ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HỜ A TRÁNG Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC
VÀ NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN
NƯỚC TẠI XÃ NÀ HỲ, HUYỆN NẬM PỒ, TỈNH ĐIỆN BIÊN” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Khoá học : 2010 - 2014
Giáo viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Thị Lợi
Khoa Quản lý tài nguyên - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên, năm 2014
LỜI CẢM ƠN
1.4. Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Cơ sở khoa học 4
2.1.1. Cơ sở lý luận 4
2.1.1.1. Một số khái niệm về môi trường và ô nhiễm môi trường 4
2.1.1.2. Một số khái niệm về tài nguyên nước 5
2.1.1.3. Khái niệm nước thải và nước thải sinh hoạt 6
2.1.1.4. Nguồn gốc của ô nhiễm môi trường nước 7
2.1.1.5. Các tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước 7
2.1.2. Cơ sở pháp lý 12
2.2. Khái quát về tài nguyên nước 12
2.2.1. Tình hình sử dụng nước trên thế giới 12
2.2.1.1. Những nghiên cứu trên thế giới 12
2.2.1.2. Hậu quả của việc khan hiếm nguồn nước 17
2.2.2. Tình hình sử dụng nước tại Việt Nam 17
2.2.2.1. Hiện trạng sử dụng nước ở Việt Nam 17
2.2.2.2. Hiện trạng khai thác nước 18
2.2.2.3. Hướng điều tra, khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước 19
2
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 24
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành 24
3.3. Nội dung nghiên cứu 24
3.3.1. Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ, tỉnh
Điện Biên 24
3.3.2. Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại xã Nà Hỳ, huyện
Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên 24
Điện Biên 44
4.2.4.1. Ô nhiễm do chất thải sinh hoạt 44
4.2.4.2. Ô nhiễm do nước thải sinh hoạt 44
4.2.4.3. Ô nhiễm do sử dụng hố xí không hợp vệ sinh và quy mô chuồng trại
chăn nuôi của các hộ gia đình không hợp lí 45
4.2.4.4. Ô nhiễm do các hoạt động nông nghiệp 45
4.2.4.5. Ý thức của người dân 46
4.3. Đánh giá chung và đề xuất một số biện pháp kiểm soát môi trường nước
tại xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên 47
4.3.1. Biện pháp luật pháp, chính sách, giáo dục và tuyên truyền 47
4.3.2. Biện pháp kinh tế 49
4.3.3. Biện pháp kỹ thuật 50
4.3.4. Biện pháp xử lý nước sinh hoạt 50
4.3.5. Nâng cao hiểu quả công tác quản lý môi trường 53
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
5.1. Kết luận 54
5.2. Kiến nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT, CỤM TỪ VIẾT TẮT
BOD : Nhu cầu oxy sinh hóa
BTNMT : Bộ tài nguyên môi trường
BVTV : Bảo vệ thực vật
COD : Nhu cầu oxy hóa học
DO : Hàm lượng oxy hòa tan trong nước
GTVT : Giao thông vận tải
HC : Hữu cơ
KLN : Kim loại nặng
LHQ : Liên hợp quốc
Bảng 4.3. Sản lượng một số cây trồng chính của xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ . 34
Bảng 4.4. Một số loại cây trồng công nghiệp ngắn ngày của xã Nà Hỳ 34
Bảng 4.5. Kết quả phân tích chất lượng nước mặt tại xã Nà Hỳ, huyện Nậm
pồ, tỉnh Điện Biên năm 2013 40
Bảng 4.6. Kết quả phân tích chất lượng nước ngầm tại xã Nà Hỳ, huyện Nậm
Pồ, tỉnh Điện Biên năm 2013 41
Bảng 4.7. Kết quả phân tích một số chỉ tiêu trong các mẫu nước mặt 42
Bảng 4.8. Kết quả phân tích một số chỉ tiêu trong các mẫu nước ngầm dùng
cho sinh hoạt của người dân 43
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1 Biểu đồ thể hiện nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho người dân 39
Hình 4.2 Mô hình bể lọc nước thủ công 51
Hình 4.3 Bể lọc nước hộ gia đình 52
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Nước là vật phẩm quý giá nhất mà tạo hóa đã ban tặng cho hành tinh của
chúng ta và chính nó đã khởi nguồn sự sống: Vạn vật không có nước không
thể tồn tại, con người cũng không ngoại lệ. Trong cơ thể con người nước
có chiều hướng suy giảm như hiện nay, lỗi chính là do ý thức của con người.
