ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN
LƯƠNG TUẤN VŨ Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC THẢI, KHÍ
THẢI, CHẤT THẢI RẮN TẠI NHÀ MÁY LỌC CHÌ THỎI
THÔN AN TRI –XÃ BÌNH TRUNG –HUYỆN CAO LỘC –TỈNH
LẠNG SƠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên nghành : Quản lý đất đai
Khoa : Quản lý tài nguyên
Lớp : K42 – ĐCMT – N02
Khóa học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông
Thái Nguyên, năm 2014
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn ban giám
3 QCVN Quy chuẩn Việt Nam
4 KCN Khu công nghiệp
5 KCX Khu chế xuất
6 CTR Chất thải rắng
7 CTNH Chất thải nguy hại
8 TCXD Tiêu chuẩn xây dựng
9 BXD Bộ xây dựng
10 AHU & FCU Hệ thống làm lạnh không khí MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục đích, yêu cầu, ý nghĩa của đề tài 3
1.2.1. Mục đích của đề tài 3
1.2.2. Yêu cầu của để tài 3
1.2.3. Ý nghĩa của đề tài 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài nghiên cứu 4
2.1.1. Cơ sở lý luận 4
2.1.2. Cơ sở thực tiễn 4
2.1.3. Cơ sở pháp lý 5
2.2. Những vấn đề cơ bản về chất thải 7
2.2.1. Khái niệm về chất thải rắn 7
2.2.2. Khái niệm về xử lý chất thải 7
2.2.3. Phân loại chất thải 7
2.2.4. Một số phương pháp xử lý chất thải rắn 8
2.3. Mối quan hệ giữa chất thải với con người và môi trường 10
2.3.1. Nguồn gây ô nhiễm 10
4.2.4. Nước thải sản xuất của nhà máy lọc chì 25
4.2.5. Đối với khí thải của nhà máy lọc chì Error! Bookmark not defined.
4.2.6. Đối với chất thải rắn của nhà máy lọc chì 51
4.2.6.1. Chất thải thông thường 51
4.2.6.2. Chất thải rắn nguy hại 54
4.3. Giới thiệu chung về nhà máy lọc chì 23
4.4. Một số thuận lợi, khó khăn và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
của quy trình xử lý chất thải tại nhà máy lọc chì 54
4.4.1. Thuận lợi 54
4.4.2. Khó khăn 55
4.4.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xử lý chất thải tại nhà máy 55
PHẦN 5 KẾT LUẬN ĐỀ NGHỊ 57
5.1. Kết luận 57
5.2. Đề nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 : Nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt 32
Bảng 2 : Chất lượng nước thải sinh hoạt sau sử lý 35
Bảng 3 : Thành phần chính của nước thải sản xuất 26
Bảng 4 : chất lượng nước thải sản xuất sau sử lý 31
Bảng 5 : Đặc trưng khí thải và tác động môi trường 39
Bảng 6 : kết quả đo đạc chất lượng khí thải công nghiệp. 43
Bảng 7 : thiết bị chính của hệ thống xử lý khí SO
2
48
Bảng 8 : cân bằng xác định lượng chất thải sản xuất 51
DANH MỤC HÌNH
Hình 1 : Sơ đồ bể tự hoại 3 ngăn 34
Hình 2 : sơ đồ hệ thống thoát nước mưa chảy tràn 37
nghệ xử lý chất thải như thế nào để đạt hiệu quả cao, không gây nên hậu quả
xấu về môi trường trong tương lai và ít tốn kém chi phí luôn là nỗi bức xúc
của các ngành chức năng.
Chất thải là sự đồng hành tất yếu trong mọi hoạt đông kinh tế và phát
triển. Trong điều kiện tiến bộ khoa học và công nghệ hiện nay và trong tầm
nhìn dài hạn (vài thập kỷ tới), lượng chất thải nói chung và chất thải rắn nói
riêng có xu hướng gia tăng cùng với sự gia tăng của sản xuất và tiêu dùng
trong quá trình phát triển của xã hội. Sự gia tăng của chất thải đã, đang và vẫn
tiếp tục là một tác nhân, nguyên nhân chính của tình trạng ô nhiễm môi
2
trường và suy giảm chất lượng môi trường, đe dọa tính bền vững trong quá
trình phát triển cả ở tầm vi mô (các nhà máy, xí nghiệp nhỏ). Tác nhân,
nguyên nhân này được kìm hãm và khắc phục đồng thời theo cả hai hướng:
Một là bằng các công nghệ nhằm giảm thiểu, hạn chế lượng chất thải ra môi
trường và hai là bằng các giải pháp quản lý đối với chất thải trong suốt quá
trình phát sinh và vận động của chất thải.
