vận dụng phương pháp Công tác xã hội nhóm với trẻ khiếm thị tại trường Nguyễn Đình Chiểu Hà Nội - Pdf 24

Lời mở đầu
Xã hội ngày một phát triển, chất lượng cuộc sống của con người mỗi ngày
được nâng cao. Có thể nói, xã hội hiện đại đã tạo những điều kiện tốt nhất cho mọi
cá nhân phát triển, song bên cạnh đó vẫn còn những con người có hoàn cảnh khó
khăn, chịu nhiều thiệt thòi do sự khiếm khuyết của cơ thể. Cuộc sống và sự phát
triển của người khuyết tật từ lâu đã là mối quan tâm lớn của nhà nước và xã hội.
Làm thế nào để người khuyết tật nói chung và trẻ khiếm thị nói riêng có được một
cuộc sống như mọi công dân khác là một thách thức không nhỏ cần phải vượt qua
của nhà nước, xã hội và của chính người khuyết tật.
Nhà nước ta đã có rất nhiều chính sách để giúp người khuyết tật nói chung và trẻ
khiếm thị hòa nhập cộng đồng, có điều kiện phát triển như mọi người trong xã hội, tuy
nhiên để công tác hỗ trợ này phát huy hiệu quả thì còn rất nhiều khó khăn cần giải
quyết. Những khó khăn ấy đang là vật cản trên bước đường an sinh xã hội, chính sách
an sinh xa hội dành cho người khuyết tật đều mang ý nghĩa nhân văn cao cả giúp người
khuyết tật hòa nhập xã hội.
Với lí do trên và qua tìm hiểu thực tế về nhu cầu giao lưu, giao tiếp của trẻ
khiếm thị, qua đó góp phần định hướng cho sự hình thành nhân cách lành mạnh
của các em. Đồng thời là sinh viên khoa Công tác xã hội, trường Đại học sư phạm
Hà Nội trong khuôn khổ của môn học Công tác xã hội với người khuyết tật và tính
cấp bách của vấn đề, em đã chọn đề tài “vận dụng phương pháp Công tác xã hội
nhóm với trẻ khiếm thị tại trường Nguyễn Đình Chiểu Hà Nội”.
Em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Hiệp Thương đã tận tình giảng
dạy cho chúng em môn Công tác xã hội với người khuyết tật để làm nền tảng và
hành trang sau khi chúng em ra trường.
Do phạm vi nghiên cứu và thời gian tìm hiểu có hạn nên đề tài không thể
tránh được những thiếu sót, hạn chế. Em rất mong sự đóng góp ý kiến của giáo
viên hướng dẫn – Th.s Nguyễn Hiệp Thương để bài tiểu luận của em được hoàn
chỉnh. Em xin chân thành cảm ơn.
Chương 1: Các khái niệm liên quan
1. Khái niệm công tác xã hội
Công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp được thực hiện trên nền tảng

thị là mắt không còn đủ khả năng nhận biết thế giới hữu hình ở xung quanh con
người với cự ly từ gần đến xa, hoặc nhìn thấy không rõ ràng.
Người bình thường có thị lực bằng 1ViS: Thị trường ngang( góc nhìn bao quát
theo chiều ngang) cả hai mắt là 180 độ, một mắt là 150 độ; thị trường dọc( góc
nhìn bao quát theo chiều đứng) là 110 độ.
Trẻ khiếm thị bao gồm các thể loại: mù và nhìn kém. Đó là những trẻ có thị lực
trong khoảng từ 0 đến 0,3 ViS sau khi đã đeo kính hỗ trợ.
* Trẻ bị mù được chia thành 2 loại:
+ mù hoàn toàn, thị lực ViS = 0, thị trường bằng 0. Mắt không còn khả năng phân
biệt ánh sáng và bóng tối.
+ mù thực tế, thị lực còn lại từ 0,005 đến 0,04 ViS, thị trường còn khoảng từ 10 độ
đến 15 độ. Mắt còn khả năng phân biệt được ánh sáng và bóng tối nhưng không
rõ.
Loại trẻ này phải học chữ nổi( chữ Braille).
* Trẻ nhìn kém có các mức độ:
+ Nhìn quá kém: thị lực còn lại từ 0,04 đến 0,05 ViS. Trẻ rất khó khăn trong học
tập, nếu thiếu phương tiện hỗ trợ mắt, các em phải học chữ nổi.
+ Nhìn kém: Thị lực còn từ 0,05 đến 0,08 ViS. Trẻ cần được giúp đỡ thường
xuyên trong sinh hoạt và học tập.
+ Nhìn kém không đáng kể: Thị lực còn từ 0,09 đến 0,3 ViS. Những trẻ này có
khả năng tự phục vụ, lao động, định hướng di chuyển trong không gian và học
cùng với trẻ sáng mắt, ít cần sự giúp đỡ thường xuyên của mọi người.
2. Nguyên nhân trẻ khiếm thị
Trẻ bị khiếm thị do nhiều nguyên nhân. Những nguyên nhân chính sau đây
gây tật khiếm thị:
Trẻ mù bẩm sinh thường do những nguyên nhân đó là di truyền gen; bố hoặc mẹ
bị nhiễm chất độc hoá học; mẹ bị cúm lúc mang thai hoặc bị tai nạn gây chấn thương thai
nhi, thiếu vitamin A… Điều này sẽ dẫn đến tình trạng khô giác mạc nhưng cũng có thể
do các nguyên nhân khác:
- Do bệnh giang mai (của mẹ) hay nhiễm trùng bệnh lậu.

