1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA NUÔI
THẢ CÁNH KIẾN ĐỎ ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI DÂN TỘC
H'MÔNG XÃ HUỔI LÈNG - HUYỆN MƯỜNG CHÀ
TỈNH ĐIỆN BIÊN
Ngành: Quản lý tài nguyên rừng và môi trường
Mã số: 302
Giáo viên hướng dẫn: Trần Ngọc Hải
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Kim Phượng
Khoá học : 2004 - 2008
Hà Tây, 2008
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU
Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 01
Chương 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 03
2.1. Lịch sử sản xuất cánh kiến đỏ 03
2.2. Các công trình nghiên cứu về cánh kiến đỏ 04
2.2.1. Trên thế giới 04
2.2.2. Ở Việt Nam 08
Chương 3: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 12
3.1. Mục tiêu nghiên cứu 12
3.1.1. Mục tiêu chung 12
3.1.2. Mục tiêu cụ thể 12
3.2. Đối tượng, địa điểm nghiên cứu 12
3.3. Nội dung nghiên cứu 12
3.4. Phương pháp nghiên cứu 13
5.3. Phân tích thị trường tiêu thụ cánh kiến đỏ tại địa phương 39
5.3.1. Thị trường tiêu thụ cánh kiến đỏ trên thế giới và tại Việt Nam 39
5.3.2. Thị trường cánh kiến xã Huổi Lèng 40
5.4. Vai trò của một số tổ chức đến sự phát triển nghề sản xuất cánh kiến đỏ
tại khu vực nghiên cứu 44
5.5. Phân tích thuận lợi khó khăn và đưa ra giải pháp phát triển nghề nuôi
thả cánh kiến đỏ xã Huổi Lèng 47
5.5.1. Thuận lợi, khó khăn 47
5.5.2. Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với nghề
nuôi thả cánh kiến xã Huổi Lèng 50
5.5.3. Đề xuất các giải phát phát triển nghề nuôi thả cánh kiến đỏ tại khu
vực nghiên cứu 51
Chương 6: KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KIẾN NGHỊ 54
6.1. Kết luận 54
6.2. Tồn tại 55
6.3. Kiến nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ BIỂU
3
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam là quốc gia nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa ẩm, có
nhiều sản phẩm rừng quý hiếm, đặc biệt là các sản phẩm Lâm sản ngoài gỗ
như sa nhân, thảo quả, quế, hồi … Một trong những đặc sản rừng đó là nhựa cánh
kiến đỏ.
Điện Biên là tỉnh có diện tích nuôi thả cánh kiến đỏ lớn của cả nước.
Trồng cây chủ nuôi thả cánh kiến đỏ đang làm thay đổi đời sống kinh tế, xã
hội của người dân, đặc biệt là người dân tộc ít người của các xã khó khăn
vùng 135. Được sự đồng ý của Khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường,
trường Đại học lâm nghiệp tôi thực hiện đề tài : “Đánh giá hiện trạng và
phân tích vai trò của nuôi thả cánh kiến đối với cộng đồng người dân tộc
trường cánh kiến đỏ của nước ta thu hẹp lại, nghề nuôi thả cánh kiến đỏ
không được quan tâm phát triển nữa. Một vài năm trở lại đây do nhu cầu sử
dụng nhựa cánh kiến đỏ tăng lên, nhiều địa phương lại quan tâm phát triển
nghề này.
Cánh kiến đỏ phân bố tự nhiên ở các tỉnh phía Bắc kéo dài đến mãi Hà
Tĩnh. Trước kia, người ta chỉ tập trung vào khai thác cánh kiến đỏ từ tự nhiên
mà chưa quan tâm đưa cây chủ vào trồng rừng. Ngày nay, khi nhu cầu nhựa
cánh kiến lớn, sản xuất chỉ dựa vào tự nhiên không đáp ứng đủ nhu cầu thị
trường, vì vậy nhiều địa phương đã trồng cây chủ để thả cánh kiến đỏ. Đặc
biệt các tỉnh vùng Tây Bắc (cái nôi của sản xuất cánh kiến đỏ) như: Sơn La,
Lai Châu và Điện Biên còn đưa cây chủ thả cánh kiến đỏ vào trồng rừng
phòng hộ kết hợp sản xuất nhựa cánh kiến.