Xử lý chất thải rắn, chất thải sinh hoạt đang là vấn đề bức xúc đối với
các địa phương trong cả nước, đặc biệt là ở các đô thị, khu công nghiệp.
Trong bối cảnh chung của nước ta là đang trên đà phát triển. Thành phố
Lạng Sơn cũng đang thực hiện nhiệm vụ chung của đất nước đã và đang phát
triển mạnh mẽ. Trong đó kinh tế chất thải đang trở thành nghành kinh tế trọng
điểm trong việc góp phần và sự phát triển bền vững thì việc giải quyết chất
thải bằng các quy trình xử lý hiệu quả là điều tất yếu.
Nhà máy chế biến chì thỏi thuộc công ti cổ phần kim loại màu Bắc Bộ,
công suất 10.000 tấn/năm nằm trong khu công nghiệp phía Tây Bắc Thành
phố Lạng Sơn, cách Thành phố Lạng Sơn hơn 20km. Nhà máy sẽ góp phần
tăng cường mật độ các nhà máy hình thành mội cụm khu công nghiệp lớn, giả
quyết tốt vấn đề phân bố dân cư, biến một vùng đồi núi thưa thớt dân cư trở
thành vùng công nghiệp sầm uất, tạo điều kiện cho người dân miền núi có
thêm công ăn việc làm.
4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của để tài nghiên cứu
2.1.1. Cơ sở lý luận
Ngành công nghiệp luyện kim, nhất là luyện kim màu có một vai trò
hết sức trọng yếu trong nền công nghiệp của một đất nước đang phát triển và
phát triển. Nó đóng góp hết sức quan trọng trong việc chủ động nguồn nguyên
liệu trong nước, không phụ thuộc nước ngoài, không phụ thuộc vào việc nhập
khẩu góp phần chống nhập siêu, tăng nhanh tổng sản phẩm xã hội, giải quyết
công ăn việc làm cho nhiều lao động trong xã hội, làm cho nền công nghiệp
phát triển cân đối, đồng đều, đa dạng hoá sản phẩm và phát triển vững chắc.
Vì vậy, việc hình thành Nhà máy chế biến chì thỏi, công suất 10.000
tấn/năm nằm trong khu công nghiệp phía Tây Bắc Thành phố Lạng Sơn, cách
Thành phố Lạng Sơn hơn 20km, là một vần đề cần thiết nhưng bên cạnh đó là
nguồn thải từ nhà máy và các nguồn thải phát sinh trong gia đoạn sản xuất,
nên có các biện pháp giảm thiểu, phòng ngừa , về vấn đề chất thải mà nhà
máy tạo ra.[2]
2.1.2. Cơ sở thực tiễn
Ngày nay chất thải từ sản xuất đang trở thành vấn đề lớn được các nhà
quản lý môi trường của Việt Nam cũng như nước ngoài hết sức quan tâm.
Thành phần chất thải nhà máy lọc chì của nhà máy đang là vấn đề nổi cộm và
nhức nhối. Số lượng ngày càng nhiều vì lượng sản xuất của nhà máy là
10.000 tấn/năm số lượng rất lớn khiến lượng chất thải tạo ra cũng rất lớn, với
lương công nhân viên của nhà máy khá là nhiều, kèm theo nhiều vấn đề phát
6
- Nghị định số 04/2007/NĐ-CP ngày 08 tháng 01 năm 2007 của Chính
phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2003/NĐ-CP ngày
13 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước
thải.
- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2007 của Chính
phủ về quản lý chất thải rắn.
- Nghị định số 08/2005/NĐ-CP ngày 24 tháng 1 năm 2005 của Chính
phủ về quy hoạch xây dựng.
- Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 2004 của
Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng.
- Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 1998 của Chính
phủ về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục
đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính
phủ về bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng
cho mục đích lợi ích quốc gia, lợi ích kinh tế, mục đích phát triển kinh tế để bồi
thường đất, tài sản, hỗ trợ và bố trí tái định cư cho ngời bị thu hồi đất.
- Thông tư số 05/2008/TT-BTNMT ngày 08 tháng 12 năm 2008 của Bộ
Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược,
đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường.
- Thông tư số 02/2005/TT-BTNMT ngày 24 tháng 6 năm 2005 của Bộ
Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số
149/2004/NĐ-CP ngày 27/7/2004 của Chính phủ quy định việc cấp phép
thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước.
- Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Bộ
Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn hành nghề và lập thủ tục hồ sơ, đăng
ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại.
7
trường học, các trung tâm dịch vụ thương mại.
- Chất thải rắn công nghiệp : là chất thải phát sình từ các hoạt động sản
xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
- Chất thải xây dựng: là các phế thải như Đất, đá (do các hoạt động đào
móng trong xây dựng) gạch ngói, bê tông vỡ do các hoạt động phá vỡ, dỡ bỏ
công trình xây dựng.[2]
2.2.4. Một số phương pháp xử lý chất thải rắn
Các phương pháp xử lý chất thải rắn thường được sử dụng là chôn
trong đất (landfilling) hoặc đốt. Hiện nay, phương pháp chôn trong đất ngày
càng ít được lựa chọn do chúng ngăn cản sự thu hồi các sản phẩm có thể dùng
lại được (plastic, giấy, các vật liệu xây dựng ) và chúng không hiệu quả lắm
trong việc thu hồi năng lượng (biogas). Hơn nữa, chôn trong đất ngâm có thể
gây ra sự bốc mùi của khí gây ô nhiễm môi trường. Tương tự như thế, các lò
đốt không cho phép thu hồi nguyên liệu mặc dù chúng có thể được thiết kế để
thu hồi năng lượng từ chất thải. Các lò đốt có nhiều hạn chế như giá thành cao
và ngoài ra hệ thống khí của ống khói cần được thiết kế tinh vi để tránh ô
nhiễm môi trường.
Hiện nay, một phương thức xử lý chất thải rắn công nghiệp và đô thị
khác đang được thực hiện nhờ vào thiết bị phân tách và sản xuất phân ủ. Đây
là những thiết bị rất lớn và phức tạp, có năng suất cao (100.000 tới 300.000
tấn chất thải/năm), được thiết kế một hệ phân tách vật lý để thu hồi các vật
liệu khác nhau từ các vật bỏ đi, như:
- Cát và sỏi bán lại như vật liệu xây dựng.
- Sắt bán lại cho công nghiệp luyện kim.
- Nhôm và các kim loại không chứa sắt khác có giá trị bán lại cao.
9
- Giấy và giấy cartoon bán cho công nghiệp giấy.
- Các plastic cứng và mềm được dùng lại hoặc đốt.
- Các chất hữu cơ có thể phân hủy sinh học được biến đổi thành phân ủ
và biogas. Phân đoạn hữu cơ của chất thải rắn đô thị được dùng làm phân
trồng là do hàm lượng muối cao của chúng, trong khi đó các phân ủ yếm khí
hầu như ít muối do thực tế là khoảng một nửa trong số chúng bị đào thải bằng
nước trong máy nén lọc. Hơn nữa, các phân ủ yếm khí chứa ít hạt cỏ dại và
các tác nhân gây bệnh vi sinh vật hơn so với phân ủ hiếu khí. Tuy nhiên, giá
trị thị trường của các phân ủ khá thấp và hậu xử lý đặc trưng sẽ phải được tìm
kiếm cho các ứng dụng khác nhau. Vấn đề sau có thể được thực hiện bằng
cách bổ sung các vi sinh vật hữu ích như là cố định nitrogen và các vi khuẩn
kích thích sinh trưởng thực vật, mycorrhizae hoặc các vi sinh vật điều khiển
sinh học (biocontrol). Sự phục hồi các đất bị ô nhiễm cũng có thể hữu ích nhờ
bổ sung phân ủ vì chúng có thể giúp phân hủy các hợp chất xenobiotic trong
các vùng đất này.[11]
2.3. Mối quan hệ giữa chất thải với con người và môi trường
2.3.1. Nguồn gây ô nhiễm
- chất thải rắn nguy hại: với khối lượng 60.100 tấn/năm chất thải rắn
nguy hại chủ yếu là xỉ kim loại, khí thải ra môi trường mà không có biện pháp
xử lý thích hợp sẽ ảnh hưởng tới hệ sinh thái của đất và nguồn nước trong khu
vực.
