Đánh giá hiện trạng môi trường nước lưu vực sông An Châu đoạn chảy qua địa phận thị trấn An Châu – huyện Sơn Động – tỉnh Bắc Giang. - Pdf 29

I I HọC THáI NGUYÊN
TRƯờNG ĐạI HọC NÔNG LÂM

NGUYN VN DNG Tên đề tài:

NH GI HIN TRNG MễI TRNG NC LU VC SễNG
AN CHU ON CHY QUA A PHN TH TRN
AN CHU HUYN SN NG TNH BC GIANG
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trờng
Khoa : Môi trờng
Khoá học : 2010 - 2014

Giảng viên hớng dẫn: Th.S H ỡnh Nghiờm
Khoa Môi trờng - Trờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

nay, nên em rất mong được sự tham gia đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo
và các bạn để khóa luận của em được hoàn thiện./.

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Văn Dương
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BVMT Bảo vệ môi trường
TN & MT Tài nguyên và Môi trường
QCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
THCS

Trung học cơ sở

UBND Uỷ ban nhân dân
BTNMT Bộ Tài Nguyên Môi Trường
BOD
5
Nhu cầu oxy sinh hóa
COD Nhu cầu oxy hóa học
TSS

Tổng chất rắn lơ lửng
BYT
Bộ Y tế
THPT

Trung học phổ thông
TCVN

quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường của người dân các vùng thị trấn và các
xã ở những huyện nghèo còn kém nên một loạt các vấn đề về ô nhiễm môi
trường tại vùng này đang ngày càng tăng lên.
Lưu vực sông An Châu, đại diện là đoạn chảy qua thị trấn An Châu có
ý nghĩa quan trọng đối với người dân trên địa bàn thị trấn: Cung cấp nước
sinh hoạt, tưới tiêu nông nghiệp Thị trấn An Châu trước kia nền kinh tế phát
triển chủ yếu là nền nông nghiệp thuần túy. Nhưng hiện nay cùng với quá
trình phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước, chất lượng cuộc
sống của nhân dân thị trấn An Châu cũng đang ngày được cải thiện, số lượng
các nhà máy, xí nghiệp đang một tăng. Kéo theo hàng loạt các vấn đề, các áp
lực về ô nhiễm môi trường, hệ thống thoát nước thải và rác thải từ các cơ sở
sản xuất và nước thải sinh hoạt của người dân trong thị trấn không qua xử lý
chính là nguyên nhân gây nên tình trạng ô nhiễm nước, đất, không khí.
Hơn thế nữa các nguồn thải này còn là nguyên nhân gây nên các bệnh
truyền nhiễm trên diện rộng với cộng đồng dân cư sống gần đó. Nguồn gây ô
nhiễm này có khả năng gây ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất của người dân, ô
nhiễm môi trường sống và làm suy giảm chức năng hệ sinh thái trong khu 2

2
vực. Nhiều nhà máy tuy không nằm trong khu vực thị trấn An Châu nhưng
những ảnh hưởng do những nguồn thải của các nhà máy này không nhỏ đến
môi trường như: Ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước Đặc biệt là ô
nhiễm nguồn nước lưu vực sông An Châu đoạn chảy qua địa phận thị trấn An
Châu. Chính vì tình hình này nên việc tìm hiểu về hiện trạng môi trường nước
lưu vực sông An Châu đoạn chảy qua địa phận thị trấn An châu cũng như ảnh
hưởng của ô nhiễm nguồn nước lưu vực sông An Châu đến môi trường sống,
đến sức khỏe cộng đồng dân cư sống trong địa bàn thị trấn An Châu – Huyện