Có khai thác nhưng lại không biết bảo vệ, chúng ta đang đánh đổi tài nguyên
nước lấy sự phát triển, khiến nguồn tài nguyên nước vô giá đang có nguy cơ
trở nên khan hiếm.
Xuất phát từ những vấn đề thực tế nêu trên, được sự nhất trí của ban
giám hiệu nhà trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, ban chủ
nhiệm khoa Môi trường cùng với sự hướng dẫn trực tiếp của TS. Nguyễn Thị
Lợi, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường nước và
nhận thức của người dân về bảo vệ tài nguyên nước tại xã Nà Hỳ, huyện
Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên”.
1.2. Mục đích của đề tài
- Thông qua nghiên cứu đề tài để nắm được hiện trạng chất lượng môi
trường nước tại xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.
- Xác định mức độ ô nhiễm và nguồn gây ô nhiễm nguồn nước thải.
- Đánh giá được nhận thức của người dân về bảo vệ tài nguyên nước.
- Đề xuất một số biện pháp xử lý nhằm giảm thiểu ô nhiễm đối với môi
trường nước.
1.3. Yêu cầu của đề tài
- Công tác điều tra, thu thập thông tin, phân tích chất lượng nước cấp
cho sinh hoạt trên địa bàn xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.
3
+ Thông tin và số liệu thu được chính xác, trung thực, khách quan.
+ Các mẫu nghiên cứu và phân tích phải đảm bảo tính khoa học và đại
diện cho khu vực nghiên cứu.
+ Đánh giá đầy đủ, chính xác chất lượng nước cấp cho sinh hoạt.
+ Các kết quả phân tích phải được so sánh với tiêu chuẩn, quy chuẩn môi
trường Việt Nam.
- Giải pháp kiến nghị đưa ra phải thực tế, có tính khả thi và phù hợp với
điều kiện thực tế của địa phương.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (đô thị, hồ chứa ) và
những cái vô hình (tập quán, niềm tin, nghệ thuật ), trong đó con người sống
bằng lao động của mình, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo
nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình. Như vậy, môi trường sống đối với
con người không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể
sinh vật là con người mà còn là “khung cảnh của cuộc sống, của lao động và
sự nghỉ ngơi của con người” (UNESCO, 1981).
* Khái niệm về ô nhiễm môi trường
Theo Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam: “Ô nhiễm môi trường là sự làm
thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường”.
Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải
hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe
con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi
trường. Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chát thải ở dạng khí (khí thải),
lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hóa chất hoặc tác nhân vật lý, sinh
học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ.
5
Ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi thành phần và chất lượng nước
không đáp ứng cho các mục đích sử dụng khác nhau, vượt quá tiêu chuẩn cho
phép và có ảnh hưởng xấu đến đời sống con người và sinh vật. Nước trong tự
nhiên tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: nước ngầm, nước ở các sông
hồ, tồn tại ở thể hơi trong không khí Nước bị ô nhiễm nghĩa là thành phần
của nó tồn tại các chất khác, mà các chất này có thể gây hại cho con người và
cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên. Nước ô nhiễm thường là khó khắc phục
mà phải phòng tránh từ đầu (Mai Thanh Tuyết, 2003) [11].
Trong quá trình sinh hoạt hàng ngày, dưới tốc độ phát triển như hiện nay
con người vô tình làm ô nhiễm nguồn nước bằng hóa chất, nước thải từ các
nhà máy, xí nghiệp. Các đơn vị cá nhân sử dụng nước ngầm dưới hình thức
khoan giếng, sau khi ngừng không sử dụng không bịt kín các lỗ khoan lại làm
cho nước bẩn chảy lẫn vào làm ô nhiễm nguồn nước ngầm. Các nhà máy xí
thường, nước thải chưa xử lý là nguyên nhân gây bệnh cho con người do chứa
các loại chất độc phức tạp hoặc mang các chất dinh dưỡng thuận lợi cho việc
phát triển các loại vi khuẩn, các thực vật thủy sinh nguy hại.
Nước thải sinh hoạt là nước đã được dùng cho các mục đích ăn uống,
sinh hoạt, tắm rửa, vệ sinh nhà cửa, của các khu dân cư, công trình công
cộng, cơ sở dịch vụ,
Như vậy, nước thải sinh hoạt được hình thành trong quá trình sinh hoạt
của con người.