Huổi Lèng là xã vùng cao thuộc tỉnh Điện Biên nơi sinh sống chủ yếu
của đồng bào dân tộc H’Mông. Trước kia, với tập quán du canh du cư, phá
5
rừng làm nương rẫy làm cho diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng, đất đai
xói mòn thoái hoá; đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn. Hiện nay
người dân đã sống định canh định cư nhưng do địa hình toàn đồi núi cao,
không có diện tích trồng lúa nước đời sống của người dân vẫn chưa được cải
thiện. Từ khi đưa cây Cọ khiết vào trồng rừng phòng hộ kết hợp với nuôi thả
cánh kiến đỏ, người dân nhận thấy cảnh quan rừng xanh và ổn định, đời sống
kinh tế phát triển.
Sản xuất cánh kiến đỏ đã và đang làm thay đổi đời sống vật chất, tinh
thần, tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định cho cộng đồng người H’Mông,
góp phần vào bảo vệ và phát triển rừng. Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên
cứu hiện trạng và vai trò của nghề nuôi thả cánh kiến với người dân tộc
H’Mông xã Huổi Lèng. Chính vì vậy tôi thực hiện đề tài tốt nghiệp “Đánh
giá hiện trạng và phân tích vai trò của nuôi thả cánh kiến đối với cộng
đồng người dân tộc HMông tại xã Huổi Lèng – huyện Mường Chà – tỉnh
Điện Biên” với mong muốn giúp địa phương phát triển và nhân rộng mô
Châu (cũ) cánh kiến đỏ có nhiều tại các huyện: Điện Biên, Tủa Chùa, Mường
7
Lay, Sìn Hồ, Phong Thổ và Mường Tè. Vùng cánh kiến đỏ Hòa Bình – Thanh
Hóa – Nghệ An – Hà Tĩnh được nối liền từ Mai Châu – Quế Phong – Tương
Dương – Kỳ Sơn kéo dài đến Hà Tĩnh, cả về phía Lào và ta đều là vùng phân
bố tự nhiên của cánh kiến đỏ. Theo đề tài Phó tiến sĩ của Nguyễn Xuân Thanh
1991 [trang 88] thì vùng Đắc Lắc, Plây cu cũng có cánh kiến đỏ; tuy nhiên
nhân dân ở đây không có tập quán thả rệp cánh kiến đỏ.
Từ những năm 1960 đến đầu năm 1990 Nhà nước thành lập các cơ sở
quốc doanh sản xuất cánh kiến đỏ, ngoài ra còn có các hợp tác xã cũng trồng
cây chủ kinh doanh cánh kiến đỏ. Theo số liệu thống kê năm 1980 cả miền
Bắc có khoảng 4000 ha rừng cây chủ thả cánh kiến đỏ trồng tập trung, còn
rừng cây chủ nuôi thả tự nhiên thì không thống kê được. Nghề sản xuất cánh
kiến đỏ được phát triển mạnh ở nước ta trong khoảng những năm 1960 –
1990, trong khoảng thời gian này nước ta chủ yếu xuất nhựa shellac sang Liên
Xô, trung bình một năm chúng ta xuất khoảng 100 tấn/năm, năm xuất nhiều
nhất là năm 1966 khoảng 310 tấn. Khi Liên Xô tan rã thì nghề sản xuất cánh
kiến đỏ của chúng ta chỉ để đáp ứng nhu cầu Shellac trong nước. Từ năm
2005 đến nay Trung Quốc đang nhập nhiều sản phẩm nhựa cánh kiến đỏ thô
của nước ta, vì vậy mà nghề sản xuất cánh kiến đỏ lại được nhiều địa phương,
ban ngành quan tâm đến. Nhiều nơi đã khôi phục và phát triển thêm diện tích
cây chủ thả cánh kiến đỏ. Năm 2006, huyện Mường Lát – Thanh Hóa trồng
mới 240 ha rừng Cọ phèn, còn huyện Quỳ Hợp - Nghệ An đưa 540 ha rừng
Cọ phèn vào thả cánh kiến đỏ. Sản lượng nhựa cánh kiến đỏ của nước ta hiện
nay đã tăng lên nhưng vẫn chưa ổn định, vì vậy cần được sự quan tâm của các
ban ngành để sản phẩm cánh kiến đỏ thành một trong những sản phẩm lâm
sản ngoài gỗ có giá trị ở nước ta.
