ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ ĐIỆP
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC THẢI TỪ HOẠT
ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN CỦA PHÂN XƯỞNG SẮT NÀ
LŨNG THUỘC CÔNG TY CỔ PHẦN KHOÁNG SẢN VÀ LUYỆN
KIM CAO BẰNG – THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên nghành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Khóa học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Nguyễn Quý Ly
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày 01 tháng 06 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Điệp
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa của từ viết tắt
BTNMT Bộ Tài Nguyên Môi Trường
TCVN Tiêu chuẩn Việt nam
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
BVMT Bảo vệ môi trường
BOD Nhu cầu oxy hóa sinh học
COD Nhu cầu oxy hóa hóa học
TSS Tổng lượng chát rắn lơ lửng
TCCP Tiêu chuẩn cho phép
SS Thông số chất rắn lơ lửng
DO Oxy hòa tan
ĐTM Đánh giá tác động môi trường
ĐCTV Địa chất thủy văn
WHO Tổ chức y tế thế giới
CPKS&LKCB Cổ phần khoáng sản và luyện kim Cao Bằng
HTX Hợp tác xã
Hình 2.1: Biểu đồ thể hiện kết quả phân tích nước sông Bằng Giang tại một số
huyện, thị - So sánh với Quy chuẩn Việt Nam 20
Hình 2.2. Biểu đồ diễn biến hàm lượng TSS sông Thể Dục qua các năm 21
Hình 2.4: Biểu đồ diễn biến hàm lượng BOD5 trên các sông 22
tại các thị trấn, thị xã và khu vực tập trung đông dân cư 22
Hình 4.1: Sơ đồ khai thác quặng của xí nghiệp 30
Hình 4.2. Công nhân xí nghiệp Nà Lũng nhặt thủ công 31
Hình 4.3 Phương pháp rửa quặng 31
Hình 4.4. Ảnh hưởng của nước thải sản xuất tới 33
chất lượng nước tiếp nhận trong khu vực mỏ 33
Hình 4.5.Ảnh hưởng của hoạt động sản xuất tác động đến 34
môi trường nước tiếp nhận tại khu vực nghiên cứu 34
Hình 4.6. Biểu đồ thể hiện hàm lượng Cu 41
trong 3 mẫu nước thải mỏ sắt Nà Lũng 41
Hình 4.7. Biểu đồ thể hiện hàm lượng Zn trong 3 42
mẫu nước thải mỏ sắt Nà Lũng 42
Hình 4.8. Biểu đồ thể hiện hàm lượng Fe trong 3 42
mẫu nước thải mỏ sắt Nà Lũng 42
Hình 4.9. Bùn đỏ từ Mỏ sắt Nà Lũng trôi xuống ruộng của bà con xóm Nà Lũng 45
MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1
1.1.Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 2
1.2.1.Mục đích 2
4.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội 28
4.2. Tổng quan và quy trình khai thác quặng sắt của mỏ 29
4.2.1.Thông ti liên lạc 29
4.2.2.Công suất hoạt động của xí nghiệp 29
4.2.3. Quy trình khai thác và tuyển rửa quặng sắt 29
4.2.4. Các nguồn phát sinh chất thải 31
4.3. Hiện trạng ô nhiễm môi trường và các giải pháp xử lý ô nhiễm đã thực hiện 33
4.3.1. Ảnh hưởng của hoạt động khai thác quặng đối với môi trường nước 33
4.3.2. Hiện trạng ô nhiễm môi trường 35
4.3.3. Các giải pháp xử lý ô nhiễm đã thực hiện 35
4.3.4. Các biện pháp xử lý ô nhiễm triệt để mà cơ sở đã triển khai thực hiện 36
4.4. Đánh giá nước thải tại mỏ sắt Nà Lũng qua nghiên cứu 40
4.4.1.Đánh giá nước thải qua nghiên cứu 40
4.4.2. Đánh giá của người về dân hiện trạng nước thải của mỏ sắt Nà Lũng 43
4.4.3. Đề xuất các biện pháp giảm thiểu, xử lý nước bị ô nhiễm 45
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47
5.1 Kết luận 47
5.2. Đề nghị 47
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1.Đặt vấn đề
Nước-nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, nếu như không có nước thì sự
sống không tồn tại và không có bất cứ hoạt động kinh tế nào diễn ra được.Tuy
nhiên nước không phải là vô tận.