Một số các hoạt động dịch vụ hoặc công cộng như bệnh viện, trường học,
bếp ăn, cũng tạo ra các loại nước thải có thành phần và tính chất tương tự như
nước thải sinh hoạt. Lượng nước thải tại các cơ sở dịch vụ, công trình công cộng
phụ thuộc vào loại công trình, chức năng và số lượng người sử dụng.
7
Đặc trưng của nước thải sinh hoạt là hàm lượng chất hữu cơ cao (55 - 65
% tổng lượng chất bẩn), chứa nhiều vi sinh vật có cả vi sinh vật gây bệnh, vi
sinh vật phân hủy chất hữu cơ cần thiết cho các quá trình chuyển hóa chất bẩn
trong nước thải (Nguyễn Viết Tôn, 2007) [10].
2.1.1.4. Nguồn gốc của ô nhiễm môi trường nước
Sự nhiễm nguồn nước có thể là nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo:
- Nguồn gốc tự nhiên: do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt, đưa vào môi
trường nước các chất bẩn, các sinh vật có hại kể cả xác chết của chúng.
- Nguồn gốc nhân tạo: chủ yếu là do nước thải xả ra từ các nhà máy,
vùng dân cư, khu công nghiệp, GTVT, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, phân bón
nông nghiệp vào môi trường nước.
Các xu hướng chính thay đổi chất lượng nước khi bị ô nhiễm:
- Giảm độ pH của nước ngọt.
- Tăng hàm lượng các ion Ca
2+
, Mg
2+
những hợp chất hữu cơ này tạo ra chất độc.
Mùi và vị:
- Nước tự nhiên sạch: không có mùi vị.
- Nước ô nhiễm: mùi vị khó chịu làm giảm giá trị sử dụng của nước.
Độ đục:
- Nước tự nhiên sạch: trong suốt không màu.
- Nước ô nhiễm: đục do chứa các hạt sét, mùn, VSV, các hóa chất kết tủa.
Các chất lơ lửng thường hấp thụ các KLN và các VSV gây bệnh, làm
giảm sự xuyên sâu của ánh sáng dẫn đến giảm quá trình Quang hợp do đó
giảm oxi hòa tan.
Nhiệt độ:
- Nước tự nhiên sạch: nhiệt độ phụ thuộc vào khí hậu thời tiết.
- Nước ô nhiễm: thường có nhiệt độ cao hơn.
Ô nhiễm nhiệt gây nên:
- Nồng độ oxi hòa tan trong nước bị giảm gây nên hiện tượng yếm khí.
- Lượng tiêu thụ oxi của động vật, thực vật trong nước tăng lên khi nhiệt
độ tăng.
Nước nóng có thể thay đổi các quá trình sống và có thể thay đổi thành
phần quần thể động thực vật. Cá và các sinh vật thủy sinh khác cũng chịu sự
tác động mạnh (nhiệt độ tăng làm cho trứng cá khó nở và tăng các hợp chất có
tính độc, chẳng hạn: độ đục của kalixyanua tăng lên 2 lần đối với cá khi nhiệt
độ tăng lên 100
0
C) (Trần Yêm và Trịnh Thị Thanh, 1998) [13].
Chất rắn lơ lửng: là các hạt chất rắn vô cơ hoặc hữu cơ lơ lửng trong
nước có kích thước từ 10
-1
- 10
-2
micrômet như khoáng sét, bụi than, mùn,
phân hủy các chất hữu cơ trong điều kiện tiêu chuẩn về nhiệt độ và thời gian
cần dùng để oxi hóa các chất hữu cơ trong nước theo phản ứng:
Chất HC + O
2
vi khuẩn
> CO
2
+ H
2
O + TB mới + sản phẩm trung gian
Nhu cầu oxi hóa học (COD): Là lượng oxi cần thiết để oxi hóa toàn bộ
các hợp chất hữu cơ trong nước. Như vậy, COD là lượng oxi cần để oxi hóa
toàn bộ các chất HC trong nước, trong khi đó BOD là lượng oxi cần thiết để
oxi hóa một phần các hợp chất HC phân hủy bởi VSV.
* Tác nhân hóa học
Ô nhiễm các hợp chất vô cơ:
- Kim loại nặng: Hg, Cd, As, Pb, Cr, Cu, Zn, Mn, có trong nước với
nồng độ lớn sẽ làm cho nước ô nhiễm. Nó không tham gia vào quá trình sinh
10
hóa mà tích lũy trong cơ thể sinh vật nên rất độc hại. Nguồn từ nước thải công
nghiệp, sinh hoạt, giao thông, y tế, nông nghiệp và khai thác khoáng sản.
