PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC
TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI MẶT HÀNG SỮA BỘT TRÊN
ĐỊA BÀN HÀ NỘI
3.1 Phương pháp hệ nghiên cứu:
3.1.1 Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập và tham khảo số liệu qua những kết quả điều tra trong các trang
web, các đề tài nghiên cứu trong nước và thế giới có nội dung liên quan,
các tài liệu của trường Đại Học Thương Mại.
3.1.2. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Phương pháp thống kê : Để thực hiện tổng kết số liệu thì chúng em thông
kê các số liệu thu thập được qua công tác thu thập số liệu thành dạng bảng,
trong quá trình thông kê số liệu chúng em chú trọng việc chọn lọc nguồn tin
cho chính xác và thống kê chính xác tránh sai lệch nhiều.
Phương pháp so sánh đối chiếu : sau khi đã thống kê số liệu theo dạng bảng
và sắp xếp phù hợp thì chúng em tiến hành so sánh đối chiếu số liệu qua
các năm các thời kỳ cụ thể để làm nổi bật nên tốc độ tăng doanh số từ hoạt
động cung cấp sữa bột của thành phố Hà Nội qua các năm và tốc độ tăng số
người tham gia vào cung cấp sản phẩm này phục vụ tốt cho công tác dự
báo…qua đó cho ta thấy được tầm quan trọng của sản phẩm sữa bột đóng
góp vào quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam.
Phương pháp phân tích tổng hợp : Sử dụng phương pháp duy vật biện
chứng để phân tích tổng hợp, ngoài ra còn sử dụng phương pháp logic và
phương pháp triển khai, quy nạp trong qua trình phân tích lí luận và thực
tiễn.
3.2 Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng nhân tố môi trường đến
QLNN đối với mặt hàng sữa bột trên địa bàn Hà Nội
3.2.1 Thực trạng thị trường sữa bột trên địa bàn Hà Nội
1 1
3.2.1.1 Tình hình cầu
Tính đến thời điểm 2010, dân số Hà Nội mở rộng tăng lên một cách nhanh
chóng, 6.472, 2 nghìn người (tính đến 31/12/2009 –tổng cục thống kê)thu nhập
60 60
Tổng 100 100
( Nguồn tổng hợp của nhóm nhiên cứu)
Nhu cầu về sữa còn tiếp tục gia tăng và tiềm năng phát triển thị trường sữa việt
Nam còn rất lớn. theo các chuyên gia kinh tế dự báo rằng, năm 2011 nhu cầu sữa
bột của người dân Hà Nội có thể tăng 55 % so với năm 2010, lên mức khoảng 67
nghìn tấn. trong giai đoạn 2011- 2015 bình quân tiêu thụ hàng năm có thể rơi vào
khoảng 85 nghìn tấn.Giai đoạn 2006- 2009, mức tiêu thụ sữa bình quân đầu người
đã tăng gấp rưỡi. đến năm 2010, chỉ tiêu này tiếp tục tăng 26.2 % so với năm
2009.Quy mô thị trường sữa. Quy mô tiêu thụ sữa của toàn thị trường vào năm này
đạt 1.257 triệu lít quy đổi. Bình quân mức tăng trưởng tiêu thụ sữa toàn thị trườ ng
giai đoạn 2001-2008 đạt 9,06%/năm. Trong thời gian qua, cùng với sự tăng
trưởng của nền kinh tế, đời sống nhân dân được cải thiện đã thúc đẩy thị trường
sữa trong nước có sự tăng trưởng cao, với tốc độ bình quân khoảng 9,06%/năm từ
năm 2000 đến nay. Tiêu thụ sữa bình quân đầu người tăng bình quân 7,85%/năm,
từ 8,09 lít/người năm 2006 lên 14,81 lít/người năm 2010.
Cụ thể, ta thấy được mức tiêu thụ sữa trên địa bàn Hà Nội trong khoảng thời gian
gần đây như sau:
Tiêu chí 2006 2007 2008 2009 2010
3 3
Dân số (triệu người) 5.824 6.164 6.233 6.301 6.37
TT sữa nội địa(triệu lít
quy đổi)
47.116 75.324 79.22 92.94 94.34
TTbình
quân(lit/người/năm)
8.09 12.22 12.71 14.75 14.81
Bảng 3. 2: Mức tiêu thụ sữa trên địa bàn Hà Nội trong một số năm .
(Xử lý theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan)
vẫn chưa đủ men để chuyển hóa các loại protein phức hợp có trong sữa bò tươi.
Khi đó, chúng không chỉ gây “quá tải” cho dạ dày của trẻ mà nghiên cứu còn cho
thấy chúng làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường (đặc biệt là trong những gia
đình có tiền sử mắc bệnh này) đồng thời trẻ cũng dễ mắc các bệnh dị ứng như
eczema và hen.
Tóm lại, với nhu cầu ngày càng gia tăng như vậy, thị trường sữa Việt Nam
nói chung và thị trường sữa ở Hà Nội nói riêng sẽ ngày một phát triển và các
doanh nghiệp sẽ ngày một đa dạng hoá các loại sản phẩm phục vụ nhu cầu tiêu
dùng.
