MỞ ĐẦU
1. Phần mở đầu
Trong lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng minh rằng xã hội sẽ
không có những bước tiến ổn định, vững chắc nếu trong xã hội tồn tại một
bộ phận người đông đảo bị áp bức hoặc bị hạn chế vươn lên. Chính vì vậy
tạo quyền bình đẳng cho phụ nữ và bình đẳng giới đã trở thành mục tiêu phát
triển của thiên niên kỷ và điều này đã đánh dấu một bước tiến đáng kể của
nhân loại. Thế giới đã nhận thấy bình đẳng giới là một vấn đề quan trọng
không chỉ vì đó là mục tiêu mà đó là còn là yếu tố thiết yếu để đạt các mục
tiêu phát triển khác nhằm phát triển bền vững.
Bất bình đẳng giới là một trong những vấn đề được đặt ra từ lâu ở
nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt ngày nay tình trạng bất bình đẳng giới
diễn ra ngày càng phổ biến và nghiêm trọng không chỉ ở những nước có nền
kinh tế phát triển cao mà ở cả các quốc gia đang phát triển và chậm phát
triển. Nó đã trở thành vấn đề chung của toàn cầu và cần sự quan tâm của tất
cả các quốc gia trên thế giới.
Ở Việt Nam, xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự mở
của của nền kinh tế thị trường đã nâng cao đời sống nhân dân. Tuy nhiên,
vốn đi lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu, trình độ phát triển chưa cao, do
vậy phần nào những tư tưởng, những quan niệm đặc thù của nông nghiệp đã
làm hạn chế nhận thức của người dân về bình đẳng giữa các thành viên trong
gia đình, đặc biệt là với trẻ em gái và phụ nữ. Mặt khác, ở Việt Nam vẫn còn
tồn tại tư tưởng “trọng nam khinh nữ” từ thời phong kiến để lại. Đồng thời
do ảnh hưởng của Nho giáo mà vai trò của người phụ nữ Việt Nam vẫn chưa
phát huy xứng đáng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ đất nước, phát triển xã hội. Nữ giới vẫn đang bị đối xử
bất bình đẳng trong cả gia đình và ngoài xã hội dưới nhiều hình thức khác
nhau và là nạn nhân của nhiều tệ nạn xã hội. Hiện nay trong các chính sách
1
của Đảng và Nhà nước đã xây dựng, quy định đia vị, quyền của phụ nữ ngày
càng được chú trọng hơn. Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngay từ những ngày đầu
cách mạng đã quan tâm tới vấn đề này, coi việc giải phóng phụ nữ, nâng cao
vị thế của phụ nữ, thực hiện “nam nữ bình quyền” là một trong những mục
tiêu đấu tranh cơ bản của sự nghiệp các mạng. Điều đó được thể hiện bằng
các văn kỉện của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong hệ thống pháp luật và
chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hiện nay, với tâm huyết của các nhà khoa học cùng với sự hỗ trợ của
các tổ chức quốc tế, một số lý luận và thực tiễn nghiên cứu vấn đề giới- bình
đẳng giới đã nghiên cứu và có những giải pháp phù hợp, đúng đắn. Trong
những năm gần đây, việc nghiên cứu vấn đề giới đã được triển khai rộng rãi
và đồng bộ. Đã có rất nhiều cơ sở, các trung tâm, các khoa, bộ môn thuộc
chính phủ và phi chính phủ nghiên cứu và giảng dạy khoa học về giới.
Trong lĩnh vực nghiên cứu về giới: Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam,
Trung tâm nghiên cứu phụ nữ, Viện khoa học xã hội thành phố Hồ Chí
Minh, Viện nghiên cứu Thanh niên, Viện xã hội học, Trung tâm tư vấn và
phát triển, Trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ thuộc Viện
khoa học xã hội Việt Nam.