lượng nước nhằm phục vụ các hoạt động của địa phương.
1.4. Yêu cầu
- Đánh giá chính xác, trung thực, khách quan về hiện trạng Môi trường
nước sông An Châu đoạn chảy qua thị trấn An Châu - huyện Sơn Động - tỉnh
Bắc Giang.
- Kết quả phân tích phải được so sánh với tiêu chuẩn, quy chuẩn Môi
trường.
- Chỉ ra được những thuận lợi và khó khăn của công tác quản lý môi
trường nước lưu vực sông An Châu đoạn chảy qua địa phận thị trấn An
Châu – huyện Sơn Động – tỉnh Bắc Giang.
- Đề xuất được những phương án giải quyết mang tính khả thi, phù hợp
với địa bàn nghiên cứu.
1.5. Ý nghĩa của đề tài
1.5.1. Ý nghĩa trong học tập
- Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu vào
thực tiễn.
- Nâng cao trình độ chuyên môn đồng thời tích lũy kinh nghiệm thực tế
cho bản thân sau này
- Tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội thực hiện và tiếp xúc với các vấn
đề đang được xã hội quan tâm
1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đưa ra được các kết quả, đánh giá chính xác nhất về chất lượng môi trường
nước, giúp cơ quan quản lí về môi trường có biện pháp thích hợp để bảo vệ.
- Tạo số liệu làm cơ sở cho công tác lập kế hoạch xây dựng chính sách
bảo vệ môi trường và kế hoạch cung cấp nước cho hoạt động sản xuất và sinh
hoạt của người dân trong địa bàn huyện.
- Nâng cao nhận thức, tuyên truyền và giáo dục về bảo vệ môi trường cho
cộng đồng dân cư.
nghiệp, giao thông vận tải thủy, du lịch.
- Tài nguyên nước được phân thành 3 dạng chủ yếu theo vị trí cũng
như đặc điểm hình thành, khai thác và sử dụng. Đó là nguồn nước mặt, nước
ngầm và nước trong khí quyển (hơi nước). [6]
5

5
Khái niệm về ô nhiễm môi trường nước
“Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý -
hóa- sinh học của nước, với sự xuất hiện của các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm
cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật, làm giảm độ đa
dạng sinh vật trong nước. Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô
nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất”. [6 ]
Tác nhân và thông số ô nhiễm nguồn nước
- Độ pH: pH là một chỉ số xác định tính chất hoá học của nước cấp và
nước thải.
- Nhu cầu oxi sinh hóa (BOD) : Là lượng oxy cần thiết để vi sinh vật
tiêu thụ trong quá trình oxy hóa các chất hữu cơ trong nước.
- Nhu cầu oxi hóa học (COD) : Là lượng oxy cần thiết cho quá trình
oxy hóa các hợp chất hữu cơ trong nước thành CO
2
và H
2
O. COD biểu thị
lượng chất hữu cơ có thể oxy hóa bằng hóa học.

- Hàm lượng oxy hòa tan trong nước (DO ) : Là lượng oxy không khí

các chỉ tiêu chất lượng đối với nước dùng để ăn uống, nước dùng cho các cơ
sở chế biến thực phẩm.
- Chỉ thị số 02/2004/CT - BTNMT ngày 02/06/2004 của Bộ trưởng Bộ
Tài nguyên và môi trường về việc tăng cường công tác quản lý Tài nguyên
nước dưới đất.
- QCVN 02:2009/BYT - Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất
lượng nước sinh hoạt.
- QCVN 40:2011/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước
thải công nghiệp.
- QCVN 08:2008/BTNMT : Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất
lượng nước mặt
- QCVN 09:2008/BTNMT : Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất
lượng nước ngầm
- TCVN 5942:1995 Tiêu chuẩn Việt Nam về chất lượng nước - tiêu
chuẩn chất lượng nước mặt
- TCVN 6492:2011 Tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng nước
- Xác định pH
- TCVN 6001: 1995: Chất lượng nước. Xác định nhu cầu oxy sinh hóa
- TCVN 6491-1999 : Chất lượng nước - Xác định nhu cầu oxy hoá học 7

7
- TCVN 6625-2000: Chất lượng nước- Xác định chất rắn lơ lửng bằng
cách lọc qua cái lọc sợi thuỷ tinh.
- TCVN 5945:2005 : Nước thải công nghiệp - Tiêu chuẩn thải
- TCVN 5993 : 1995: Chất lượng nước - lấy mẫu, hướng dẫn
bảo quản và xử lý mẫu.