Người bị khiếm thị muộn thì họ một mặt có thời gian sáng mắt càng lớn, do
đó có được nhiều ấn tượng cuộc sống, giúp cho họ trong quá trình tư duy, nhận
thức, mặt khác thì khả năng thích ứng với cuộc sống trong điều kiện mới sẽ giảm
sút vì càng về già thì các giác quan càng kém tinh tế, khó học tập. Ngược lại, càng
bị khiếm thị sớm thì một mặt họ có ít thời gian sáng mắt hơn do vậy mà kinh
nghiệm cuộc sống có thể ít hơn nhưng việc rèn luyện khả năng thích ứng với hoàn
cảnh mới lại dễ hơn, thuận lợi hơn.
Người khiếm thị trong tuổi già (tuổi sau lao động ): đối với những người
này, một mặt khả năng thích ứng với hoàn cảnh mới kém hơn rất nhiều, mặt khác
họ cũng có ít nhu cầu hơn, hoặc không còn bức thiết.
4.1. Điểm yếu của trẻ khiếm thị
Theo nghiên cứu thì người bình thường lượng tiếp nhận thông tin qua các
giác quan như sau: thị giác 80%, thính giác 15%, xúc giác 4%, khứu giác và vị
giác 1%. Với con mắt, người ta có một lợi thế vô cùng lớn trong việc tiếp nhận
thông tin. Với đôi mắt, người ta có thể nhìn gần, nhìn xa, nhìn rộng hay nhìn tập
trung, nhìn tổng thể hay nhìn vào từng chi tiết như màu sắc sáng tối, đậm nhạt,
hình dáng to nhỏ, sần sùi hay nhẵn, kích thức rộng hẹp, có thể thông qua mắt để
biểu đạt trạng thái tình cảm như một phương tiện giao tiếp, hay nhận biết các trạng
thái tình cảm, cử chỉ, hành động từ người khác. Hơn nữa trong thời đại bùng nổ
của khoa học công nghệ và thông tin người ta đã sáng chế ra nhiều máy móc, thiết
bị giúp cho khả năng của mắt tăng gấp bội như máy tính, máy hiển vi, kính thiên
văn, máy ảnh, ti vi, internet, hoặc lượng sách, báo, truyền hình có mặt ở mọi nơi
với đa dạng số lượng, và chủng loại thông tin.
Như vậy đối với người khiếm thị thì chỉ có thể tiếp nhận thông tin qua 4
giác quan còn lại, chủ yếu vào thính giác và xúc giác. Khi bị mù mắt thì lượng
thông tin tiếp nhận do các giác quan còn lại có thể tăng lên song không đáng kể. Ở
đây, nếu lượng thông tin và cảm xúc được tiếp nhận nhiều, chất lượng tốt thì sẽ
giúp cho họ nhận thức, hành động tốt và ngược lại. Do đó, cơ sở tiếp nhận thông
tin đối với họ rất quan trọng. Đặc biệt đối với trẻ em, trong giai đoạn hình thành và
hoàn thiện nhân cách, tiếp nhận các kinh nghiệm và tri thức để có thể bước vào