Trong lĩnh vực nghiờn cứu- giảng dạy có: Bộ môn nghiên cứu giới
Khoa học xã hội học, Học viện Báo chí tuyên truyền thuộc Học viện Chính
trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh…
Tổ nghiên cứu phải giảng dạy giới Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học
thuộc Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh cũng cú cỏc
công trình như: Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học (2007) “Những vấn đề giới:
từ lịch sử đến hiện tại”, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, Viện Chủ nghĩa xã
hội khoa học(2008), Kỷ yếu khoa học “Vai trò của hệ thống chính trị cơ sở
3
với việc thực hiện bình đẳng giới ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay”…
Các công trình nghiên cứu này đã nêu bật được quan điểm về giới và bình
đẳng giới của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mac-Lờnin, Hồ Chí
Minh,đồng thời đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam qua
bình đẳng giới trong hệ thống chính trị, đánh giá thực trạng bình đẳng giới,
trong đó có những số liệu về phụ nữ tham gia quản lý, lãnh đạo xã hội.
* Nhóm các công trình về phụ nữ trên lĩnh vực văn hóa- xã hội:
TS. Trần Thị Vân Anh và TS. Lê Ngọc Hùng (1996), “Phụ nữ, giới và
phát triển”, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.
Giáo sư Lê Thi (1998), “Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở
Việt Nam”, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.
Chu Thị Thoa (2001), “Bình đẳng giới trong gai đình Việt Nam trong
lịch sử”, Tạp chí khoa học về phụ nữ, số 05.
Các công trình trên đề cập đến những vấn đề khác nhau về phụ nữ, gia
đình gắn với yếu tố giới, bình đẳng giới trong xã hội phát triển, bước đầu đặt
cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu về giới, bình đẳng giới trong công cuộc
đổi mới ở nước ta hiện nay.
Các kết quả nghiên cứu của cỏc nhúm đề tài, công trình khoa học trên
đã đề cập đến vấn đề giới, vai trò của bình đẳng giới đối với sự phát triển xã
hội nói chung, ở các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, gia đình. Nhưng do
mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu khác nhau, vì vậy chưa có một công trình
nghiên, phân tích một cách toàn diện, hệ thống thực hiện vấn đề bình đẳng
giới hay bất bình đẳng giới đối với phụ nữ trong gia đình ở huyện Sụng Lụ
nói chung và ở xó Tõn Lập nói riêng, nhất là vận dụng các kỹ năng và
phương pháp của công tác xã hội và giải quyết vấn đề. Do vậy, tác giả chọn
đề tài “Vận dụng phương pháp công tác xã hội nhóm nhằm giảm thiểu tình
trạng bất bình đẳng giới đối với phụ nữ trong gia đình nông thôn tại xó Tõn
Lập- Sụng Lụ- Vĩnh Phúc hiện nay” là đề tài nghiên cứu của mình. Đây là
5
một vấn đề cần được giải quyết và phương pháp vận dụng giải quyết hoàn
toàn mới mẻ- Công tác xã hội nhằm phát huy vai trò của phụ nữ nông thôn
xó Tõn Lập trong sự nghiệp xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
phân công lao động trong gia đình, thu nhập chung trong gia đình; sinh con
và nuôi dạy con cái, ra các quyết định giải quyết các công việc gia đình, bạo
lực gia đỡnh…
Đề tài nghiên cứu được thực hiện ở các gia đình tại xó Tõn Lập- Sụng
Lụ-Vĩnh Phỳc
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Quan điểm chủ nghĩa Mác- Lờnin và tư tưởng Hồ Chí Minh về phụ nữ
và bình đẳng nam nữ .
Các chủ trương của chính sách của Đảng và nhà nước đối với vấn đề
bình đẳng giới .
Lý thuyết về giới và bình đẳng giới.
Lý thuyết về nhóm và công tác xã hội nhóm.
Các văn bản nghị quyết các cấp của tỉnh Vĩnh Phúc, Hội đồng nhân
dân các cấp, Uỷ Ban nhân dân các cấp của tỉnh Vĩnh Phúc, Hội Liên hịệp
phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc.
Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước và
ngoài nước.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu của đề tài đã đặt ra tác giả đã sử dụng kết hợp
nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ đạo là phương pháp phân tích
tài liệu tổng hợp, phương pháp phỏng vấn sõu cá nhân, phương pháp quan
sát, phương pháp điều tra xã hội học…
7
6. Đóng góp mới về khoa học của đề tài
Đề tài vừa có sự nghiên cứu về mặt lý luận, vừa có sự khảo sát thực
trạng vấn đề bất bỡnh đẳng giới trong một số lĩnh vực của đời sống kinh tế-
xã hội. Đặc biệt đề tài vận dụng phương pháp trong công tác xã hội nhóm để
nhằm giảm thiểu thực trạng bất bình đẳng giới đối với phụ nữ trong gia đình.
Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho đội ngũ cán bộ các
hệ này thay đổi theo thời gian, theo hoàn cảnh kinh tế và xã hội.
Những yếu tố ảnh hưởng tới sự thay đổi quan hệ giới trong xã hội tùy
thuộc vào sự vận động và phát triển của chớnh cỏc quan hệ xã hội. Cụ thể là
các quan hệ có liờn quan tới vấn đề dân tộc, giai cấp, chính trị, tôn giáo, lịch
sử, văn hóa, phong tục tập quán.
Giới tính là chỉ sư khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ, sinh ra
đó cú. Ví dụ như phụ nữ có thể mang thai và sinh con, nam giới thỡ khụng.
1.1.2 Phương pháp công tác xã hội nhóm
1.1.2.1. Công tác xã hội
Trên thế giới, Công tác xã hội đã được khẳng định là một ngành khoa
học độc lập, có đối tượng nghiên cứu riêng, có hệ thống lý luận, phương
9
pháp nghiên cứu riêng. Sự khẳng định này đã được thực tiễn kiểm nghiệm
khi Công tác xã hội đã hướng tới giúp đỡ các đối tượng khó khăn trong cuộc
sống, góp phần làm ổn định, tiến bộ xã hội. Sự hình thành và phát triển Công
tác xã hội là một tất yếu khách quan, vừa thể hiện nhu cầu thiết yếu về nó
trong xã hội hiện đại, đồng thời có mối quan hệ chặt chẽ với điều kiện kinh
tế xã hội, chính trị và văn hóa xã hội. Vì vậy, trong quá trình vận động với tư
cách là một khoa học và một hoạt động thực tiễn, ở những thời điểm khác
nhau, những quốc gia khác nhau, có những quan niệm khác nhau về Công
tác xã hội. Hiện nay, Công tác xã hội có sự phát triển rộng khắp thế giới, với
những xuất phát điểm, điều kiện lịch sử cụ thể, nền tảng văn hóa, mục đích
và bản chất chế xã hội có sự khác biệt nhất định, do đó xuất hiện nhiều quan
điểm, trường phái khác nhau khi nghiên cứu khoa học và nghề chuyên môn
Công tác xã hội
Năm 1970, Hiệp hội quốc gia nhân viên Công tác xã hội- NASW (Hoa
kỳ) định nghĩa: Công tác xã hội là hoạt động mang tính chuyên môn nhằm
giúp đỡ những cá nhân, cỏc nhúm, cộng đồng tăng cường hoặc khôi phục
năng lực thực hiện chức năng xã hội của họ và tạo ra những điều kiện thích
hợp nhằm đạt được mục tiêu ấy.
Để hình thành và duy trì nhóm cần có những điều kiện cơ bản: các
thành viên có chung mục đích và cùng chia sẻ trách nhiệm để đạt mục đích
đó; Giữa các thành viên có mối quan hệ tác động qua lại- sự tương tác thong
qua giao tiếp, sinh hoạt và hành động; Nhóm sinh haotj theo những quy tắc,
tiêu chẩn do nhóm tự thống nhất đề ra hoặc phải tuân theo (quy định, điều lệ
của tổ chức chuẩn mực đạo đức, pháp luật…). Mỗi thành viên có vị trí, vai
trò nhất định trong nhóm, trong suốt quá trình tồn tại nhóm, trong từng gia
đoạn và ở từng nhiệm vụ, hoạt động cụ thể.
Có nhiều cách hiểu, cách tiếp cận về Công tác xã hội nhóm, nhưng có
điểm chung thống nhất là sử dụng chung phương pháp công tác xã hội nhóm,
tiến trình sinh hoạt nhóm để tạo dựng, duy trì và tăng cường sự tương tác
11
giữa các thành viên của nhóm nhằm thay đổi thái độ, hành vi cá nhân một
cách tích cực, nâng cao khả năng giải quyết vấn đề, đáp ứng nhu cầu của mỗi
thành viên và của cả nhóm.
