Nghiên cứu khoa học
VAI TRÒ CỦA RỪNG NGẬP MẶN ĐỐI VỚI
NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ QUẢN
LÝ VÀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN VEN BIỂN
(Tại Bàng La - Đồ Sơn và Đại Hợp - Kiến Thuỵ,
Hải Phòng)
1
VAI TRÒ CỦA RỪNG NGẬP MẶN ĐỐI VỚI NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ
DỤNG TÀI NGUYÊN VEN BIỂN (Tại Bàng La - Đồ Sơn và Đại Hợp - Kiến Thuỵ, Hải Phòng)
Đoàn Đình Tam, Đinh Thanh Giang
Trung tâm NC Sinh thái và Môi trường rừng
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.
Trước năm 1997.
Trong thời gian từ những năm 1992 trở về trước, số lượng hải sản đánh bắt được không ổn
định. Sản lượng thấp, dao động khoảng 300-500 tấn/năm/xã cho tất cả các loại như tôm, cua, cáy, các
loại cá, các sản phẩm đánh bắt được chủ yếu là dùng cho sinh hoạt hàng ngày và được bán ra thị
trường với giá rất rẻ. Thu nhập bình quân đầu người đi đánh bắt chỉ khoảng 10-22.000 đồng (tính theo
giá năm 2007). Nguyên nhân là do bãi bồi mới hình thành, không ổn định, thiên tai nhiều, rừng ngập mặn
hầu như chưa có, chủ yếu là bãi trống. Thu nhập của người dân bấp bênh, gặp nhiều khó khăn vì dựa
chủ yếu vào khai thác hải sản, lúa chỉ cấy được 1 vụ, dụng cụ khai thác thô sơ vì thế tại Bàng La và Đại
Hợp có trên 60% hộ nghèo.
Từ năm 1992 đến 1997, rừng trồng trong giai đoạn này có tỷ lệ sống và thành rừng thấp. Theo
số liệu năm 1995 thì có trung bình 300-500 người/ngày tham gia vào việc đánh bắt hải sản tự nhiên tại
mỗi xã, đến năm 1996 đã tăng lên 1000-1500 người/ngày vào những tháng cao điểm, chứng tỏ rằng
nguồn lợi hải sản đã tăng đáng kể và đã xuất hiện nghề nuôi ngao. Thu nhập của người dân cao hơn và
ổn định hơn. Tuy nhiên, vì lợi ích kinh tế trước mắt người dân đã vào rừng mới trồng để đánh bắt dẫn
đến việc cuốc, đạp đổ, bẻ gẫy cây trồng.
Từ 1997 – 2005.
Bên cạnh sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua chương trình 327 (nay là 661), chương trình hỗ trợ
trồng rừng ngập mặn của Hội Chữ thập đỏ Đan Mạch, đã giúp cho diện tích rừng tại Bàng La và Đại Hợp
ngày càng nhiều và phát triển tốt. Đây là môi trường tốt để các loài hải sản đến sống và phát triển như
cua, tôm, cá các loại. Trong giai đoạn này, cứ vào tháng 8 hàng năm thì có hàng nghìn người ra bãi đánh
bắt, thu nhặt hải sản để cải thiện cuộc sống hàng ngày hoặc đem bán và thu được số tiến không nhỏ trên
đầu người.
Từ 2005 đến nay.
2
Trung tâm Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, bắt
đầu triển khai xây dựng thí điểm mô hình quản lý Hệ sinh thái rừng ngập mặn đáp ứng yêu cầu quản lý
bền vững tài nguyên thiên nhiên tại Bàng La và Đại Hợp. Thông qua các hoạt động như: giao khoán bảo
vệ rừng tới từng cụm dân cư, hình thành các nhóm nòng cốt quản lý bảo vệ rừng, xây dựng các hương
ước và qui chế bảo vệ rừng cho từng cụm dân cư, trồng rừng, hỗ trợ phát triển sinh kế, tập huấn và
Ghi chú: giá tính tại thời điểm 2007.
Qua đó ta thấy, vào những tháng chính vụ, bình quân một đầu người có thể thu nhập xấp xỉ
112.000 đồng/ngày. Như vậy, thu nhập bình quân đầu người là 112.000 x 15 ngày = 1.680.000 đ/tháng
(15 ngày cho hai con nước/tháng). Điều đó có nghĩa là tổng thu nhập thông qua khai thác, đánh bắt hải
sản tự nhiên của mỗi xã xấp xỉ 2 tỷ đồng/tháng.
Như vậy, chúng ta thấy cuộc sống của người dân tại hai xã đã được cải thiện rất nhiều, hàng
ngàn người có công ăn việc làm. Tính đến năm 2007, số hộ nghèo tại 2 xã chỉ còn 4-6%, không có hộ
đói. Điều này càng chứng minh rằng trồng, quản lý, bảo vệ và khôi phục phát triển rừng ngập mặn. đặc
biệt là quản lý, bảo vệ theo hướng cộng đồng đã, đang và sẽ mang lại lợi ích to lớn cho cộng đồng nhất
là người dân ven biển sống phụ thuộc chủ yếu vào các nguồn lợi tự nhiên.