mù có thể học văn hoá thông qua chữ nổi Braile.
Thính giác cũng là giác quan quan trọng đối với người mù. Với thính giác
người mù có thể tiếp nhận thông tin qua các âm thanh, nhận biết và giao tiếp với
người xung quanh qua giọng nói, qua tiếng động. Với thính giác, người mù cũng
có thể học âm nhạc và trở thành những người chơi đàn thành thạo. Nhiều trẻ mù
có năng khiếu về âm nhạc, một số đã trở thành nhạc sỹ, nhạc công nổi tiếng. Tuy
nhiên, không phải trẻ mù nào cũng sẽ trở thành nhạc sỹ hay nhạc công nổi tiếng.
Năng khiếu âm nhạc được phát triển hay không phải dựa vào khả năng của từng
em, cộng với vốn văn học, âm nhạc và khả năng cảm thụ, thẩm mỹ. Bởi vậy, trẻ
mù cần được học tập và hoà nhập với cộng đồng càng sớm càng tốt.
Nếu được giáo dục trong môi trường thuận lợi trẻ sẽ phát triển tư duy, phát
triển khả năng sáng tạo như mọi trẻ khác. Trẻ có thể làm được nhiều nghề: từ lao
động chân tay( trồng cây, chăn nuôi, thủ công mỹ nghệ, cơ khí ) đến lao động trí
óc( nghiên cứu khoa học, sáng tác, giảng dạy ). Trong cuộc sống hàng ngày, trẻ
sống chân thực, khiêm nhường, kỷ cương
Với trẻ nhìn kém, mắt vẫn là giác quan chính để tri giác thế giới thế giới
bên ngoài. Do đó, trẻ vẫn chủ động trong mọi hoạt động. Chúng ít cần sự giúp đỡ
thường xuyên của người khác.
Tuy nhiên, trẻ nhìn kém gặp không ít khó khăn trong học tập và sinh hoạt
như: chữ viết trên bảng, đồ dùng học tập chưa đủ kích thước và màu sắc để mắt
cảm nhận đầy đủ và chính xác thì khong thể nhìn thấy
Chương 3: Công tác xã hội nhóm với trẻ khiếm thị
1. Lí do sử dụng phương pháp công tác xã hội nhóm với trẻ khiếm thị
Các em học tập với nhau, chịu sự quản lý và có điều kiện chăm sóc như
nhau tại trường, lớp.
Các em là một nhóm có chung vấn đề về thể chất là bị khiếm thị, tuy rằng
mức độ bệnh tật, khả năng mẳt của các em có phần khác nhau.
Các em có chung vấn đề về nhu cầu giao tiếp, tiếp xúc với mọi người các
em mong muốn được vui chơi, chia sẻ.
Các em có chung vấn đề về nhận thức: thiếu nguồn cung cấp thông tin và

xác định mục tiêu của nhóm như: Nhóm chúng ta muốn đạt được cái gì? Nhóm
viên có nguyện vọng gì? Hay có suy nghĩ gì khi tham gia thành lập nhóm?
- Nguồn lực: Các em đều hết sức nỗ lực học tập, luôn muốn vươn lên hòa nhập
cộng đồng đồng thời luôn nhận được sự dạy dỗ nhiệt tình của các thầy cô giáo
trong trường cũng như các bạn học cùng lớp.
2.2. Xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm
Số buổi Nội dung hoạt động Thời gian
dự kiến
Người chịu
trách nhiệm
Buổi 1 - Quan sát lớp học.
- Tổ chức chơi trò chơi cho các em.
- Tập vỗ tay theo nhịp.
Từ đó quan sát các em, thiết lập mối quan
hệ với các em.
1/3/2012 Nhân viên
Công tác xã
hội
Buổi 2 - Xin phép thầy cô giáo cho gặp các em và
mời các em tham gia vào việc thành lập
nhóm
- Nêu lên mục đích hoạt động của nhóm
- Quyền lợi và nghĩa vụ của từng thành
viên
6/3/2012 Nhân viên
Công tác xã
hội
Buổi 3 - Giới thiệu các thành viên trong
nhóm
- hát tập thể một số bài

- Dạy các em về nguyên tắc lắng
nghe trong sinh hoạt.
- Thảo luận về vấn đề nhóm đang
gặp phải và từng thành viên suy
nghĩ hướng giải quyết vấn đề
19/3/2012 Nhân viên
Công tác xã
hội
Buổi 7 - Tổ chức cuộc thi kể chuyện
- Các thành viên đưa ra hướng giải
quyết vấn đề và thống nhất hướng
giải quyết
- Phân công công việc cụ thể cho
từng thành viên
22/3/2012 Nhóm
trưởng cùng
sự trợ giúp
của nhân
viên Công
tác xã hội
Buổi 8 - Chia sẻ thông tin, kinh nghiệm giữa
các thành viên trong nhóm
- Tăng cường cam kết thực hiện giữa
các thành viên trong nhóm
27/3/2012 Một thành
viên bất kỳ
trong nhóm
cùng với sự
giúp đỡ của
nhân viên