Công tác xã hội nhóm là một phương pháp của Công tác xã hội nhằm
tạo dựng và phát huy sự tương tác, chia sẻ kinh nghiệm, nguồn lực giữa các
thành viên, giúp củng cố, tăng cường chức năng xã hội và khả năng giải
quyết vấn đề, thỏa mãn nhu cầu của nhóm. Thông qua sinh hoạt nhóm mỗi
cá nhân hòa nhập phát huy tiềm năng, thay đổi thái độ, hành vi và khả năng
đương đầu với nam đề của cuộc sống, tự lực và hợp tác giải quyết vấn đề đặt
ra vì mục tiêu cải thiện hoàn cảnh một cách tích cực [21, 84].
1.1.3 Bình đẳng giới, bất bình đẳng giới
1.1.3.1 Bình đẳng giới
Là khái niệm biểu đạt sự đối xử như nhau của xã hội đối với nam và
nữ; là trạng thái (hay tình hình) xã hội trong đó phụ nữ và nam giới có vị trí,
vai trò ngang nhau. Được tạo điều kiện và phát huy năng lực của mình cho
sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành
quả của sự phát triển đó.
Bình đẳng giới được đề cập một cách toàn diện, trên mọi lĩnh vực của
hiện của chế độ thị tộc mẫu quyền là tất yếu trong một giai đoạn lịch sử nhất
định, bởi lúc đó lực lượng sản xuất còn thấp kém, con người sống chủ yếu
dựa vào của cải hái lượm (chiếm đoạt) của tự nhiên, sau đó nghề trồng trọt
xuất hiện. Trong các công việc đó phụ nữ tỏ rõ sự ưu trội và nổi bật hơn nam
giới. Do vậy người phụ nữ đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong gia đình
cũng như ngoài xã hội. Ph.Angghen viết “Chừng nào chế độ quần hôn còn
tồn tại thì dòng dõi chỉ có thể xác định được về bên mẹ mà thôi, và vì vậy chỉ
có nữ là được thừa nhận” [16,73]. Gia đình với chế độ mẫu hệ này, nữ bình
đẳng với nam giới, hơn nữa được tôn vinh và kính trọng.
Nhưng sự phát triển của lực lượng sản xuất đã chuyển nền kinh tế hái
lượm và trồng trọt sang nền kinh tế với nghề chăn nuôi săn bắn cho năng
13
suất lao động cao hơn trước. Trong nền sản xuất mới, đàn ông tỏ rõ ưu thế và
do đó có vai trò nổi trội hơn. Chế độ mẫu quyền dần thay thế bằng chế độ
phụ quyền.
Phụ nữ dưới chế độ chiếm hữu nô lệ bị coi là nô lệ, không có quyền
hành, là công cụ phục vụ cho giai cấp chủ nô. Hình thức đầu tiên của tình
trạng người bóc lột người. Đến cuối chế độ phong kiến địa vị người phụ nữ
có sự nâng lên cao hơn so với thơi kỳ chiếm hữu nô lệ, phụ nữ không bị coi
là nô lệ nhưng người phụ nữ trong thời kỳ này vẫn nhỏ bé, vẫn bị trà đạp bởi
những lễ giáo phong kiến. Người đàn ông có vị trí, vai trò tuyệt đối trong gia
đình, người phụ nữ phải chịu những lễ giáo như “tại gia tòng phụ, xuất giá
tòng phu, phu tử tong tử”, hay những phẩm chất cần phải có ở người phụ nữ
là “công, dung, ngôn, hạnh”. Dường như xã hội này không tạo ra được sự
bình đẳng giữa nam và nữ.
Trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa C.Mác đã đặt vấn đề giải
phóng phụ nữ là một trong những nội dung của cuộc cách mạng giải phóng
xã hội, giải phóng con người. Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã phát hiện
ra rằng chính sự phát triển của lực lượng sản xuất ở thời kỳ đại công nghiệp
sẽ mở ra con đường giải phóng phụ nữ, xác lập sự bình đẳng lâu dài, vững
đáng xấu hổ…, là phạm pháp, là cực kỡ dó man”. “Khinh rẻ phụ nữ và dã
man nhất là thúi đỏnh vợ”. Trong nhân dân và trong một số Đảng viên vẫn
còn thói xấu ấy. Thậm chia có cán bộ Đảng viên đánh vợ bị thương nặng khi
vợ mới ở cữ. Mẹ chồng và chị em chồng đã không can ngăn thì chớ lại còn
tham gia “thượng đấm tay, hạ đấm chõn”. Điều đáng trách nữa là trước
những hành động xấu xa và phạm pháp đó chi bộ, chính quyền và nhân dân
thường nhắm mắt làm ngơ”. [34,262].