8
từ các nhà máy ximăng, xà phòng, nhuộm, da và giấy. Hầu hết những loại hóa
chất được xác định có trong nước sông đều thuộc nhóm 12 chất ô nhiễm hữu
cơ khó phân hủy (POP
s
), rất độc hại đối với con người. Các chất ô nhiễm này
liên tục thâm nhập vào cơ thể con người thông qua thực phẩm, đồ uống và
phá hủy các bộ phận của cơ thể.
Sông Hoàng Hà, Trung Quốc: Sông Hoàng Hà là con sông dài thứ 2 ở
Trung Quốc, có vai trò rất quan trọng đối với người dân nước này. Đây chính là
nguồn cung cấp nước lớn nhất cho hàng triệu người dân ở phía Bắc Trung Quốc
nhưng hiện giờ đã bị ô nhiễm nặng nề bởi sự cố tràn dầu và các chất thải công
nghiệp. Một đường ống dẫn dầu bị vỡ của Công ty dầu khí quốc gia Trung Quốc
với hơn 1.500 lít dầu đã tràn vào đất canh tác và một phụ lưu của sông Hoàng Hà.
Sông Hằng, Ấn Độ: Sông Hằng là con sông nổi tiếng nhất Ấn Độ, dài
2.510km bắt nguồn từ dãy Hymalaya, chảy theo hướng Đông Nam qua
Bangladesh và chảy vào vịnh Bengal. Sông Hằng có lưu vực rộng
907.000km
2
, một trong những khu vực phì nhiêu và có mật độ dân cao nhất
thế giới.
Hiện nay, sông Hằng là một trong những con sông bị ô nhiễm nhất trên
thế giới vì bị ảnh hưởng nặng nề bởi nền công nghiệp hóa chất, rác thải công
nghiệp và rác thải sinh hoạt chưa qua xử lý tới mức những người mộ đạo
trước kia tôn thờ nguồn nước sông này giờ đây lại trở nên khiếp sợ chính
nguồn nước đó. Chất lượng nước đang trở nên xấu đi nghiêm trọng. Cùng với
sự mất đi khoảng 30-40% lượng nước do những đập nước đang làm cho sông
Hằng trở nên khô cạn và có nguy cơ biến mất. Theo ước tính, có hơn 400
triệu người sống dọc hai bờ sông Hằng và mỗi ngày có 2 triệu người tới bờ

trở lên.
Phần lớn sông ngòi nước ta đều là nước ngọt, vừa cung cấp nước phục vụ nhu
cầu sinh hoạt của con người, vừa phục vụ cho ngành sản xuất khác. Tuy
nhiên, nước ngọt là tài nguyên hạn chế và dễ bị suy thoái, tối cần thiết cho sự
sống, phát triển của con người, sinh vật và môi trường. [4]
Ở Việt Nam – một nước đang phát triển, mặc dù được nhà nước đặc
biệt quan tâm nhưng chỉ mới có 46 – 50% dân cư đô thị và 36 – 43% dân cư
nông thôn được dùng nước sạch. Nhiều người dân ở nhiều vùng còn phải
dùng nguồn nước không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh, kéo theo tỷ lệ dân cư
mắc bệnh khá cao: 90% phụ nữ nông thôn mắc bệnh phụ khoa, 95% trẻ em
nông thôn bị nhiễm giun, hàng năm có trên 1 triệu ca tiêu chảy, kiết lị
Nguồn nước bị ô nhiễm là nguyên nhân quan trọng tạo nên những nguy cơ
tiềm tàng của nhiều bệnh lý ở địa phương. [8] 10
10
Lưu vực sông Cầu: Ðây không phải là nguy cơ ô nhiễm mà là một lưu
vực đã bị ô nhiễm hoàn toàn. Dân số sống trong lưu vực này chiếm khoảng 7
triệu trên một diện tích độ 10.000km
2
. Trong lưu vực này, ngoài khu sản xuất
công nghiệp lớn nhất Thái Nguyên, qua việc khai thác mõ và hóa chất, còn có
trên dưới 800 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp và quy mô công nghiệp nhỏ
như các làng nghề tập trung. Lượng chất thải lỏng thải hồi vào lưu vực sông
Cầu ước tính khoảng 40 triệu m
3
/năm. Riêng khu vực Thái Nguyên thải hồi
khoảng 24 triệu m
3

nghiệp thải hồi trung bình 20 triệu m
3
/năm. Hà Tây là nơi trọng điểm của làng
nghề chiếm 120 làng trên tổng số 286 làng nghề trong khu vực. Hai hạ lưu có 11
11
ô nhiễm trầm trọng nhất là sông Nhuệ và sông Tô Lịch với hàm lượng DO
hầu như triệt tiêu, nghĩa là không còn điều kiện để cho tôm cá sống được, và
vào mùa khô nhiều đoạn sông trên hai sông nầy chỉ là những bãi bùn nằm trơ
cùng trời đất.
Lưu vực sông Ðồng Nai và sông Sài Gòn: Lưu vực này chẳng những
là một vùng đông dân cư như Hà Nội, với diện tích 14.500km
2
và dân số
khoảng 17,5 triệu và cũng là một vùng tập trung phát triển công nghiệp lớn
nhất và cũng là một vùng được đô thị hóa nhanh nhất nước. Hàng năm sông
ngòi trong lưu vực nầy tiếp nhận khoảng 40 triệu m
3
nước thải công nghiệp,
không kể một số lượng không nhỏ của trên 30.000 cơ sở sản xuất hóa chất rải
rác trong TP.Hồ Chí Minh. Nước thải sinh hoạt ước tính khoảng 360 triệu m
3
.
Ngoài những chất thải công nghiệp như hợp chất hữu cơ, kim loại độc hại
như: đồng, chì, sắt, kẽm, thủy ngân, cadmium, mangan, các loại thuốc bảo vệ
thực vật. Nơi đây còn xảy ra hiện tượng nước sông bị acid hóa như đoạn sông
từ cầu Bình Long đến Bến Than, nhiều khi độ pH xuống đến 4,0 (độ pH trung
hòa là 7,0), và trọng điểm là sông Rạch Tra, nơi tất cả nước rỉ từ các bãi rác