- đối với tiếng ồn: là nguồn gây ô nhiễm khá quan trọng trong hoạt
động sản xuất của nhà máy. Tiếng ồn cao hơn tiêu chuẩn cho phép sẽ gây các
ảnh hưởng xấu đến môi trường và trước tiên là đến sức khỏe của người công
nhân trực tiếp sản xuất như mất ngủ, mệt mỏi, gây tâm lý khó chịu, giảm năng
suất lao động. Tiếp xúc với tiếng ồn có cường độ cao trong thời gian dài sẽ
làm cho thính lực giảm sút, dẫn tới bệnh điếc nghề nghiệp.
Theo thống kê của Bộ Y Tế và Viện Nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo
hộ lao động của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam thì tiếng ồn gây ảnh
hưởng xấu tới hầu hết các bộ phận trong cơ thể con người.
11
- Nước thải sinh hoạt của cán bộ công nhân viên của nhà máy: với
lượng nhận viên và công nhân khá nhiều nên đây cũng là một trong những
nguồn gây ô nhiễm khá lớn.
/ngđ cùng với nước thải
sinh hoạt. Bể xử lý nước thải tập trung có nhiệm vụ xử lý nước thải đạt tiêu
chuẩn theo quy định của TCVN 5945-2005 (loại B) trước khi đổ vào suối
Lùng Uất.[13]
13
2.4. Tình hình xử lý chất thải rắn ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam
2.4.1. Trên thế giới
Trên thế giới việc quản lý chất thải nguy hại đã hình thành và có những
thay đổi mạnh mẽ trong thập niên 60 và đã trở thành một vấn đề môi trường
được quan tâm hàng đầu trong thập niên 80 của thế kỷ XX. Điều này có thể
thấy đây là hệ quả của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và sự phát triển
kinh tế xã hội của các quốc gia trên toàn cầu.
Sự phát triển của các loại hình công nghiệp ,sự gia tăng nhu cầu tiêu
dùng, hưởng thụ vật chất… đã dẫn đến một lượng lớn chất thải ra môi trường
trong số đó có các chất thải nguy hại và độc hại. Ngoài ra bên cạnh đó các
cuộc chiến tranh nhằm giải quyết các mâu thuẫn khu vực hay các cuộc nội
chiến cũng góp phần đưa một lượng lớn chất độc hại vào môi trường. Từ các
nguyên nhân trên làm phát sinh sự gia tăng của các loại hình chất thải nguy
hại có thể kể đến như : sự phát triển của khoa học kỹ thuật (khoa học phân
tích, y học ,độc chất học…), nhận thức của chủ thải và cộng đồng , hành vi cố
tình, sự yếu kém của của bộ máy quản lý…đã dẫn đến các hậu quả bi thảm do
chất thải nguy hại gây ra như : thuỷ ngân, PCB (polyclorinated biphenyl),
PBB (polybrominated biphenyl), Cd, DDT(gây ung thư)… Từ những thực tế
như vậy, trên thế giới các quốc gia đặc biệt là các nước Tiên tiến như Châu
Âu, Mỹ ,Nhật ,Úc…ngày càng hoàn thiện bộ Luật bảo vệ môi trường của
mình, và trong đó các quy chế quản lý các chất thải nguy hại là các thành
phần không thể thiếu được của bộ Luật. Mặc dù vẫn còn nhiều khác biệt trong
nội dung các điều khoản của các bộ Luật giữa những quốc gia khác nhau,
nhưng nhìn chung các bộ Luật điều đã chỉ rõ được mối quan tâm của nhà
nước đối với công tác quản lý chất thải nguy hại. Vượt ra ngoài biên giới
134 KCN, KCX chỉ có 33 khu đã có công trình xử lý nước thải tập trung, 10
khu đang xây dựng, các khu còn lại chưa đầu tư cho công trình xử lý nước
thải.