“Nam nữ bình quyền”, mục tiêu này được Hồ Chí Minh đưa vào
chương trình của Mặt trận Việt Minh. Năm 1945, cách mạng tháng Tám
thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Từ đó, chủ tịch Hồ Chí
Minh nhiều lần tuyên bố với thế giới và quốc dân rằng “phụ nữ Việt Nam đã
15
được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do
của một cụng dõn”. Tiếp theo đó, tại Hội nghị cán bộ thảo luận Luật hôn
nhân và gia đình ngày 10-10-1959, Người nhấn mạnh “Hạt nhân của xã hội
là gia đình, chớnh vỡ muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý hạt
nhân cho tốt”. Người chỉ rõ “Giải phóng người đàn bà, đồng thời phải tiêu
diệt tư tưởng phong kiến, tư tưởng tư sản trong người đàn ông” [35,76].
Mục đích giải phóng phụ nữ, theo Hồ Chí Minh xét cho cùng là để
thực hiện bình đẳng của phụ nữ với nam giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ trên
tất cả các lĩnh vực hoạt động của xã hội, trong gia đình cũng như ngoài xã
hội. Công việc của phụ nữ phải được phân công một cách khoa học, phù hợp
với sức khỏe, năng lực, tính cách, chức năng tạo điều kiện phát huy khả
năng, ưu thế của phụ nữ trong việc xây dựng gia đình hạnh phúc và phát
triển xã hội.
Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng, tư tưởng trọng nam khinh nữ tồn tại không
chỉ trong nam giới mà cũn cú cả ở nữ giới. Người nói rằng phần nhiều đàn bà
con gái còn có tư tưởng thủ cựu, bảo thủ, tự ti, e dè ngại đấu tranh và đó
cũng là một trong những cản trở đối với công cuộc đấu tranh xóa bỏ tư tưởng
trọng nam khinh nữ.
cũng rất nghiêm khắc với các phụ nữ. Người nhắc nhở phụ nữ phải ý thực
được vai trò, vị thế của mình mà phấn đấu cho mình và cho dân tộc. Người
nói “Đảng, Chính phủ và Bác mong phụ nữ tiến bộ nhiều hơn nữa. Hiện nay
trong các ngành. Số phụ nữ tham gia cũn ớt. Vì vậy Người nhắc nhở phụ nữ:
không nên ỷ lại vào Đảng, chính phủ mà phải quyết tâm học tập, phát huy
sáng kiến, tin tưởng ở khả năng của mình, nâng cao tinh thần tập thể, đoàn kết
giúp đỡ nhau để giải quyết mọi khó khăn trong công tác chính quyền. Người
đã chỉ cho phụ nữ Việt Nam thấy rắng, muốn có sự bình đẳng thật sự không
nên chỉ trông chờ vào người khác mà bản thân chị em phụ nữ cần phải có chí
khí tự cường tự lập, phải nâng cao lên trình độ chính trị, văn hóa, kỉ luật.
17
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò, vị trí to lớn của
phụ nữ Việt Nam. Người luôn gắn nhiệm vụ giải phóng phụ nữ với giải
phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Người khẳng định
rằng trong chế độ xã hội chủ nghĩa, Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội
phải thực sự quan tâm đến phụ nữ, hỗ trợ, tạo điều kiện để người phụ nữ phát
huy tối đa tài năng, tiềm lực của mình. Đồng thời người phụ nữ muốn tiến
bộ, bình đẳng, hạnh phúc thật sự thì phải có ý chớ, cú quyết tâm, tích cực
học tập rèn luyện để có đủ đức, đủ tài tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã
hội.
1.2.3 Quan điểm của Đảng và Chính sách của nhà nước về vấn đề
bình đẳng giới
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm sự
nghiệp giải phóng phụ nữ trong mọi giai đoạn của cuộc cách mạng. Đảng ta
khẳng định thời kì đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc
tế, phụ nữ có tiềm năng to lớn, là động lực quan trọng để thực hiện mục tiêu
độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Sự nghiệp giải phóng phụ nữ
là trách nhiệm của Đảng, của Nhà nước, các đoàn thể nhân dân của toàn xã
hội và từng gia đình.