chiều dài 347km, lưu lượng lớn và có nước quanh năm. Hệ thoonga ao, hồ,
đầm, mạch nước ngầm có trữ lượng khá lớn. Lượng nước mặt, nước mưa,
nước ngầm đủ khả năng cung cấp cho các ngành kinh tế và sinh hoạt, cụ thể
tài nguyên nước trên các sông như sau:
- Sông Cầu: Sông Cầu có chiều dài 290 km, đoạn chảy qua địa phận
Bắc Giang có chiều dài 101 km. Sông Cầu có hai chi lưu lớn nằm ở hữu ngạn
là song Công và sng Cà Lồ. Lưu lượng nước trên sông Cầu hàng năm khoảng
4,2 tỷ m
3
, hiện nay đã có hệ thống thủy nông trên sông Cầu phục vụ tưới tiêu
cho các huyện: Tân Yên, Việt Yên, Hiệp Hòa, một phần thành phố Bắc Giang
và huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Sông Lục Nam: Sông Lục Nam có chiều dài khoảng 175 km, đoạn
chảy qua địa phận tỉnh Bắc Giang có chiều dài khoảng 150 km, bao gồm các
chi lưu chính là sông Cấm Đàn, sông Thanh Luận, sông Rán, sông Bò. Lưu
lượng nước hang năm khoảng 1,86 tỷ m
3
. Hiện tại trên hệ thống sông Lục
Nam đã xây dựng khoảng 170 công trình chủ yếu là hồ, đập để phục vụ tưới
nước cho các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam.
- Sông Thương: Sông thương có chiều dài 87 km, có chi lưu chính là
sông Hóa, sông Sỏi và sông Trung. Lưu lượng nước hàng năm khoảng 1,46 tỷ
m
3
, trên sông Thương đã xây dựng hệ thống thuy nông Cầu Sơn phục vụ tưới
nước cho huyện Lạng Giang, một phần các huyện : Lục Nam, Yên Dũng và
thành phố Bắc Giang. 13

của đại bộ phận dân cư chưa cao trong việc khai thác nguồn nước đang là
nguy cơ đe doạ tính bền vững của nguồn tài nguyên nước. Chất lượng nước
tại các khu công nghiệp, khu đô thị rất kém do hầu hết các cơ sở công nghiệp
và các làng nghề hiện đang thải trực tiếp nước ra môi trường mà chưa chú
trọng biện pháp xử lý đã gây ô nhiễm không chỉ nguồn nước mặt mà có dấu
hiệu xuống cả nguồn nước ngầm. Hiện nay chất lượng nguồn nước mặt đã có
những dấu hiệu bị ô nhiễm.
Trong ngững năm tới, huyện Sơn Động sẽ tập trung cao cho phát triển
kinh tế nên nhu cầu về nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt. Việc bảo vệ
nguồn nước, phòng chống suy thoái hay cạn kiệt nguồn nước gắn với việc bảo
vệ, phát triển rừng và khả năng tái tạo nguồn nước cũng được Huyện quan
tâm đồng thời với việc xử lý nghiêm các trường hợp làm suy thoái, cạn kiệt, ô
nhiễm môi trường nước mặt. Định hướng của huyện đến năm 2015 toàn bộ 14
14
dân số trong huyện được sử dụng nước sạch bằng hệ thống cấp nước tập trung
đến các điểm dân cư. Để đạt được mục tiêu này cần có khoản kinh phí rất lớn
để thăm dò, đánh giá và khai thác các nguồn nước ngầm và nước mặt cũng
như xây dựng các nhà máy nước và các chính sách bảo vệ nguồn nước. [2]

