì kết quả thu được là: phụ nữ 85%, nam giới 15%. Kết quả cho ta thấy nam

đương. Điều này một mặt phản ánh thực trạng lao động hiện có ở gia đình,
mặt khác phản ánh thực trạng tồn tại của định kiến giới trong phân công
lao động.
2.2.1.3 Công việc cộng đồng
Công việc cộng đồng của người dân trong xã thường bao gồm: Tham
gia vào các tổ chức chính trị- xã hội, họp thôn xóm, vệ sinh đường làng,
giúp đỡ công việc hàng xóm (ma chay, cưới hỏi…).
8
Bảng 2:Câu hỏi “Ai là người đảm nhận chớnh cỏc công việc cộng
đồng?” Kết quả thu được như sau:
Loại công việc Chồng (%) Vợ (%) Cả hai (%)
Họp thôn xóm 80.0 15.0 5.0
Vệ sinh đường làng 38.0 45.0 17.0
Giúp đỡ hàng xóm 35.0 70.0 15.0
Thăm hỏi người ốm 26.0 60.0 14.0
Nhìn vào bảng kết quả trên cho ta thấy cả nam giới và nữ giới đều
tham gia và các công việc cộng đồng, ở mức tương đương nhau nhưng tùy
vào loại công việc mức độ tham gia khác nhau phù hợp với đặc điểm giới
tính. Như giúp đỡ hàng xóm, thăm hỏi người ốm thì người phụ nữ cao hơn
nam giới với mức là phụ nữ 70%, nam giới 35% . Thăm hỏi người ốm phụ
nữ 60% và nam giới 26%, mức độ cả hai cùng tham gia là rất thấp.Sự tham
gia của phụ nữ trong các công việc này đã trở thành quen thuộc, dường
như đã ăn sâu vào từng nếp sống, suy nghĩ của người dân nơi đây. Họ
thường cho rằng công việc nhà phụ nữ phải đảm nhiệm thì dọn về sinh
đường làng ngừ xúm là việc đương nhiên, vì nếp suy nghĩ một con đường
sạch hay bẩn cũng giống như một căn nhà có gọn gàng và sạch sẽ hay
không. Khi đó dư luận lại đánh giá người phụ nữ. Đõy chớnh là một sự bất
bình đẳng giới bắt nguồn từ những suy nghĩ lệch lạc và thiếu khách quan
của người dân trong xã.
2.2.2 Vấn đề bạo lực gia đình đối với phụ nữ

nhận biết bạo lực gia đình qua những dấu tích để lại trên cơ thể mà có thể
nhìn thấy được đó là bạo lực gây tổn thương về thân thể, có tới 95% số
người cho đây là bạo lực, có 54% số người cho rằng sự ngăn cấm, cấm
đoán, đe dọa vô lý của người này đối với người kia, 78% số người cho
rằng sự chửi bới, lăng mạ, nhạo báng gây tổn thương tâm ý là bạo lực.
Như vậy cho ta thấy rằng con số này chiếm ưu thế hơn hẳn so với số %
còn lại, đồng nghĩa với nó đó là sự nhận thức đúng đắn của người dân về
tình trạng bạo lực trong gia đình.
2.2.3 Tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực trong gia đình
Để tìm hiểu tình trạng bất bình đẳng giới về quyền quyết định trong
gia đình chúng tôi đã đưa ra câu hỏi: “Ai là người nắm giữ và kiểm soát
những công việc sau trong gia đỡnh?” và thu được kết quả:
10
Bảng 4: Bình đẳng giới thông qua tiếp cận và kiểm soát nguồn lực
Lĩnh vực hoạt động gia đình. Vợ (%) Chồng
(%)
Cả hai (%)
Chi tiêu hàng ngày 80.0 12.0 8.0
Việc hôn nhân của con 24.0 58.0 18.0
Việc học, hướng nghiệp của con 14.0 72.0 14.0
Đứng tên sở hữu tài sản có giá trị 10.0 85.0 5.0
Mua sắm tài sản có giá trị đắt tiền 21.0 65.0 14.0
Nhìn vào bảng kết quả cho ta thấy, trong những lĩnh vực hoạt động
trong gia đình mức độ tham gia và quyền quyết định giữa người vợ và
người chồng rất khác nhau.Và có sự chênh lệch rất lớn giữa những công
việc mang tính lớn và nhỏ trong gia đình. Trong lĩnh vực chi tiêu hàng
ngày người dân cho biết co tới 80% thuộc về phụ nữ, người đàn ông với số
% rất ít 12% và cả hai chỉ có 8%. Như vậy, những công việc chi tiêu hàng
ngày như mua sắm vật dụng nhỏ, đi chợ…đúng vai trò là người “tay hũm
chỡa khúa”, là người nội trợ trong gia đình. Ngược lại trong các lĩnh vực