Thứ nhất: Giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ là một
ngành nhận thức đúng tình hình phụ nữ, vai trò của phụ nữ trong xã hội. Các
chỉ thị khác quan tâm nhiều đến công tác vận động phụ nữ tham gia vào các
công tác xã hội, bổ xung nhiều cán bộ cho Đảng ta là phụ nữ, xắp xếp lại tiểu
ban phụ vận nhằm giáo dục nam nữ bình đẳng. Ban bí thư cũng nhận thấy
cần phải có những điều lệ bảo vệ sức khỏe sức lao động cho phụ nữ.
Thứ hai: Phương hướng chỉ đạo sự nghiệp giải phóng phụ nữ, thực
hiện nam nữ bình đẳng để phát huy vai trò to lớn của phụ nữ trong xây dựng
đất nước và xây dựng gia đỡnh hạnh phúc.
Ngày 7/6 năm 1984 ban bí thư trung ương Đảng ra chỉ thị 44-CT/TW
đã khẳng định vai trò và những đóng góp to lớn của phụ nữ trong ba cuộc
19
cách mạng, trong đó sự trưởng thành của đội ngũ cán bộ nữ đã đánh dấu
bước tiến quan trọng của việc thực hiện bình đẳng nam nữ.Trờn cơ sở đó,
Đảng to đề ra một số chủ trương lớn để thực hiện mục tiêu bình đẳng nam
nữ; tiếp tục thực hiện nam nữ bình đẳng, nâng cao vai trò cán bộ nữ trong
việc quản lý kinh tế, quản lý nhà nước là một nội dung quan trọng để thực
hiện phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động…Những quan
điểm chính sách của Đảng đối với phụ nữ và cán bộ nữ cần phải được quán
triệt đến từng chi bộ từng Đảng viờn. Chỉ thị cũng đề ra hướng tăng cường
các công tác cán bộ nữ, coi đây là biện pháp quan trọng để thực hiện bình
đẳng nam nữ. Vấn đè cán bộ nữ phải đặt trong việc xây dựng và thực hiện
quy hoạch nói chung của Đảng và nhà nước, phải tuyển chọn cán bộ từ
những người ưu tú trong công nhân, nông dân, trí thức xã hội chủ nghĩa.
Điều quan trọng hơn mà chỉ thị này nhấn mạnh: sau khi đề bạt phải tiếp tục
bồi dưỡng, tạo điều kiện giúp chị em hoàn thành nhiệm vụ. Đảng cho rằng:
để phấn đấu xây dựng một xã hội công bằng văn minh, trước hết nữ giới phải
được bình đẳng với nam giới, trong đó bình đẳng trong lĩnh vực tham gia
quản lý, lãnh đạo. Đảng coi đây là dấu hiệu cao nhất của mức độ bình đẳng
nam nữ.
Đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
hơn nữa và chú ý tới khía cạnh giới trong công tác bồi dưỡng đào tạo cán bộ
đặc biệt là chú ý tới tri thức nữ. Đõy chớnh là bước phát triển về quan điểm
giới trong nhận thức của Đảng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng(1996) đã xây dựng
và thực hiện Chiến lược vì tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2000. “Đặc
biệt coi trọng việc đào tạo nghề, giúp đỡ chị em có việc làm, phát triển kinh
tế gia đình, cải thiện đời sống, bảo vệ sức khỏe phụ nữ và trẻ em. Quan tâm
phát triển Đảng và Nhà nước ở các cấp, các ngành”[22,125].
Đây là giai đoạn Đảng và Chính phủ ta đã cam kết với cộng đồng quốc
tế thực hiện Cương lĩnh hành động Bắc Kinh với mười một mục tiêu cụ thể
21
nhằm phát huy vai trò của nữ giới và thực hiện bình đẳng giới. Đảng ta đã chỉ
đạo Chính phủ xây dựng Chiến lược và Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của
Phụ nữ Việt Nam đến năm 2000. Lần đầu tiên nữ giới Việt Nam có một chiến
lược và kế hoạch hành động phát triển của riêng mình nhằm thúc đẩy sự phát
triển của nữ giới và thực hiện bình đẳng giới như đã cam kết với quốc tế.