15
15


16
16
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập các tài liệu liên quan tới các nội dung nghiên cứu từ các số
liệu sẵn có tại khu vực thực hiện, tham khảo các tài liệu trên sách, báo,
internet, các nghiên cứu khoa học
- Thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại Phòng
TN&MT - huyện Sơn Động - tỉnh Bắc Giang.
3.4.2. Phương pháp điều tra phỏng vấn
Phương pháp điều tra phỏng vấn nhằm thu thập số thông tin tài liệu về
hiện trạng và chất lượng môi trường nước.
Số hộ phỏng vấn: 50 hộ.
Tiêu chí chọn hộ: 50 phiếu điều tra được chia đều cho 4 khu của thị trấn
An Châu - huyện Sơn Động – tỉnh Bắc Giang, chủ yếu là chủ hộ thường
xuyên sử dụng nguồn nước cho sinh hoạt và sản xuất, chịu ảnh hưởng trực
tiếp từ vấn đề ô nhiễm, tránh các hộ gia đình làm ăn xa, không nắm bắt được
tình hình môi trường tại địa phương.
Phương pháp phỏng vấn: Đến từng hộ gia đình, hỏi trực tiếp chủ hộ, câu
hỏi đưa ra cần sát thực tế, phục vụ cho mục đích nghiên cứu, ngôn từ mộc
mạc, dễ hiểu.
Phương pháp điều tra phỏng vấn phục vụ sơ bộ và tổng quát về vấn đề
nghiên cứu. Giúp thu thập thêm thông tin để tổng hợp đầy đủ chính xác về
chất lượng nước mặt và hiểu biết của người dân về môi trường nước mặt của
huyện kết hợp với việc đi khảo sát, chụp ảnh tại khu vực nghiên cứu.
3.4.3. Phương pháp lấy mẫu
Phương pháp lấy mẫu phân tích: Phương pháp lẫy mẫu nước mặt thực
hiện theo hướng dẫn của các tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5992:1995 (ISO
5667 -2: 1991).

3.4.4. Phương pháp phân tích mẫu
Quá trình phân tích mẫu nước, được thực hiện tại phòng thí nghiệm
của khoa Môi Trường – trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Các mẫu phân tích được tiến hành theo quy định của các TCVN. Cụ thể
như sau:
pH Theo TCVN 6492: 2011
BOD
5
: Theo TCVN 6001: 2008
COD: Theo TCVN 4565:1988
3.4.5 Phương pháp xử lý và đánh giá tổng hợp số liệu
- Phương pháp thống kê so sánh: Phương pháp này cho phép ta so
sánh hàm lượng các chỉ tiêu nghiên cứu với QCVN, so sánh hàm lượng các
chỉ tiêu nghiên cứu, hoặc so sánh giữa các địa điểm lấy mẫu với nhau.
- Phương pháp tổng hợp: Là liên kết thống nhất toàn bộ các yếu tố, các
nhận xét mà khi sử dụng các phương pháp có được một kết luận hoàn thiện,
đầy đủ, vạch ra mối liên hệ giữa chúng.
- Số liệu được xử lý bằng phần mềm WINWORD, EXCEL…
- Sử dụng một số phương pháp khác.
3.4.6. Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia
18
18
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị trấn An Châu - huyện Sơn
Động – tỉnh Bắc Giang
4.1.1. Điều kiện tự nhiên