2.2. Các công trình nghiên cứu về cánh kiến đỏ
2.2.1. Trên thế giới
Cánh kiến đỏ là một sản phẩm của tự nhiên, nó chỉ phân bố ở một số
9
Những sản phẩm được chế biến từ nhựa cánh kiến
Hình 01: Sơn làm từ nhựa cánh kiến
Hình 02: Vật liệu dẫn nhiệt
Hình 03: Dược phẩm làm từ nhựa
cánh kiến
Hình 04: Mỹ phẩm
Hình 05: Hoa quả có sử dụng thuốc
bảo quản từ nhựa cánh kiến
Hình 06: Rau quả có sử dụng thuốc
bảo quản từ nhựa cánh kiến
Nguồn: Mạng Internet
10
Đối với đặc điểm về sinh vật học, sinh thái học của cánh kiến đỏ đã có nhiều
công trình nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng. Mirsa (1929) P.M Glover
(1932) đã nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm đến sinh trưởng và phát
triển của cánh kiến đỏ các ông đã đi đến kết luận sau: Mùa hè nhiệt độ dưới
17
0
C và mùa đông nhiệt độ dưới 15
0
C thì con cái không đẻ trứng. Độ ẩm
tương đối của không khí từ 50 – 90% là điều kiện cần thiết đối với đời sống
của cánh kiến đỏ. Theo R. Majumdar và A. Bhattacharya (1968) cho rằng ảnh
hưởng của khí hậu không chỉ tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển
của một thế hệ mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến 2 – 3 thế hệ sau thông qua quá
trình sinh sản của chúng.
Nghiên cứu sự biến động của quần thể và nguyên nhân chính gây ra
mất mùa; hiện nay có hai quan điểm khác nhau về vấn đề này:
+ Theo quan điểm của Mirsa (1929), Glover (1932), Đặng Văn A
địch của rệp cánh kiến đỏ. Trong các loài thiên địch của cánh kiến đỏ thì các
nhà khoa học đều khẳng định nguy hiểm nhất là hai loài được phát hiện đầu
tiên là Eublemma amabilis và Holcocera pulvera. Về bệnh hại thì chưa có tài
liệu nào công bố. Tuy nhiên thì các nhà khoa học đã phân bệnh hại thành hai
loại là bệnh hại trực tiếp và bệnh hại gián tiếp. Loại bệnh hại gián tiếp bao
gồm nấm mốc, nấm men và vi khuẩn sống nhờ chất thải của rệp cánh kiến đỏ
trong độ ẩm cao các loài này phát triển mạnh và bịt kín lỗ bài tiết, lỗ thở
khiến cho rệp chết. Còn loại bệnh hại trực tiếp là nấm mốc và vi khuẩn, thế
giới phát hiện được từ những loài nói trên nhưng chưa giám định và phân lập
được tên.
Các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại, ban đầu các nhà khoa học đều
tập trung nghiên cứu vào các biện pháp chăm sóc cải tạo cây chủ (chọn giống,
cải tạo tán, tỉa thưa và bón phân), tuyển chọn giống rệp tốt, thu bã giống kịp
thời, diệt trừ nguồn gốc gây hại ngay từ tổ giống. Cũng có những nhà khoa
học lại quan tâm đến các biện pháp sinh học, có nhiều tác giả tập trung vào
nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học và kỹ thuật nhân nuôi đại trà các
12
loài ong kí sinh quan trọng như Bracon greeni, Elamus claripennis. Ban đầu
quan điểm của các nhà khoa học đều cho rằng không thể sử dụng thuốc hóa
học vào việc phòng trừ sâu bệnh hại cho rệp cánh kiến đỏ nhưng về sau người
ta đã tìm ra được một số lọai thuốc hóa học như: Malathion, DDT, Metyl
parathion … có khả năng diệt trừ sâu bệnh hại cho rệp cánh kiến đỏ.