3.2. 1.2.Tình hình cung
Theo Cục Quản lý cạnh tranh, sữa là một trong những mặt hàng có tốc độ tăng
trưởng nhanh nhất và khá ổn định trong các ngành thực phẩm tại Việt Nam, với tỷ
suất lợi nhuận tương đối cao. So với các nước trong khu vực, các đánh giá của một
số công ty nghiên cứu thị trường cũng cho biết thị trường sữa bột Việt Nam tăng
trưởng khá cao so với nhiều nước.
Cũng như các thành phố lớn khác, đặc biệt là thị trường Hà Nội khả năng tiêu thụ
các sản phẩm sữa là rất lớn để đáp ứng nhu cầu đó, các doanh nghiệp Việt Nam
không ngừng gia tăng và mở rộng về thị trường và chủng loại thêm phong phú đa
dạng. Để đáp ứng đủ nhu cầu của người tiêu dùng, thị trường sản xuất trong nước
5 5
không thể cung cấp xuể, vì vậy ngoài việc kinh doanh các mặt hàng sản xuất trong
nước thì các doanh nghiệp vẫn phải đảm bảo nhập khẩu đủ lượng sữa tiêu dùng.
Ngoài ra, còn một lượng hàng khác được nhập qua đường hàng xách tay; một số
doanh nghiệp cũng nhập khẩu một vài tấn đến vài container để phân phối bán lẻ,
tuy nhiên những dạng kinh doanh này chiếm tỷ trọng rất nhỏ trên thị trường.
Kim ngạch nhập khẩu sữa bột liên tục tăng mạnh trong những năm qua. Năm 2007
có gần 7,1 triệu hộp sữa bột được nhập khẩu vào Viêt Nam,vào thị trường Hà Nội
là 2.1 triệu hộp, đến năm 2008 đã tăng thêm 17,3% lên trên 3,23 triệu hộp…
Đánh giá về tiềm năng phát triển của thị trường, Cục Quản lý cạnh tranh cho rằng,
với tốc độ tăng dân số khoảng 1,2%/năm; GDP tăng trưởng 6-8%/năm và tỷ lệ trẻ
2 Dutch Lady 18.7 25.3
3 Mead Johnson 9.7 7.6
4 Vinamilk 8.6 15.5
5 Nestle 2.9 3
6 Fonterra brands 4.8 5.0
7 Dumex 4.6 3.3
8 Nutifood 3.1 5.6
9 Arlafood 0.9 0.7
(Thông tin do các doanh nghiệp sữa cung cấp tại các buổi trao đổi, làm việc do
Cục QLCT tổ chức.)
Theo nhận định của các chuyên gia marketing và chuyên gia thị trường ngành sữa
thì hiện nay các sản phẩm sữa bột trên phân đoạn thị trường sữa bột cao cấp không
nhiều, tập trung chủ yếu trên các phân đoạn thị trường trung cấp và bình dân. Và
mức giá bán hiện tại giữa các nhóm sản phẩm sữa bột trên các phân đoạn thị
trường này chênh lệch nhau vào khoảng 20% hoặc hơn.(Ý kiến thu thập được
trong quá trình trao đổi, phỏng vấn giữa nhóm nghiên cứu với các chuyên gia
marketing, chuyên gia phát triển thị trường tại các hãng sữa.).Theo báo cáo kim
ngạch nhập khẩu sữa của Tổng cục Hải quan, mặt hàng sữa nguyên liệu và sữa
thành phẩm nhập khẩu trong các năm 2008, 2009 và 2010 gồm hai mã chính là
8 8
0401 và 0402. Xem xét giá trị nhập khẩu, có thể thấy nhập khẩu sữa tăng mạnh từ
2009 USD đến 2010. Nếu chỉ tính riêng cho sữa và sản phẩm từ sữa thuộc hai mã
nêu trên năm 2009 đạt 391.293.521 USD, năm 2010 đạt 422.045.443 (tăng7.85 %
so với năm 2009) (Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan)Hiện nay, ngoài các
các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất, chế biến sữa, các công ty sữa trực tiếp nhập
khẩu các loại nguyên liệu phục vụ cho việc sản xuất, chế biến của mình, còn có
nhiều doanh nghiệp không trực tiếp sản xuất, chế biến các sản phẩm sữa cũng
tham gia nhập khẩu các loại nguyên liệu sữa để bán lại hoặc làm phụ gia cho việc
sản xuất các loại sản phẩm khác không phải là sữa.Theo thống kê của của Tổng
cục Hải quan, trong giai đoạn 2007 – 2010 có gần 250 doanh nghiệp tham gia nhập
4 CTCPTP- Đồng Tâm 0.1 1.2 1.8
5 CTTNHH Nestle Việt Nam 3.8 1.1 1.2
6 CTCP Đại Tân Việt 1.9 9.9 7.5
10 10
7 CTTNHH Thế hệ mới 1.6 3.2 2.5
8 CTTNHH Than An 1.8 2.9 2
9 CTTNHH TM và CNTP
Hoàng Lâm
0.7 2.4 1.6
10 CTTNHH DT-PT-NN Hà
Nội
0.9 1.6 1.4
( Theo số liệu của Tổng cục Hải Quan.)