Cũng giống như không khí và đất nước đóng vai trò cực kỳ quan trọng
trong sự hình thành tồn tại và phát triển của Trái Đất, trong sự sống của con
bàn phường Duyệt Trung - Thành phố Cao Bằng. Phân xưởng đã có những
đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Song trong quá
trình khai thác đã có những tác động xấu tới môi trường xung quanh, đặc biệt
là môi trường nước và sức khoẻ của người dân.
Xuất phát từ vấn đề thực tế trên và sự nhất trí của khoa Môi trường,
dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy Th.S Nguyễn Quý Ly tôi đã lựa chọn đề
tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường nước thải từ hoạt động khai thác
khoáng sản của phân xưởng sắt Nà Lũng thuộc Công ty cổ phần Khoáng
Sản và Luyện Kim Cao Bằng – Thành phố Cao Bằng - Tỉnh Cao Bằng”
1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
1.2.1.Mục đích
- Đánh giá hiện trạng chất lượng nước thải của phân xưởng.
- Xác định được mức độ ô nhiễm, những nguồn gây ô nhiễm chính đối
với nguồn nước thải.
- Đánh giá công tác bảo vệ, xử lý môi trường nước của phân xưởng.
- Đề xuất một số giải pháp xử lý nhằm giảm thiểu tình trạng ô nhiễm.
1.2.2.Yêu cầu
- Đánh giá đầy đủ, chính xác chất lượng nước thải của phân xưởng.
- Thông tin và số liệu thu được phải chính xác trung thực, khách quan.
Các mẫu phân tích phải đảm bảo tính khoa học và đại diện cho khu vực
nghiên cứu.
-Các kết quả phân tích phải được so sánh với tiêu chuẩn, quy chuẩn môi
trường Việt Nam hiện hành.
3
- Giải pháp, kiến nghị đưa ra phải thực tế, có tính khả thi phù hợp với
điều kiện của Phân xưởng.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập, nghiên cứu khoa học
Một số TCVN, QCVN liên quan tới chất lượng nước.
- TCVN 6663-1:2011 (ISO 5667-2:2006)-Chất lượng nước-Phần
1.Hướng dẫn lập chương trình lấy mẫu và kĩ thuật lấy mẫu.
- TCVN 6663-3:2008 (ISO 5667-3:2003) - Chất lượng nước-Lấy mẫu.
Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu.
- QCVN 40:2011/BTNMT-Quy chuẩn kĩ thuật Quốc gia về nước thải
công nghiệp.
2.1.2. Cơ sở lý luận
2.1.2.1.Vai trò và sự cần thiết phải bảo vệ tài nguyên nước.
a. Vai trò của nước đối với con người
Đối với cơ thể, nước còn quan trọng hơn cả chất đạm, chất béo, chất
đường, vitamin và muối khoáng. Nếu một người không ăn gì cả, chỉ uống
5
nước thôi, sẽ có thể sống được một tháng, nhưng nếu không uống nước, chỉ
sống được không quá một tuần.
Trong cơ thể con người, chất lỏng chiếm tỷ trọng nhiều nhất, khoảng
60-70% thể trọng. Chất lỏng trong cơ thể như máu, tuyến dịch limpa là do
nước và một số chất khác tạo nên, đã trở thành những “dòng sông, kênh rạch”,
vận chuyển chất dinh dưỡng đến các bộ phận của cơ thể.
Nước tham gia vào việc hình thành các dịch tiêu hóa, giúp con người
hấp thụ chất dinh dưỡng, cũng như tạo thành các chất lỏng trong cơ thể, thúc
đẩy quá trình trao đổi chất.
Nước còn giúp cho các phế nang luôn ẩm ướt, có lợi cho việc hô hấp.
Nước còn được gọi là dầu bôi trơn của toàn bộ khớp xương trong cơ thể, là
một chất hoãn xung của hệ thống thần kinh.