trạng bất bình đẳng đối với phụ nữ tại địa phương.
2.5.1 Thành tựu
Công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình được Hội liên hiệp phụ nữ
phối hợp với các ban ngành giao chỉ tiêu thi đua cho các chi hôi, đoàn thể,
thôn dân cư thực hiện.
Thực hiện công tác tuyên truyền vận động.
Hội liên hiệp phụ nữ xó đó phối hợp với trạm y tế tổ chức các lớp
tuyên truyền về chăm sóc sức khỏe sinh sản, truyền thông về ma túy,
HIV/AIDS.
2.5.2 Hạn chế
Công tác dân số đạt tỷ lệ sinh nhưng chưa bền vững.
Tình trạng bạo lục gia đình vẫn thường xuyên diễn ra, công tác hòa
giải chưa mang lại hiệu quả cao.
Số phụ nữ tham gia lãnh đạo và là đản viờn cũn hạn chế.
2.5.3 Nguyên nhân của hạn chế
Ảnh hửong nặng nề của quan niệm truyền thống, tư tưởng trọng nam
khinh nữ.
12
Trình độ hiểu biết của phụ nữ hạn chế.
Hình thức tuyên truyền, sự quan tâm của các cấp lãnh đạo đến việc
tuyên truyền, giáo dục cho phụ nữ chưa thật sự chú trọng và quan tâm
đúng mức.
Kết luận chương II:
Từ việc nghiên cứu tình trạng bất bình đẳng giới đối với phụ nữ
trong gia đình nông thôn tại xó Tõn Lập huyện Sụng Lụ tỉnh Vĩnh Phỳc
trờn cỏc khía cạnh, lĩnh vực khác nhau trong tổ chức cuốc sống gia đình
như phân cụng cụng vệc gia đình, kế hoạch hóa gia đình, vấn đề bạo lực
trong gia đình hay tình trạng nắm quyền quyết định công việc trong gia
đỡnh…đó cho tác giả thấy được tình trạng bất bình đẳng. Từ đó tìm hiểu
nguyên nhân và những biện pháp đã thực hiện tại địa phương, những thành

3.2. Vận dụng phương pháp công tác xã hội nhóm xây dựng mô
hình can thiệp nhằm giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng giới đối với
phụ nữu trong gia đình nông thôn ở xó Tõn Lập huyện Sụng Lụ tỉnh
Vĩnh Phúc hiện nay.
3.2.1 Vai trò của Công tác xã hội nhóm nhằm giảm thiểu tình trạng
bất bình đẳng đối với phụ nữ trong gia đình nông thôn tại xó Tõn Lập
huyện Sụng Lụ tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay.
3.2.2 Những kĩ năng của nhân viên xã hội khi xây dựng mô hình
nhằm giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng giới đối với phụ nữ trong gia
đình .
3.2.3 Vai trò của nhân viên xã hội trong việc phát huy nguồn lực
công tác xã hội nhóm.
3.2.4 Xây dựng mô hình Câu lạc bộ “ Đồng cảm” nhằm giảm thiểu
tình trạng bất bình đẳng giới đối với phụ nữu trong gia đình nông thôn xó
Tõn Lập huyện Sụng Lụ tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay. (Điển cứu tại thụn Võn
Nhưng xó Tõn Lập).
Mô hình câu lạc bộ “Đồng cảm” được xây dựng và hoạt động trong
vòng một tháng. Với mục đích chung của nhúm: Giỳp cho các thành viên
trong nhóm bước đầu cú thờm kiến thức, kỹ năng và các biện pháp về
chăm sóc sức khỏe sinh sản, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn gia đình hướng
tới xây dựng một cuộc sống gia đình hạnh phúc cho các thành viên trong
nhóm.
14
Các hoạt động của câu lạc bộ được nhân viên xã hội cựng các thành
viên trong nhúm cựng thảo luận và đưa ra quyết định chung dựa trên
nguyên tắc đồng thuận, tập trung, tôn trọng lẫn nhau.
Các hoạt động của câu lạc bộ tập trung vào hai vấn đề lớn. Đó là, thứ
nhất nâng cao kỹ năng chăm sóc sức khỏe sinh sản, thứ hai là cung cấp các
biện pháp phòng chống nạn bạo hành gia đình. Dưới sự hướng dẫn của
nhân viên xã hội các thành viên trong câu lạc bộ đã cùng nhau trao đổi,