Đối với chất rắn, đa số các KCN chưa tổ chức được hệ thống phân loại,
thu gom và xử lý chất thải rắn và chất thải nguy hại một cách an toàn về môi
trường. Về khí thải công nghiệp, ô nhiễm không khí do khí thải công nghiệp
15
gây ra chủ yếu là bụi, SO
2
, NO
2
,CO… Nồng độ bụi có xu hướng tăng theo
thời gian và hầu hết đều vượt qua giới hạn cho phép, một số nhà máy sản xuất
vật liệu xây dựng (vượt tiêu chuẩn cho phép từ 20 đến 435 lần), công nghiệp
khai thác than, các nhà máy luyện kim (vượt từ 5 đến 125 lần), khai thác và
chế biến khoáng sản như than đá, apatit, cao lanh (vượt từ 10 đến 15 lần), các
nhà máy cơ khí, đóng tàu (vượt khoảng 10 đến 15 lần), các nhà máy dệt, may
(vượt từ 3 đến 5 lần). Tại một số khu vực dân cư gần khu công nghiệp, nồng
độ khí SO
2
, CO, NO
2
đã vượt tiêu chuẩn cho phép. Việc xả khí thải vượt tiêu
chuẩn cho phép, gây ô nhiễm nội vi, khu vực và ảnh hưởng tới sức khoẻ của
cộng đồng dân cư xung quanh đang có xu hướng ngày càng gia tăng.[6][12]
2.5. Một số quy trình công nghệ xử lý chất thải trên thế giới và ở Việt Nam
2.5.1. Trên thế giới
Trong một hệ thống quản lý kỹ thuật chất thải nguy hại, nhất là hệ
thống cần áp dụng cho nước ta và các nước trên thế giới cũng phải bao gồm
các khâu liên quan từ nguồn phát sinh đến các kỹ thuật xử lý sau cùng. Về cơ
trung ở những thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh Các loại
phế thải có giá trị như: Thuỷ tinh, Đồng, Nhôm, sắt, giấy được đội ngũ đồng
nát thu mua ngay tại nguồn, chỉ còn một lượng nhỏ tới bãi rác và tiếp tục thu
nhặt tại đó. Tất cả phế liệu thu gom được chuyển đến các làng nghề. Tại đây
quá trình tái chế được thực hiện. Việc thu hồi sử dụng chất thải rắn góp phần
đáng kể cho việc giảm khối lượng chất thải đưa đến bãi chôn lấp, tận dụng
được nguồn nguyên liệu đầu vào cho các quá trình sản xuất, tạo công ăn việc
làm cho một số lao động.
- Đốt chất thải: Được áp dụng để xử lí chất thải nguy hại như chất thải
bệnh viện, các bệnh viện lao, viện 198 mới xây lò đốt chất thải. Tại Hà Nội có
lò đốt chất thải bệnh viện công suất 3,2tấn/ngày đặt tại Tây Mô. Tại TP. Hồ
Chí Minh có lò đốt chất thải bệnh viện công suất 7,5 tấn/ngày. Phương pháp
đốt chất thải còn được dùng để xử lí chất thải công nghiệp như lò đốt chất thải
giầy da ở Hải Phòng, lò đốt cao su công suất 2,5tấn/ ngày ở Đồng Nai.
17
- Chôn lấp chất thải rắn:
Chôn lấp đơn thuần không qua xử lí, đây là phương pháp phổ biến nhất theo
thống kê, nước ta có khoảng 149 bãi rác cũ không hợp vệ sinh,trong đó 21
bãi rác thuộc cấp tỉnh - thành phố, 128 bãi rác cấp huyện – thi trấn.
Được
sự giúp đỡ của nước ngoài đã xây dựng các bãi chôn lấp hợp vệ sinh ở các
thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Huế, TP. Hồ Chí Minh, Bắc Giang.
- Chế biến thành phân hữu cơ: Phương pháp làm phân hữu cơ có ưu
điểm làm giảm lượng rác thải hữu cơ cần chôn lấp, cung cấp phân bón phục
vụ nông nghiệp. Phương pháp này rất phù hợp cho việc xử lí chất thải rắn