Nước tham gia vào vai trò tái sinh thế giới hữu cơ (tham gia quá trình
quang hợp). Trong quá trình trao đổi chất nước đóng vai trò trung tâm. Những
phản ứng lý hóa học diễn ra với sự tham gia bắt buộc của nước. Nước là dung
xuất như nước thải khi tiến hành vệ sinh công nghiệp hay hoạt động sinh hoạt
của công nhân viên. Nước thải công nghiệp rất đa dạng, khác nhau về thành
phần cũng như lượng phát thải và phụ thuộc vào nhiều yếu tố: loại hình công
nghiệp, loại hình công nghệ sử dụng, tính hiện đại của côngnghệ, tuổi thọ của
thiết bị, trình độ quản lý của cơ sở và ý thức cán bộ công nhân viên.
Trong nước thải sản suất công nghiệp lại được chia ra làm 2 loại:
- Nước thải sản xuất bẩn, là nước thải sinh ra từ quá trình sản xuất sản
phẩm, xúc rửa máy móc thiết bị, từ quá trình sinh hoạt của công nhân viên,
loại nước này chưa nhiều tạp chất, chất độc hại, vi khuẩn,
- Nước thải sản xuất không bẩn là loại nước sinh ra chủ yếu khi làm
nguội thiết bị, giải nhiệt trong các trạm làm lạnh, ngưng tụ hơi nước cho nên
loại nước thải này thường được quy ước là nước sạch.
Nước thải công nghiệp rất đa dạng về lượng cũng như tính chất, nó tùy
thuộc vào các yếu tố như: loại hình công nghiệp, loại hình công nghệ, công
suất hoạt động, … do tính chất đa dạng đó nên mỗi loại nước thải có một công
nghệ xử lý riêng.
Các loại nước thải công nghiệp thường gặp.
Ngành công nghiệp với đa dạng các loại hình sản xuất kinh doanh, đồng
nghĩa với việc cũng có đa dạng các loại nước thải công nghiệp được thải ra
7
hàng ngày. Một số loại nước thải của các ngành công nghiệp thường gặp và
gây không ít đau đầu cho người dân cũng như các nhà chức trách trong việc
kiểm soát nó là:
- Nước thải sản xuất bột ngọt
- Nước thải sản xuất Càfe
- Nước thải sản xuất Bia
- Nước thải sản xuất Đường
- Nước thải sản xuất Giấy
có mục đích sử dụng xác định.
- Khái niệm khoáng sản: Theo từ điển địa chất thì khoáng sản (hữu
ích) là thành tạo khoáng vật của lớp vỏ Trái Đất, mà thành phần hóa học và
các tính chất vật lý của chúng cho phép sử dụng chúng có hiệu quả và lợi ích
trong lĩnh vực sản xuất ra của cải vật chất của nền kinh tế quốc dân.
- Khái niệm khai thác khoáng sản: Là hoạt động khai thác các vật liệu
địa chất trong lòng đât, thường là các thân quặng, mạch hoặc vỉa than. Các vật
liệu được khai thác từ mỏ khoáng sản như kim loại cơ bản, kim loại quý, sắt,
urani, than, kim cương, đá vôi …Khai thác khoáng sản ở nghĩa rộng bao gồm
việc khai thác các nguồn tài nguyên không tái tạo (như dầu mỏ, khí thiên
nhiên, hoặc thậm chí là nước).
Nguồn nước bị ô nhiễm có dấu hiệu đặc trưng sau đây:
+ Có xuất hiện các chất nổi trên bề mặt nước và các cặn lắng chìm
xuống đáy nguồn.
+ Thay đổi tính chất lý học (độ trong, màu, mùi, nhiệt độ …)
+ Thay đổi thành phần hoá học (pH, hàm lượng của các chất hữu cơ và
vô cơ, xuất hiện các chất độc hại …)
+ Lượng ôxy hoà tan (DO) trong nước giảm do các quá trình sinh hoá
để oxy hoá các chất bẩn hữu cơ vừa mới thải vào.
+ Các vi sinh vật thay đổi về loài và về số lượng, có xuất hiện các vi
trùng gây bệnh .
Đặc trưng của nước thải
Nước thải có những đặc trưng sau:
9
1. Độ đục
Nước thải trong suốt các chất rắn không tạo ra các huyền phù lơ lửng.