phong kiến “trọng nam khinh nữ” và sự tồn tại khá đậm nét của các quan
niệm, tư tưởng văn hóa và phong tục truyền thống đã hạn chế khả năng
học hỏi, khả năng vươn lên đóng góp công sức và tài năng của người phụ
nữ cho xã hội nói chung và trong gia đình nói riêng. Thực hiện bình đẳng
giới đối với phụ nữ trong gia đình có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát
triển của toàn xã hội, bởi gia đình là tế bào của xã hội, gia đình giàu có thì
xã hội mới mạnh khỏe. Hơn nữa, phụ nữ chiếm ẵ dân số cả nước, họ có
khả năng cống hiến sức lục và trí tuệ cho sự phát triển xã hội, phát triển
đất nước. Nhận thức được tầm quan trọng của phụ nữ, Đảng và Nhà nước
đã tăng cường, đẩy mạnh công tác tuyên truyền luật bình đẳng giới đến với
người dân.
Xã Tân Lập với tinh thần chịu thương chịu khó của người dân, hòa
chung với đà phát triển chung của đất nước nền kinh tế xó cú phát triển
hơn trước nhưng do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, nhận thức và văn hóa
của người dân nơi đõy đó làm hạn chế, ảnh hưởng đến quá trình phát triển.
Đặc biệt là phụ nữ trong xã, chưa được quan tâm đúng mức để tiếp cận cơ
hội học hỏi và phát triển, hạn chế khả năng đóng góp của phụ nữ cho xã
hội và thụ hưởng những thành quả xã hội. Qua khảo sát, nghiên cứu tại địa
bàn đã phản ánh đúng thực trạng đó.
Công tác xã hội là một ngành nghề rất mới đối với nước ta, nhất là ở
những vùng nông thôn, vựng sõu, vựng xa. Mà ở đây chỉ hoạt động với
các hoạt động từ thiện, giúp đỡ nhau trong cuộc sống hàng ngày, và làm
việc theo nhóm theo nhu cầu và mục đích chung của một nhóm người. Đú
chớnh là cơ sở để làm việc theo nhóm khi vận dụng các kiến thức trong
công tác xã hội nhóm vận dụng tại địa phương. Tại địa bàn nghiên cứu,
chính quyền địa phương đã áp dụng các biện pháp để nâng cao tính bình
đẳng giữa phụ nữ và nam giới cũng như nâng cao vị thế, vai trò của phụ nữ
16
trong gia đình cũng như ngoài xã hội đóng góp bằng thể lực và trí tuệ
nhưng chưa mang lại hiệu quả cao nhưng hiệu quả mang lại chưa cao.

7. Báo cáo tổng kết công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình năm 2010,
Hội liên hiệp phụ nữ xó Tõn Lập.
8. Báo cáo quốc gia lần thứ 2 về tình hình thực hiện Công ước Liên Hợp
Quốc xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ
(CEDAW), Nxb Phụ nữ, 1999
9. Bình đẳng giới trong lao động- một số vấn đề đặt ra với lao động nữ,
Tạp chí phụ nữ, số 12- 2010
10. Kim Văn Chiến, Nguyễn Thị Mai Hồng, Tập bài giảng giới và phát
triển, Nxb Hà Nội.
11. Ngô Tuấn Dung (2005), “Giới và việc làm trên thị trường lao động-
Một số tiếp cận lý thuyết”, Tạp chí khoa học về phụ nữ, Tr.10-20.
12. Ngô Tuấn Dung (2003), “Định kiến giới nhìn từ góc độ tâm lý xã
hội”, Tạp chí khoa học và phụ nữ, Tr.16-24.
13. Mai Huy Bích, Giáo trình xã hội học về giới, Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội. Hà Nội, 2009
14. Kế hoạch hành động Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến
năm 2000, Nxb Phụ nữ, 1999
15. Nguyễn Thị Mai Hồng (2009), Tập bài giảng Lý luận công bằng và tiến
bộ xã hội, Hà Nội
16. Nguyễn Thị Thái Lan (2008), Giáo trình công tác xã hội nhóm, Nxb
Lao động- Xã hội
17. Cỏc Mác- Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị Quốc Gia
18. Cỏc Mác và Ăngghen (1970), Với vấn đề giải phóng phụ nữ, Nxb Sự
thật.
19. Cỏc Mác, (1987), Vấn đề hôn nhân và gia đình, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.
20. Dương Thị Minh (2004), Gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ
nữ trong gia đình hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia.
18
21. Một số luật và công ước quốc tế liên quan đến quyền phụ nữ và trẻ
em, Phụ nữ, 1999.

phóng dân tộc, Nxb Phụ nữ.
37. Hoàng Bá Thịnh (2005), Bạo lực giới trong gia đình và vai trò của
truyền thông đại chúng trong sự nghiệp phát triển đất nước, Nxb Thế
giới.
38. Bùi Thị Tỉnh (2010), Phụ nữ và giới, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội.
39. Đỗ Thị Thạch (2003), Bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ ở Việt
Nam hiện nay, Tạp chí Lý luận, số 8.
40. GS. Lê Thi (1998), Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt
Nam hiện nay, Nxb Phụ nữ.
41. Phạm Hạnh Sâm (2009), “Định kiến giới- rào cản đối với sự tiến bộ
và phát triển của phụ nữ Việt Nam”, Tạp chí cộng sản, số 19.
42. Hà Thị Thanh Vân (2011), Thực hiện bình đẳng giới vì sự phát triển
xã hội và nâng cao vị thế của phụ nữ, Tạp chí phụ nữ, số 1 (2011)
43. “Tạp chí nghiên cứu gia đình và giới”, số 2 (2007).
44. “Tạp chí phụ nữ và tiến bộ”, số 10 (2010)
45. Website: - Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam.
- />- />919846560/Bat_binh_dang_gioi_o_Viet_Nam_dang_dan_duoc_cai_thien.
html
- />%B3ng-gi%E1%BB%9Bi.
- />trong-quan-tri.
- />- />- />20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status