Bảng 2.1. Kim loại nặng trong nước thải và ảnh hưởng của chúng tới cơ thể
Nguyên
tố
Nguồn Tác động đến cơ thể
Asen
(As)
Công nghiệp thuộc da,
sành sứ, nhà máy hóa
hệ thống dẫn
Tác động đến tủy xương, hệ thần kinh,
giảm trí thông minh, máu, thận, các hệ
enzym liên quan đến sự tạo máu và liên
kết với Fe trong máu
Đồng
(Cu)
Hoạt động khai khoáng,
mạ kim loại, hóa chất
bảo vệ thực vật
Độc, gây thiếu máu, thận, rối loạn thần
kinh, môi trường sống bị phá hủy
Mangan
(Mn)
Khai khoáng, sản xuất
pin, đốt nhiên liệu hóa
thạch
Cần thiết ở nồng độ thấp, gây độc ở nồng
độ cao
Thủy
ngân
(Hg)
Công nghiệp luyện kim,
sản xuất pin, TB thủy
ngân, đèn huỳnh quang,
nhiệt kế, thuốc BVTV
Độc đối với động vật và thực vật
11
- Các nhóm anion NO
3
Vi khuẩn phân hủy các chất béo thành glyxerin và axit béo tạo mạch ngắn hơn
(axit axetic, butyric, valeric ), có mùi hôi, pH giảm.
* Tác nhân sinh học
Sinh vật có mặt trong nước ở nhiều dạng khác nhau. Bên cạnh những
sinh vật có ích còn nhiều loại sinh vật gây bệnh hoặc truyền bệnh cho người
và động vật. Trong số này đáng chú ý là các loại vi khuẩn, siêu khuẩn, kí sinh
trùng gây bệnh tả, lị, thương hàn, sốt rét, viêm gan B, viêm não Nhật Bản,
giun đỏ, trứng giun,
Nguồn gây ô nhiễm sinh học cho môi trường nước chủ yếu là do phân,
nước và rác thải sinh hoạt, bệnh viện, xác chết sinh vật, Để đánh giá mức độ
12
ô nhiễm sinh học dùng chỉ số Colifrom. Đây là chỉ số phản ánh số lượng vi
khuẩn E.coli trong nước, thường gây bệnh cho người và động vật.
2.1.2. Cơ sở pháp lý
- Căn cứ Luật Bảo vệ Môi trường 2005 được Quốc hội nước
CHXHCNVN khóa XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu
lực thi hành từ ngày 1/7/2006;
- Căn cứ Luật Tài nguyên nước được Quốc hội nước CHXHCNVN
thông qua ngày 29/11/2005;
- Luật khoáng số 60/2010/QH12 được Quốc hội nước CHXHCNVN
khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 17/11/2010;
- Nghị định số 21/2008/NĐ - CP sửa đổi bổ sung nghị định 80/2006/NĐ
- CP về việc quy định chi tiết hưỡng dẫn thi hành một số điều của luật
BVMT;
- Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về BVMT
trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước;
- Quyết định số 35/2002/QĐ-BKHCN ngày 5/6/2000 của Bộ Khoa học
Công nghệ về việc ban hành tiêu chuẩn môi trường Việt Nam (31 tiêu chuẩn).
2.2. Khái quát về tài nguyên nước
2.2.1. Tình hình sử dụng nước trên thế giới
Sinh quyển
Kho nước
Đất tưới
Nước ngọt
1.350.000
27.500
8.477,8
8.200
100
70
13
1,7
1,1
5
2
32,014
97,41
1,98
0,69
0,59
0,007
0,005
0,001
0,0001
0,0001
0,0004
0,0002
2,31
0
85,9
động vật không thể chìm hoàn toàn trong nước được. Chỉ có 2,31% tổng thể
14
nước Trái Đất là nước ngọt, trong đó 85,9% nằm trong băng tuyết hai cực và
núi cao, 13,5% nằm trong nước ngầm. Sông ngoài chứa được 1.700 km
3
nước,
chiếm 0,0001% tổng lượng và 0,005% lượng nước ngọt của Trái Đất.