thấy. Và cũng không nên cho rằng trẻ em nói chung và trẻ em khiếm thị nói
riêng chỉ biết chơi mà thôi.
Trẻ khiếm thị có những khó khăn trong quá trình tiếp nhận thông tin bởi vì
trẻ sống trong một thế gới ảo, trẻ sẽ không biết những gì xảy ra xung quanh
nếu như trẻ không nhận được sự giáo dục cẩn thận và chu đáo từ phía giáo viên
và phụ huynh.
Hãy tạo cho trẻ khiếm thị có cảm giác trẻ cũng là thành viên có ích trong
gia đình mình; trẻ có những người bạn và cũng làm được điều gì đó đem lại lợi
ích cho người khác.
Trẻ nhìn kém hay trẻ mù đều có khả năng học. Vì vậy những ai giao tiếp
với trẻ cũng nên suy nghĩ một cách cẩn thận về việc làm thế nào tạo ra môi
trường an toàn và tin cậy cho trẻ. Một môi trường mà trẻ cảm thấy là trẻ có thể
vươn tới bằng sự vận động của mình và môi trường xã hội. một nơi trẻ cảm
thấy mình có đủ khả năng.
Giúp trẻ biết trước các việc cần làm thông qua những công việc hàng ngày.
Trong cuộc sống mọi người cần có kế hoạch riêng cho mình. Nếu chúng ta
thức dậy vào buổi sáng và không biết mình sẽ đi làm, đến bệnh viện hay dự
tiệc, chúng ta sẽ cảm thấy không thoải mái. Vì thế điều quan trọng là chúng ta
nghĩ ra những cách để giúp trẻ biết điều gì sẽ diễn ra trong ngày, tuần , tháng…
Hãy luôn luôn nhớ sử dụng mới phương tiện giao tiếp để giúp trẻ có thể hiểu
được.
Luôn luôn chia sẻ trong các hoạt động với trẻ. Trẻ khiếm thị thường không
hiểu được rằng mọi người thường đều làm những điều giống nhau. Ví dụ: một trẻ
nhỏ xem mẹ chải tóc trẻ bắt đầu nhận ra mình giống mẹ, bởi vì mình cũng chải
tóc. Để giúp trẻ khiếm thị hiểu được những khái niệm này, việc chia sẻ với trẻ
những hoạt động hàng ngày như vậy là điều quan trọng. Bạn và trẻ có thể luân
phiên chải đầu cho nhau. Các việc làm như vậy có thể được lặp đi lặp lại dễ dàng
trong nhiều hoạt động như ăn uống, mặc quần áo, mang giày…Dạy cho trẻ biết
những gì bạn đang làm và để trẻ làm theo sẽ trở thành những hoạt động gây hứng
thú cho trẻ.

chúng ta có thể nhận thấy trẻ khiếm thị cũng như trẻ khuyết tật luôn mong muốn
được vui chơi, được hòa nhập vào xã hội, rất nhiều em đã không ngừng cố gắng để
chiến thắng số phận, để khẳng định bản thân đồng thời cũng là đóng góp sức mình
vào xây dựng đất nước.
Tuy nhiên trẻ khiếm thị là những người yếu thế trong xã hội, trẻ cần thiết
phải được xã hội tạo điều kiện để hòa nhập cộng đồng, trang bị các kĩ năng cần
thiết để trẻ tiếp cận được với mọi người, có một cuộc sống như bao người lành lặn
khác. Để trẻ cảm nhận được ý nghĩa cuộc sống khi mình là một phần của cộng
đồng, là một người có ích cho xã hội. Đất nước ta đang trong thời kì hội nhập
mạnh mẽ, và mỗi chúng ta không cứ gì là trẻ khuyết tật hay lành lặn đều phải được
hưởng lợi từ xu thế hội nhập đó. Do vậy để trẻ khiếm thị nói riêng, người khuyết
tật nói chung hoà nhập cộng đồng cần sự chung tay của toàn xã hội. Trong cuộc
sống đã có rất nhiều tấm gương sáng chân dung về nghị lực vượt lên số phận phi
thường của người khuyết tật, đòi hỏi ở chúng ta những con người may mắn hơn
được cuộc sông ưu ái cho một cơ thể lành lặn không tật nguyền cần trợ giúp để
những người yếu thế ấy trong xã hội có cơ hội vươn lên khẳng định mình, thực
hiện ước mơ hoài bão.
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Duy Nhiên, Giáo trình Công tác xã hội nhóm, 2010
2. Nguyễn Thị Thái Lan, giáo trình Công tác xã hội nhóm, nxb Lao Động – xã
hội, 2008
3. Lê Hồng Thuỷ: Khả năng của người mù, Hội người mù Việt Nam, 1999.
4. Đề tài: “Công tác xã hội với nhóm trẻ khiếm thị (Nghiên cứu tại tỉnh hội người
mù Hà Tây) "


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status