2.2.2. Ở Việt Nam
Tại Việt Nam, tài liệu nuôi thả cánh kiến đỏ đầu tiên được đăng vào
những năm 1890. Trong tài liệu này Hober Cagob gọi rệp cánh kiến đỏ là
Cocus lacca (Lê Văn Giai). Mãi đến năm 1960 của thế kỷ XX các nhà khoa
học Việt Nam mới có công trình nghiên cứu đầu tiên về cánh kiến đỏ. Đó là
công trình nghiên cứu của: Thái Văn Trừng, Nguyễn Đức Khảm (1976); Đặng
Văn A, Hà Văn Thi (1978); Nguyễn Đức Khảm và Đặng Văn A (1970 –
1985) đã nghiên cứu sự phát triển bên ngoài tổ nhựa (điểm vàng, vết nứt tổ,
Lê Văn Giai (1960) đã tổng kết một số kinh nghiệm kỹ thuật sản xuất
cánh kiến đỏ. Kỹ thuật tạo hình cây chủ, thu hái hạt giống gieo ươm và trồng
rừng cây chủ Cọ khiết, Cọ phèn và Đậu thiều được Phùng Tiến Huy, Lương
Gia Thuỵ, Thân Văn Cảnh (1968 – 1985) được nghiên cứu. Trong cuốn “ Sử
dụng côn trùng và vi sinh vật có ích - tập 1” của PGS - TS Nguyễn Thế Nhã
(chủ biên) có tổng hợp những kỹ thuật cơ bản nhất nuôi thả cánh kiến đỏ. Tài
liệu của Ngô Huấn Kỷ (1961), Vũ Văn Hon (1987) đã thống kê 10 loài cây
chủ nuôi thả cánh kiến đỏ ở Đông Nam Á. Danh mục cây chủ nuôi thả cánh
kiến đỏ của Vũ Đức Sinh đã thống kê hơn 200 loài cây có khả năng đậu rệp
cánh kiến đỏ ký sinh.
Sản lượng cánh kiến đỏ ở nước ta rất bấp bênh và ngày càng thấp, một
trong những nguyên nhân đó là do sâu bệnh hại. Lê Thị Phi nghiên cứu về
quần xã sinh vật sống ở trên tổ nhựa cánh kiến đỏ và thu được 22 loài. Các
nhà khoa học Việt Nam cũng khẳng định rằng trong đó hai loài nguy hiểm
nhất là Eublemma amabilis và Holcocera pulvereae. Vấn đề phòng trừ sâu hại
cũng được lưu ý từ những năm 1970. Theo Lê Nam Hùng (1973 – 1985) tại
14
Lương Sơn - Hòa Bình có 5 thế hệ Eublemma amabilis trong một năm. Tác
giả này cũng đề xuất phương pháp phòng trừ loài sâu hại này là sử dụng bẫy
đèn từ thời gian 22h – 2h hoặc bắt giết thủ công tức là dùng que nhọn đâm
chết sâu trắng trong các nốt phồng trên lớp nhựa cánh kiến đỏ. Đối với các
bệnh hại cánh kiến đỏ thì chúng ta chưa có bất cứ công trình nghiên cứu nào.
Tuy nhiên có thể khẳng định một điều rằng bất cứ loại cây chủ nào và bất cứ
vụ thả nào cũng xuất hiện bệnh hại rệp cánh kiến đỏ.
Sản xuất cánh kiến đỏ của nước ta từ trước đến giờ chủ yếu dựa vào
cây chủ có sẵn trong tự nhiên nên năng suất nhựa bấp bênh không ổn định.
Tháng 5 năm 1982 Lâm trường cánh kiến đỏ Huổi Lèng thuộc Công ty Lâm
đặc sản xuất khẩu (Bộ Lâm nghiệp) đã nuôi thả thành công cánh kiến đỏ trên
diện tích trồng tập trung trên quy mô lớn (100 ha). Thành công này đã đánh
dấu một bước tiến bộ lớn trong công tác nuôi thả cánh kiến đỏ
16
Chương 3
MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
3.1.1. Mục tiêu chung
Thông qua việc đánh giá hiện trạng và phân tích vai trò của nuôi thả
cánh kiến đối với cộng đồng người dân tộc H’Mông để tổng hợp được khó
khăn từ đó đưa ra giải pháp phát triển nghề này.
3.1.2. Mục tiêu cụ thể
Đề tài nghiên cứu nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể sau:
- Đánh giá được hiện trạng nuôi thả cánh kiến đỏ tại địa phương và vai trò của
nuôi thả cánh kiến với cộng đồng người H’Mông tại khu vực nghiên cứu.
- Thông qua xác định những khó khăn, nguyên nhân của những khó khăn để
từ đó đề xuất giải pháp phát triển nghề nuôi thả cánh kiến.
3.2. Đối tượng, địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu vào các mô hình nuôi thả
cánh kiến đỏ quy mô hộ gia đình của đồng bào người H’Mông.
- Địa điểm nghiên cứu: Xã Huổi Lèng – huyện Mường Chà – tỉnh Điện Biên.
3.3. Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên tôi triển khai các nội dung
nghiên cứu sau.
- Hiện trạng của việc nuôi thả cánh kiến ở địa phương.