Nhận thức của người dân về rừng ngập mặn.
Tác dụng và ảnh hưởng của rừng ngập mặn.
Tổng hợp 1000 phiếu điều tra các ý kiến của người dân sau khi được phỏng vấn về tác dụng
chính của rừng ngập mặn được thể hiện tại biều đồ 1.
44
85
20
101
870
385
520
340
365
144
210
86
21
0
100
200
sát của người dân thông qua việc giảm tác hại của sóng và gió (đặc biệt là sau những cơn bão số 2 và 5
năm 2005), chim về làm tổ cũng như việc các bãi triều ngày càng được mở rộng nên việc đánh bắt thuỷ
hải sản cũng gặp nhiều thuận lợi. Nhờ có rừng mà hệ thống đê biển I chạy qua hai xã không bị xói lở
hoặc xói lở rất ít khi có sóng to, gió lớn.
Tuy nhiên, người dân được phỏng vẫn cũng cho rằng: Các lợi ích này đối với những khu vực
nằm sâu trong nội địa là nhỏ hơn nhiều so với địa phương mình (bảo vệ môi trường 385 ý kiến chiếm
38,5%; tăng nguồn lợi thuỷ hải sản là 340 ý kiến chiếm 34%). Cũng có những ý kiến cho rằng, các địa
phương khác không được hưởng lợi gì từ rừng ngập mặn (101 ý kiến chiếm 10%).
30
45
925
50
330
210
334
0
100
200
300
400
500
600
700
800
900
1000
S ố ý k iế n
Thiếu
thông tin
Không
bảo vệ rừng của xã đều bị xử lý.
10
6
70
3
9
2
3
2
86
1
6
2
0
20
40
60
80
100
Tỷ lệ (%)
Trước 2005 2005 đến nay
giai đoạn
Thiếu thông tin Không biết
Tốt rồi Còn bị chặt phá
Ảnh hưởng xấu tới nuôi trồng thuỷ sản Không công bằng
Biểu đồ 3. Hiệu quả của quản lý bảo vệ rừng ngập mặn hiện nay
Việc áp dụng các hình thức quản lý như hiện nay đã mang lại hiệu quả rất lớn. Đặc biệt là vấn đề
nhận thức. Ý thức bảo vệ rừng đã được nâng cao một cách rõ rệt, số lượng người thiếu thông tin về vấn
4
100
200
300
400
500
600
S ố ý kiế n
Không có
Biểu đồ 4: Nhận thức về nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản
Đối với vấn đề ô nhiễm về môi trường thì 48% ý kiến cho rằng các hoạt động nuôi trồng hải sản
ngoài bãi tự nhiên như lưới quây, vây nuôi ngao, đã gây ra những ô nhiễm về nguồn nước bằng việc
làm cho các chất rơi rụng như lá, hoa, quả của các loài cây ngập mặn không thoát được và tích tụ lại
trong rừng ngày càng nhiều làm cho nguồn nước được lấy vào làm muối và các đầm nuôi thuỷ sản bị
nhiễm bẩn dẫn đến giảm năng xuất muối và năng xuất nuôi thuỷ sản. Bên cạnh đó các hình
thức đánh bắt tự nhiên như: xung điện, chất nổ, lưới quây, vây, tuy có giúp một số người có cuộc sống
tốt hơn nhưng đây lại là một hình thức đánh bắt mang tính chất huỷ diệt làm cho nguồn tài nguyên này
ngày càng cạn kiệt về nguồn giống. Vì thế các hình thức này cần thiết phải được ngăn chặn và phải có
các chính sách hỗ trợ, đầu tư để phát triển các loại hình kinh tế phù hợp với địa phương và đảm bảo bền
vững trong bảo tồn phát triển và sử dụng tài nguyên ven biển.
Chính sách phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.
Đối với vấn đề này thì có rất nhiều ý kiến và mong muốn khác nhau về các cơ chế, chính sách
phát triển kinh tế - xã hội kết hợp với bảo vệ môi trường.
- Có tới 33% các ý kiến được hỏi nói rằng hiện nay họ thiếu vốn để đầu tư phát triển chăn nuôi,
đánh bắt xa bờ và phát triển các ngành nghề phụ, nhất là đối với các hộ nghèo vì hiện nay việc vay vốn
sản xuất là hết sức khó khăn và lãi suất cao. Bên cạnh việc được vay vốn thì việc hỗ trợ kỹ thuật trong
sản xuất được đặt ra với 16% ý kiến.