Ngoài chiến lược và hành động đã nhấn mạnh phải có chiến lược phát triển
cho nữ giới, tạo việc làm, phát triển nghề nghiệp cho họ trong chiến lược tổng
thể phát triển của đất nước…Đõy chớnh là cơ sở, nền tảng để Nhà nước và
Chính phủ lồng ghép giới trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội
của quốc gia. Đây chớnh là sự cam kết trước hội đồng quốc tế và thúc đẩy sự
tiến bộ của nữ giới, thực hiện bình đẳng giới. Đảng đã chỉ đạo chính phủ thành
lập một tổ chức đặc biệt giúp chính phủ thực hiện các công tác bình đẳng giới.
Ủy ban Quốc gia vì sự nghiệp phụ nữ VIệt Nam đã ra đời trực thuộc chính
phủ, có chức năng cơ bản là tham mưu, tư vấn cho Đảng, Chính phủ về thực
hiện bình đẳng giới nhằm tạo tới một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng(2006) đã khẳng định:
“Nâng cao trình độ mọi mặt cả đời sống vật chất và tinh thần cho phụ nữ,
thực hiện bình đẳng giới. Tạo điều kiện cho phụ nữ thực hiện tốt vai trò của
người công nhân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con
xóa bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ nông thôn để đảm bảo cho phụ nữ. Trên
cơ sở bình đảng nam nữ được tham gia và hưởng lợi từ quá trình phát triển
nông thôn, đặc biệt các nước tham gia Công ước phải đảm bảo các quyền:
Tham gia xây dựng và thực hiện kế hoạch phát trriển ở tất cả các cấp;
Được tiếp cận các phương tiện chăm sóc sức khỏe thích hợp kể cả
thông tin, tư vấn và dịch vụ kế hoạch hóa gia đình.
Được hưởng lợi trực tiếp từ các chương trình bảo hiểm xã hội.
Được hưởng các loại hình giáo dục đào tạo chính quy và không chính
quy, kể cả các chương trình xóa mù chữ cũng như được hưởng mọi dịch vụ
khuyến nông và dịch vụ cộng đồng để nâng cao năng lực của mình.
23
Tổ chức cỏc nhúm tương trợ và hợp tác xã để được tiếp cận bình đẳng
với các cơ hội kinh tế thông qua việc làm công ăn lương và việc làm tự tạo.
Tham gia mọi hoạt động cộng đồng.
Được tiếp cận các loại hình tín dụng và vay vốn giành cho nông
nghiệp, các chương trình hỗ trợ thị trường, tiếp cận công nghệ phù hợp và
được đối xử bình đẳng trong việc cải cách ruộng đất cũng như trong các dự
án quy hoạch lại đất đai.
Được hưởng các điều kiện sống đầy đủ nhất là về vấn đề nhà ở, vệ
sinh điện nước, giao thông vận tải và thông tin liên lạc.
Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ký tham
gia Công ước vào ngày 29/7/1980 và được phê chuẩn vào ngày 27/11/1981.
Tuân thủ quy định của Công ước trong suốt những năm qua Việt Nam đã
tích cực tổ chức thực hiện và hoàn thành các báo cáo định kỳ về tình hình
thực hiện Công ước để trình lên Tổng thư ký Liên hợp quốc. Năm 2001,
chúng ta đã bảo vệ thành công các báo cáo quốc gia lần thứ 2,3 và 4 và được
ủy ban CEDAW đánh giá là tiến hành nội luật hoa CEDAW khá thành công
vì mục tiêu nâng cao quyền của phụ nữ trên thực tế.
1.2.5 Lý thuyết nền tảng của công tác xã hội nhóm và lý thuyết năng
động nhóm.
luật, đó là sự tiếp xúc gần gũi, bắt chước người khác và sự kết hợp cả hai.
Thuyết học tập xã hội được vận dụng trong công tác xã hội nhúm vỡ dựa trên
quan điểm rằng trong mọi trường hợp một người sẽ học tập hành vi của
người khác và hành vi này sẽ được củng cố.
Ngoài ra, thuyết nền tảng công tác xã hội cũn cú cỏc thuyết khác như
thuyết thực nghiệm xã hội, thuyết trao đổi xã hội, thuyết lãnh đạo, thuyết
xung đột xã hội, thuyết vai trũ… Cỏc thuyết đã đóng góp vai trò, là cơ sở
nền tảng cho việc hình thành công tác xã hội nhóm.
25