Với sức cầu mạnh mẽ, để đáp ứng được nhu cầu đó, các hãng kinh doanh sữa
không thể không nhập thêm sản phẩm,tỷ trọng nhập khẩu sữa ngoại cũng ngày
một gia tăng.Tóm lại tình hình cung sản phảm sữa trên địa bàn Hà Nội cũng rất
phong phú và đa dạng cả về sản phẩm nội với sản phẩm ngoại.
3.2.1.3.Tình hình giá cả và sự biến đổi trên thị trường sữa bột
Mức giá bình quân trên toàn thị trường của nhóm sản phẩm sữa bột, đặc biệt là sữa
bột dành cho trẻ em liên tục tăng trong thời gian qua.
Biểu đồ: 3.3.Mức giá bình quân chung trên thị trường sữa bột trong 2008-
2010.
( Theo nguồn nhóm thực hiện thu thập)
11 11
Năm 2008, mức giá bình quân chung của nhóm sản phẩm sữa bột trên thị trường
là 155,729 triệu đồng/tấn.Năm 2009 mức giá này tăng lên 187,956 triệu đồng/tấn,
tăng 20,7% so với năm 2008. Năm 2010, mức giá bình quân của nhóm sản phẩm
sữa bột trên thị trường là 239,782 triệu đồng/tấn, tăng 27,5% so với năm 2009 và
53.9% so với năm 2008. Như vậy chỉ sau hai năm mức giá bình quân chung của
nhóm sản phẩm sữa bột đã tăng hơn 80%. Nghịch lý tăng giá bán, sản lượng tăng
đồng/hộp…Sau khi điều chỉnh, sản phẩm Enfa Mama A+ Vanilla, Enfa Mama A+
Chocolate có giá bán mới là 139.000 đồng/hộp 400g…Đến đầu tháng 2/2011, công
ty sữa FrieslandCampina Việt Nam cũng chính thức nâng giá bán các sản phẩm
sữa Friso với mức tăng từ 5-10%. Riêng sản phẩm sữa bột Cô gái Hà Lan (Dutch
Lady) mức tăng là từ 13-15%.Nguyên nhân khiến các hãng sữa buộc phải tăng giá
bán được cho là ngày 11/2/2011 tỷ giá USD/VND được Ngân hàng Nhà nước điều
chỉnh tăng tới 9,3%. Điều này đã gây áp lực rất lớn đối với doanh nghiệp và hàng
hóa nhập khẩu.Một nguyên nhân nữa khiến giá sữa tăng là ngày 1/1/2011, việc Bộ
Tài chính quyết định tăng thuế nhập khẩu sữa từ các nước không thuộc ASEAN
thêm 5% (từ mức 5% lên 10%), cũng đã tác động mạnh đến giá các loại sữa
nguyên liệu cũng như sữa thành phẩm nhập khẩu.Giá bán sữa bột Friso, Ensure,
Similac đã được một số đại lý lớn tại Hà Nội tăng thêm 10% từ ngày 15/2, sau khi
nhận thông báo tăng giá của các hãng. Giới kinh doanh sữa bột tại Hà Nội cho biết
vừa nhận được thông báo kèm báo giá tăng 10% đối với nhãn hiệu Friso (của công
ty TNHH Friesland Campina Vietnam) và Ensure, Similac của hãng Abbott (do
công ty dược phẩm 3A nhập khẩu và phân phối).. Đặc biệt trên thị trường sữa, với
nhu cầu hiện nay thì người tiêu dùng rất muốn nhà nước điều chỉnh mức giá sao
cho phù hợp tránh trường hợp các doanh nghiệp tự tăng giá quá cao, gây bức xúc
cho người tiêu dùng.
3.2.2 Tổng quan tình QLNN đối với mặt hang sữa bột trên địa bàn HN
3.2.2.1 Công tác xây dựng, sửa đổi và bổ sung, ban hành các văn bản
Sau những đợt tăng giá sữa dồn dập hồi đầu năm, Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính)
cho biết sẽ gấp rút sửa đổi Thông tư 104 nhằm khắc phục những bất cập trong việc
13 13
quản lý giá sữa và dự kiến sẽ ban hành trong tháng 7-2010. Tuy nhiên, tháng 7 đã
trôi qua, thông tư mới vẫn chưa được ban hành. Như vậy, cơ quan chức năng đã lỗi
hẹn với người tiêu dùng, trong khi đó, các DN sữa lại tiếp tục tăng giá bán.Nhận
xét về các đợt tăng giá, đại diện Cục Quản lý giá cho biết, Thông tư 104 quy định
2 lần tăng giá cách nhau tối thiểu 15 ngày và DN dưới 50% vốn chủ sở hữu nhà
nước không cần đăng ký, kê khai giá. Từ đầu năm 2010 tới nay, các DN kinh