Quảng Ninh.
Nhìn trên bản đồ, thị trấn An Châu nằm trên vòng cung Ngân Sơn –
Đông Triều, phía Bắc và Đông giáp các huyện Lộc Bình, Đình lập của tỉnh
Lạng Sơn, phía Nam giáp 3 huyện của tỉnh Quảng Ninh là Ba Chẽ, Hoành Bồ
và Đông Triều, còn phía Tây giáp huyện Lục Nam và Lục Ngạn. với vị trí
như trên thị trấn An châu có vị trí tương đối thuận lợi cho việc phát triển kinh
tế xã hội và giao lưu buôn bán với các vùng lân cận.
4.1.1.2. Đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng
• Địa hình
An Châu là một thị trấn vùng cao của huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang, từ
trung tâm là thị trấn An Châu cách thành phố Bắc Giang khoảng 80 km. Tổng
diện tích tự nhiên của thị trấn là 213,3 ha, chiếm 22,09 tổng diện tích của
huyện Sơn Động. Trong đó đất nông nghiệp: 111,23 ha, đất lâm nghiệp: 27,06
ha.
Thị trấn An Châu có địa hình núi thấp dần từ Đông Bắc sang Tây Nam,
dãy núi Yên Tử án ngữ phía Đông Nam bao gồm các núi cao và đốc bị chia
cắt mạnh, đỉnh cao nhất là 1068m, độ cao trung bình là 450m so với mực
nước biển. [11]
• Thổ nhưỡng
Đất đai trên địa bàn thị trấn An Châu chủ yếu là các loại đất đỏ vàng trên
đá phiến sét, Đất vàng nhạt trên đá cát: các khu vực phía Bắc của thị trấn. Đất
đai có tầng đất khá dầy, hàm lượng mùn tương đối cao, vùng này chiếm
khoảng 20% tổng diện tích tự nhiên của toàn thị trấn.
Vùng núi cao trung bình gồm các khu vực ở phía Đông Nam, có tầng đất
dày trung bình đến nông, hàm lượng mùn đến thấp hơn, diện tích vùng này
chiếm khoảng 80% tổng diện tích tự nhiên của toàn thị trấn. [11]
4.1.1.3. Đặc điểm khí hậu và thuỷ văn
• Khí hậu
C
Nhiệt độ thấp tuyệt đối: - 2,8
o
C
Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm không quá cao: từ 6,4
o
C đến 9,9
o
C
Tổng tích ôn tương đối cao thuận lợi cho việc phát triển nhiều loại cây
trồng. Trong năm có thời gian nhiệt độ xuống thấp thích hợp phát triển đối
với một số cây ăn quả, nhất là cây vải thiều.
+ Lượng mưa:
Lượng mưa trung bình cả năm là 1.564mm. Thuộc khu vực có lượng
mưa trung bình trong vùng. Số ngày mưa trung bình trong năm là 128,5 ngày,
những ngày có lượng mưa lớn nhất vào tháng 8 đạt 310,6mm.
21
21
+Nắng:
Thị trấn An Châu nằm trong khu vực có lượng bức xạ trung bình so
với vùng khí hậu nhiệt đới. Số giờ nắng trung bình trong cả năm là 1.571 giờ,
bình quân số giờ nắng trong ngày đạt 4,3 giờ, tháng có số giờ nắng cao nhất là
tháng 7 (199giờ). Số giờ nắng như vậy cho phép nhiều loại cây trồng phát
triển và cây trồng được nhiều vụ trong năm.
+ Độ ẩm và không khí:
Độ ẩm không khí trung bình cả năm là 81%, các tháng có độ ẩm cao
thường rơi vào mùa mưa, cao nhất là tháng 8 (86%), thấp nhất vào tháng 12

Hệ thống sông suối, hệ thống hồ đập lớn nhỏ trên địa bàn thị trấn đã
cung cấp một lượng nước tưới khá lớn phục vụ cho nhu cầu sản xuất tại chỗ
và các huyện vùng xuôi của tỉnh Bắc Giang. Một số hộ bắt đầu khai thác nước
ngầm từ giếng khoan vừa phục vụ sinh hoạt và vừa phục vụ nước tưới cho cây trồng.
Tóm lại, về điều kiện tự nhiên ở thị trấn An Châu có những thuận lợi
cơ bản như vị trí địa lý, tiểu vùng khí hậu cũng như điều kiện đất đai nhưng
còn có những khó khăn gây cản trở cho phát triển kinh tế xã hội đăc biệt là ở
các khu xa trung tâm thị trấn do điều kiện giao thông đi lại rất khó khăn, đất
đai có chất lượng thấp và thường gặp hạn hán do thiếu nước.
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Điều kiện kinh tế
• Cơ sở hạ tầng
- Về giao thông vận tải: An Châu là một thị trấn miền núi lên có hệ
thống mạng lưới giao thông vận tải kém phát triển, chủ yếu là phát triển hệ
thống giao thông đường bộ. Mạng lưới giao thông này có chiều dài hơn 100
km với 3 tuyến đường giao thông chính là đường lên huyện Đình Lập tỉnh
Lạng Sơn, Đường xuống thành phố Bắc Giang và đường sang huyện Hoành
Bồ tỉnh Quảng Ninh.
- Hệ thống giao thông của thị trấn An Châu trong những năm gần đây
cũng có rất nhiều chuyển biến theo hướng tích cực. Trong năm gần đây được
sự giúp đỡ của tổng công ty xe khách Bắc Hà. Thị trấn An Châu đã có xe buýt
lưu thông trên địa bàn phục vụ việc chuyển khách và vận chuyển hàng hoá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status