Các chất lỏng không tan tạo dạng nhũ tương lơ lửng hoặc tạo váng trên mặt
nước. Sự xuất hiện các chất keo làm cho nước có độ nhớt.
10
Nước có vị mặn chat là do một số muối vô cơ hòa tan, điển hình là
muối ăn có vị mặn, muối của magie có vị chát.
5. Nhiệt độ
Tùy theo từng mùa nhiệt độ của nước sẽ thay đổi. Nước bề mặt ở Việt
Nam dao động từ 14,3 – 33,5
0
C. Nguồn gốc gây ô nhiễm nhiệt độ chính là
nhiệt của các nguồn nước thải từ bộ phận làm lạnh của các nhà máy. Nhiệt độ
tăng lên còn làm giảm hàm lượng oxy hòa tan trong nước
6. Độ dẫn điện
Các muối vô cơ tan trong nước tạo thành các ion làm cho nước có khả
năng dẫn điện. Độ dẫn điện của nước phụ thuộc vào nồng độ và khả năng linh
động của các ion. Vì vậy khả năng dẫn điện của nước cũng phản ánh mức độ ô
nhiễm môi trường nước.
Trường hợp hàm lượng các chất quá nhỏ, không có các biểu hiện đặt
trưng chúng chỉ được phát hiện với các thiết bị tinh vi:
- Các ion với hàm lượng quá nhỏ được xem như là các nguyên tố vi
lượng và siêu vi lượng rất cần thiết cho cơ thể sống. Tuy nhiên nếu vượt qua
ngưỡng thì lại trở thành mối nguy hiểm cho tất cả các cơ thể sống.
- Các chất hữu cơ hòa tan trong nước rất đa dạng và khó có thể kiểm
soát được. Các phân tử hữu cơ có thể tan hoàn toàn hoặc tan ở dạng keo. Có
chất trơ, có chất gây độc cho sự sống, có những chất là nguồn dinh dưỡng cho
vi sinh vật và các sinh vật thủy sinh nói chung nên chúng biến đổi liên tục về
hàm lượng.
- Hàm lượng oxy hòa tan trong nước DO được xem là một chỉ tiêu đánh
giá mức độ ô nhiễm. Vi sinh vật vừa tiêu thụ các chất vô cơ và hữu cơ trong
nước vừa phải tiêu thụ khí oxy tan trong nước. Khi lượng oxy bị tiêu thụ quá
nhanh lượng oxy từ không khí không kịp tan bù vào thì những sinh vật cần
oxy để sống sẽ chết.
trọng của chúng bằng hoặc lớn hơn 5 như Asen, Cadimi, Fe, Mn ở hàm
lượng nhỏ nhất định chúng cần cho sự phát triển và sinh trưởng của động thực
vật nhưng khi hàm lượng tăng thì chúng trở nên độc hại đối với sinh vật và
con người thông qua chuỗi mắt xích thức ăn.
Các thông số sinh học như:
12
Coliform: là nhóm vi sinh vật quan trọng trong chỉ thị môi trường.
-Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) là chất rắn trong nước có thể loại bỏ bởi
bộ lọc. Chất rắn lơ lửng có thể xuất phát từ bùn, thực vật và động vật mục nát,
chất thải công nghiệp và nước thải. Nồng độ cao của chất rắn lơ lửng có thể
gây ra vấn đề tắc nghén tại hệ xử lý làm hỏng thiết bị. TSS cao còn ảnh hưởng
đến đời sống thủy sinh, TSS cao có thể ngăn chặn ánh sáng từ thực vật ngập
nước, khi số lượng ánh sáng truyền qua nước giảm, quá trình quang hợp giảm.
2.2.Tình hình ô nhiễm nước trên thế giới và Việt Nam
2.2.1. Tình hình ô nhiễm nước trên thế giới
Ô nhiễm nước đang là vấn đề đáng báo động trên thế giới hiện nay. Đặc
biệt là các nước phát triển, cùng với sự phát triển thì các khu công nghiệp nhà
máy đã thải ra môi trường hàng loạt các lượng chất độc hại, làm cho nguồn
nước ở đây bị ô nhiễm trầm trọng.
Ở nước Anh vào đầu thế kỉ XIX sông Tamise rất sạch, đến giữa thế kỉ
này nó trở thành ống cống lộ thiên.