5
- Có 11% ý kiến cho rằng việc tiếp tục trồng rừng ngập mặn là hết sức cần thiết vì sẽ góp phần
vệ và sử dụng rừng ngập mặn một cách bền vững.
Bài học ứng dụng trong thực tiễn
Tự nguyện giữ rừng ngập mặn.
Kết quả tìm hiểu về nhận thức của người dân trong vùng về sự cần thiết phải bảo vệ rừng ngập
mặn bằng cách thăm dò mức độ sẵn sằng tự nguyện đóng góp công sức và tài chính để bảo vệ rừng cho
ở bảng 2)
Theo bảng 2 ta thấy, tại xã Đại Hợp (Kiến Thuỵ) có điều kiện kinh tế khá hơn Bàng La, do đó tỷ
lệ người dân sẵn sàng đóng góp cao hơn. Có nhiều hộ gia đình nhận thức được việc giữ rừng là vô
cùng cần thiết, nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn hoặc neo người nên mức đóng góp là rất nhỏ.
Cũng có hộ có kinh tế khá giả thì sẵn sằng đóng từ 200 - 500 nghìn đồng/năm.
Bảng 2. Mức độ sẵn sàng đóng góp của người dân để giữ rừng ngập mặn
Xã Thôn Tỷ lệ sẵn sàng
đóng góp (%)
TB/hộ/năm
(đ)
Cao nhất/hộ/năm
(đ)
Đại Phong 56 21.000 + 5 công LĐ 120.000
Đại Thắng 52 30.000 + 3 công LĐ 60.000
Đồng Tiến 1 60 30.500 + 3 công LĐ 70.000
Đồng Tíên 2 58 23.000 + 4 công LĐ 45.000
Bàng La
(Đồ Sơn)
Tiểu Bàng 48 15.000 + 5 công LĐ 60.000
Quần Mục 1 67 34.000 + 6 công LĐ 90.000
Quần Mục 2 67 36.000 + 6 công LĐ 500.000
Quần Mục 3 54 32.000 + 5 công LĐ 160.000
Đông Tác 1 61 39.500 + 3 công LĐ 80.000
Đại Hợp
(Kiến
vào điều kiện kinh tế, sự gắn bó các lợi ích và các cơ chế chính sách, qui định của Nhà nước, của địa
phương có phù hợp hay không. Nếu quyền lợi của người dân đối với rừng ngập mặn không được đảm
bảo hay hỗ trợ, rất có thể con đường cuối cùng của họ là chặt cây, phá rừng, huỷ diệt tài nguyên. Vì thế,
cần có qui hoạch hợp lý và có các chính sách về quyền sử dụng đất cho người dân, nhất là người
nghèo,
Vấn đề quản lý rừng ngập mặn trong tương lai cũng cần phải được cân nhắc và thống nhất Để
có được quyết định và đường hướng đúng đắn, điều quan trọng là phải hiểu được những vấn đề kinh tế -
xã hội đang diễn ra tại địa phương, nắm bắt được nguyện vọng của người dân để từ đó xây dựng các kế
hoạch hành động.
KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ
Kết luận
Phần lớn người dân tại Bàng La (Đồ Sơn) và Đại Hợp (Kiến Thuỵ) Hải Phòng đã có những nhận
thức đúng đắn về vai trò và tầm quan trọng của rừng ngập mặn là bảo vệ đê biển, phòng chống thiên tai
và gia tăng nguồn lợi thuỷ sản. Đồng thời cũng thể hiện mong muốn cần phải giữ gìn rừng ngập mặn và
sẵn sằng đóng góp để giữ rừng.
Tồn tại
Việc quản lý, bảo vệ và sử dụng rừng ngập mặn bằng hình thức quản lý cộng đồng như hiện nay
tại hai xã là tương đối tốt. Nhưng vẫn còn các vấn đề chưa hợp lý như quây bãi làm vây, đánh bắt huỷ
diệt làm ảnh hưởng đến rừng và làm ảnh hưởng đến thu nhập của một số bộ phận người dân nghèo, gây
phân hoá giàu nghèo và ảnh hưởng lâu dài tới quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững tại địa phương.
Kiến nghị
- Việc hỗ trợ vốn sản xuất, hỗ trợ kỹ thuật và quy hoạch sử dụng đất cần thiết phải phù hợp với
mong muốn của người dân và tình hình phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
- Công tác tuyên truyền cần sâu rộng hơn nữa tới mọi đối tượng dân cư trong vùng, để người
dân cùng có nhận thức và trách nhiệm trong việc quản lý và sử dụng rừng ngập mặn một cách bền vững.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Uỷ ban Nhân dân xã Bàng La, 2007. Báo cáo tình hình phát triển kinh tế năm 2007.
Uỷ ban Nhân dân xã Đại Hợp, 2007. Báo cáo tình hình phát triển kinh tế năm 2007.
Adger, W.N,. 1997. Income inequality in former centrally planned economies: Results from the