Nước ngọt thuộc loại tài nguyên có thể tái tạo được nhưng sử dụng phải
cân bằng và hợp lý nếu muốn cho sự sống trên hành tinh tiếp diễn lâu dài. Giá
trị của nước sau nhiều thập kỷ xem xét đã được đánh giá như: “Dòng máu
nuôi cơ thể con người dưới một danh từ là máu sinh học của Trái Đất chúng
ta, do vậy quý hơn vàng” (Pierre Sruhing) (Lê Trình và cs).
Bảng 2.3. Tài nguyên nước một số Quốc gia trên thế giới
Quốc gia
Tổng
lượng
km
3
Tỷ lệ so với
toàn cầu
Bình quân
diện tích
10
3
m
3
/km
2
Bình quân
đầu người
0,4
0,7
1.084
234
268
248
207
514
1.248
332
917
135
23,5
2,6
102
9,1
2,4
102
3,7
5,6
Toàn cầu 41.500 100 279 9,0
(Nguồn: Nguyễn Thị Phương Loan, 2005) [3]
Theo thống kê mới nhất của LHQ, ảnh hưởng tới 1/3 dân số trên thế giới.
Tình hình này ngày càng trở nên tồi tệ hơn khi nhu cầu sử dụng nước tăng cùng
với việc tăng dân số, đô thị hóa, tăng việc sử dụng nước trong các hộ gia đình và
trong ngành công nghiệp. Một số nước đang trong tình trạng hạn hán và trong
tương lai gần hạn hán và sa mạc hóa sẽ càng nghiêm trọng. Gần 1/5 dân số thế
15
giới khoảng 1,2 tỷ người sống trong khu vực khan hiếm nguồn nước tự nhiên.
Tình trạng khan hiếm nước mặt bắt buộc mọi người phải sử dụng các nguồn nước
Nước được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau nhưng trong bản báo
cáo này chúng tôi xin đề cập đến tiêu thụ nước trong sinh hoạt: Về mặt sinh
lý, mỗi người chỉ cần khoảng 1 - 2 lít nước/ngày. Trung bình nhu cầu nước
của một người một ngày là 10 - 15 lít cho vệ sinh cá nhân, 20 - 200 lít cho
tắm, ít nhất 20 - 50 lít cho làm cơm, 40 - 80 lít cho giặt bằng máy, Trung
bình mỗi cư dân nông thôn tiêu thụ 50 lít/ngày, vùng nông thôn Châu Phi,
Châu Á và Mỹ Latinh tiêu thụ khoảng từ 20 - 30 lít/người/ngày. Trong những
năm 80 của thế kỉ XX chỉ 4% dân số toàn cầu tiêu thụ nước lớn hơn 300
lít/người/ngày cho nhu cầu sinh hoạt và công cộng. Nhu cầu nước sinh hoạt ít
về lượng nhưng lại rất cao về chất. Đối tượng dùng nước phân hóa, phân bố
rộng khó kiểm soát, yêu cầu về nước và khả năng cung cấp đáp ứng nhu cầu
của ngành nước rất khác nhau (Phạm Ngọc Anh, 2006) [1].
Bảng 2.4. Tỷ lệ tiêu thụ nước ngọt (%)
Khu vực Nước sinh hoạt
Nước công
nghiệp
Nước nông
nghiệp
Đông Á và Thái Bình Dương 5 14 33
Châu Âu và Trung Á 10 33 57
Mỹ Latinh và Caribê 18 9 74
Trung Đông Bắc Phi 7 5 88
Nam Á 4 3 94
Châu Phi và Hạ Sahara 10 6 85
(Nguồn: Phạm Ngọc Anh, 2006) [1]
17
2.2.1.2. Hậu quả của việc khan hiếm nguồn nước
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội và gia tăng dân số, nhu cầu dùng
nước quy mô toàn cầu và những hoạt động tự phát, không có quy hoạch cuả
con người như chặt phá rừng bừa bãi, khai thác nông nghiệp không hợp lý và
kể cả châu thổ sông Hồng. Trên cơ sở phân tích các tài liệu hiện có, các tác
giả đã đề xuất hướng điều tra, khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước
dưới đất.
Ở Việt Nam - một nước đang phát triển, mặc dù được nhà nước đặc biệt
quan tâm nhưng cũng chỉ mới có 46 - 50% dân cư đô thị và 36 - 43% dân cư
nông thôn được dùng nước sạch. Nhiều người dân ở nhiều vùng còn phải