Tại Hoa kì tình trạng thảm thương ở bờ Đông cũng như nhiều vùng
khác vùng Đại hồ bị ô nhiễm nặng nề, trong đó hồ Erie, Ontario là đặc biệt
nghiêm trọng.
Tại Sukinda, Ấn Độ, các nữ công nhân phải tiếp xúc với nước nhiễm bẩn cực
nặng. Hậu quả của nó là tình trạng vô sinh, thai nhi bị dị tật và chết lưu.
Năm 2000, vụ tai nạn hầm mỏ xảy ra tại công ty Aurul (Rumani) đã thải
ra 50 -100 tấn xianu và kim loại nặng vào dòng sông Baia Mare. Sự nhiếm
độc này đã khiến các loài thủy sản ở đây chết hàng loạt, tổn hại đến hệ thực
uống, tắm giặt mà còn không thể dùng cho sản xuất nông nghiệp. Các nghiên
cứu cũng phát hiện tỷ lệ các kim loại độc trong nước sông khá cao như thủy
ngân (nồng độ từ 65-520ppb), chì (10-800ppm), crom (10-200ppm) và nickel
(10-130ppm). Sông Yamuna, Ấn Độ, dài 1.376km, là phụ lưu lớn nhất của
sông Hằng. Thủ đô New Delhi có 15 triệu dân thì chỉ có 55% dân số sống ở
các khu vực có xử lý nước thải. Phần còn lại, nước thải đều chảy thẳng ra sông
Yamuna. Đây chính là nguyên nhân khiến con sông nổi tiếng của Ấn Độ đang
ngày một ô nhiễm hơn nhiều. Lượng rác đổ xuống sông từ năm 1993 đến 2005
đã tăng gấp đôi.
14
Sông Buriganga, Bangladesh bị ô nhiễm bởi các hóa chất từ các nhà
máy ximăng, xà phòng, nhuộm, da và giấy. Hầu hết những loại hóa chất được
xác định có trong nước sông đều thuộc nhóm 12 chất ô nhiễm hữu cơ khó
phân hủy (POP), rất độc hại đối với con người. Các chất ô nhiễm này liên tục
thâm nhập vào cơ thể con người thông qua thực phẩm, đồ uống và phá hủy
các bộ phận của cơ thể.
Sông Hoàng Hà, là con sông dài thứ 2 ở Trung Quốc, có vai trò rất quan
trọng đối với người dân nước này. Đây chính là nguồn cung cấp nước lớn nhất
cho hàng triệu người dân ở phía Bắc Trung Quốc nhưng hiện giờ đã bị ô
nhiễm nặng nề bởi sự cố tràn dầu và các chất thải công nghiệp. Một đường
ống dẫn dầu bị vỡ của Công ty dầu khí quốc gia Trung Quốc với hơn 1.500 lít
dầu đã tràn vào đất canh tác và một phụ lưu của sông Hoàng Hà. Ngoài ra còn
có Sông Tùng Hoa đã bị ô nhiễm nặng nề bởi một sự cố bất thường liên quan
đến các nhà máy hóa chất dầu hỏa lớn trong tỉnh Cát Lâm phía Bắc Trung
Quốc đã bất ngờ bị nổ và hậu quả là hơn 100 tấn benzene và những chất độc
khác từ nhà máy đã đổ xuống sông. Benzene và nitrobenzene là chất gây ung
thư ngay cả với liều lượng nhỏ. Khối chất độc ấy sẽ tiếp tục trôi xuống hạ
nguồn, đổ vào con sông lớn Hắc Long Giang.
Sông King nằm ở Tây Australia. Sông này có độ phèn rất cao do chịu
Hàm lượng nước thải của các nghành này có chứa xyanua (CN-) vượt
đến 84 lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH
3
vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép
nên đã gây ô nhiễm nặng trong vùng dân cư.
Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công
nghiệp tập trung là rất lớn.
Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn
nước bị nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước
tính 500.000m
3
/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm giệt. Ở thành phố
Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện
gang thép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạn tổng lượng nước thải
khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu,
nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4 – 9 và hàm lượng NH
4
mg/l,, hàm
lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu
16
Khu công nghiệûp Biên Hòa và thành phố Hồ Chí Minh tạo ra nguồn
nước thải công nghiệp và sinh hoạt rất lớn, làm nhiễm bẩn tất cả các sông rạch
ở đây và cả vùng phụ cận.
Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt
nhuộm ở Bắc Ninh cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m3/ngày không
qua xử lý, gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường trong khu vực.
Tình trạng ô nhiễm ở các đô thị thấy rõ rệt nhất là ở thành phố Hà Nội
và thành phố Hồ Chí Minh ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có
hệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông , hồ, kênh,
17
trường, chưa qua xử lý gì cả, vì nước ta chưa có hệ thống xử lý nước thải nào
đúng nghĩa như tên gọi.
Nước ngầm cũng bị ô nhiễm, do nước sinh hoạt hay công nghiệp và nông
nghiệp. Việc khai thác tràn lan nước ngầm làm cho hiện tượng nhiễm mặn và
nhiễm phèn xảy ra ở những vùng ven biển sông Hồng, sông Thái Bình, sông Cửu
Long, ven biển miền Trung (Cao Liêm và Trần Ðức Viên, 1990).
Ô nhiễm nước tại các con sông lớn
Sông Cầu đang bị ô nhiễm cục bộ, nước chứa các hợp chất hữu cơ, dầu
mỡ; có đoạn nước nhiều váng dầu. Lưu vực sông này mỗi ngày nhận 16.000
m
3
nước thải từ khu gang thép Thái Nguyên. Các cơ sở chế biến thực phẩm xả
lượng nước thải là hơn 2.000 m
3
/ngày làm cho nguồn nước mặt bốc mùi hôi
thối. Mỗi năm, các tỉnh trong lưu vực sử dụng khoảng 500.000 tấn phân bón,
4.000 tấn thuốc trừ sâu. Ước tính lượng dư thừa đổ vào lưu vực 33%.
Tại hệ thống sông Đồng Nai,các KCN ở thành phố Hồ Chí Minh thải
khoảng 30.000 m
3
nước thải/ngày xuống sông Đồng Nai, trong đó chỉ 20%
lượng nước được xử lý nhưng tỷ lệ nước thải xử lý đạt tiêu chuẩn còn thấp
hơn nhiều. Mỗi ngày lưu vực sông tiếp nhận 480.000 m
3
nước thải công
nghiệp, 992.000 m
3
nước thải sinh hoạt. Hoạt động khai thác cát làm rạn nứt,
sụt lở đất hai bờ sông. Ô nhiễm nặng nhất là sông Thị Vải với hơn 10 km sông
nước thải từ các bãi chôn lấp rác thải đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm
trọng trên địa bàn tỉnh.
Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, tổng lượng nước thải từ các cơ sở
công nghiệp trên địa bàn tỉnh bình quân khoảng 3.000m
3
/ngày. Hầu hết các
nhà máy đều có hệ thống xử lý nước thải nhưng công nghệ xử lý lạc hậu nên
chất lượng nước thải sau khi xử lý thải ra môi trường chưa đáp ứng được yêu
cầu bảo vệ môi trường. Đặc biệt, nguồn nước thải của các cơ sở khai thác và
chế biến khoáng sản đã và đang tàn phá môi trường nghiêm trọng. Các cơ sở
này chủ yếu thực hiện biện pháp xử lý nước thải bằng phương pháp tạo bể, hồ
để thu gom nước thải, lắng lọc tự nhiên nhưng do hầu hết các hồ chứa nước
thải dung tích không đạt như thiết kế, lắng lọc rất kém, nước thải ra môi
trường thường vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần.
Các bệnh viện, trạm y tế và cơ sở khám chữa bệnh trong tỉnh cũng thải
ra môi trường khoảng 500 m
3
nước thải một ngày. Thế nhưng, hiện chỉ có
Bệnh viện Đa khoa tỉnh đã được đầu tư hệ thống xử lý nước thải bằng thiết bị
hợp khối đảm bảo nước thải thoát ra môi trường đạt tiêu chuẩn cho phép. Các
cơ sở y tế khác đều chưa được đầu tư hệ thống xử lý nước thải theo đúng quy
định. Kết quả quan trắc hằng năm cho thấy hầu hết nước thải bệnh viện có các