- Vai trò của nuôi thả cánh kiến đến kinh tế, xã hội.
- Thị trường tiêu thụ nhựa cánh kiến đỏ tại Huổi Lèng.
- Một số nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển của nghề nuôi thả cánh
kiến đỏ tại địa phương.
- Phân tích thuận lợi, khó khăn, từ đó đưa ra các giải pháp phát triển sản xuất
cánh kiến đỏ tại địa phương.
17
Nội dung phỏng vấn được trình bày trong phần phụ biểu.
+ Đối với cán bộ ban ngành nội dung phỏng vấn tổng diện tích nuôi thả cánh
kiến đỏ, thực trạng quản lý của chính quyền địa phương với nghề nuôi thả
cánh kiến đỏ. Nội dung phỏng vấn cán bộ xã và các ban ngành có liên quan
được trình bày trong phần phụ lục.
- Điều tra thực địa, lập ô tiêu chuẩn diện tích 500 m
2
đánh giá mật độ rừng Cọ
khiết, tình hình sinh trưởng và tỷ lệ đậu rệp cánh kiến. Các thông tin điều tra
trên OTC được ghi vào mẫu biểu 01:
Mẫu biểu 01: Phiếu điều tra OTC
Số hiệu OTC: Trạng thái rừng: Độ dốc:
Độ tàn che: Tọa độ:
Người điều tra: Ngày điều tra:
Tên loài H
vn
(m) D
1.3
(cm)
Cây có đậu
rệp CK
Sinh
trưởng
Chi chú
Xác định cây có đậu rệp cánh kiến bằng cách quan sát cây chủ Cọ khiết,
nếu thấy có tổ kiến trên thân cây và cành cây thì cây đó đậu rệp cánh kiến.
Diện tích nuôi cánh kiến của các hộ gia đình điều tra phỏng vấn được
tổng hợp vào mẫu biểu 02:
Mẫu biểu 02: Thống kê hộ gia đình nuôi thả cánh kiến
TT Hộ gia đình Diện tích (ha) Năng suất (tấn/ ha)
Hiệ
u
quả
KT
Diệ
n
tích
(ha)
Năng
suất
Tấn/h
a
Giốn
g
Phân
bón
Là
m
đất
Chă
m
sóc
Tổn
g
Sản
lượn
g
Giá
bán
Tổn
dung phỏng vấn sản lượng thu mua, giá thu mua của người dân và giá bán lại
cho tư thương nơi khác… Số hộ phỏng vấn 5 hộ mua bán cánh kiến.
- Phân tích kênh thị trường. Xây dựng kênh thị trường từ người nuôi thả đến
người tiêu thụ. Từ các kênh tiêu thụ xây dựng các chuỗi sản phẩm, tìm hiểu
giá bán qua từng mắt xích chuỗi sản phẩm.
21
d, Một số nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển nghề nuôi thả cánh
kiến đỏ
Để tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến nghề nuôi thả cánh kiến đỏ tôi
sử dụng các phương pháp sau:
- Phỏng vấn cán bộ xã, cán bộ ban quản lí rừng phòng hộ huyện Mường Chà
và người dân. Mục đích phỏng vấn để thấy được ảnh hưởng của từng cơ quan
ban ngành và các tổ chức của địa phương ảnh hưởng đến nghề nuôi thả cánh
kiến. Nội dung phỏng vấn được định hướng trước, nội dung phỏng vấn này sẽ
được trình bày ở phần phụ biểu.
- Xây dựng sơ đồ Venn để phân tích vai trò của các tổ chức ở địa phương tới
sự phát triển của cánh kiến đỏ.
e, Phân tích những thuận lợi, khó khăn, đưa ra các giải pháp phát triển
nuôi thả cánh kiến đỏ tại Huổi Lèng
Để thực hiện được nội dung này tôi thực hiện các phương pháp sau:
- Phỏng vấn người dân, cán bộ xã. Người dân và các cán bộ địa phương là
những người nắm rõ nhất những thuận lợi và khó khăn của địa phương mình.
Chính vì vậy mà tôi thực hiện phỏng vấn người dân, cán bộ địa phương để họ
đưa ra những ý kiến của mình về những thuận lợi và khó khăn của địa
phương. Từ những thuận lợi và khó khăn này tôi đề xuất các giải pháp phát
triển nghề nuôi thả cánh kiến đỏ của địa phương. Nội dung phỏng vấn được
trình bày trong phần phụ biểu.
- Phân tích sơ đồ mảng
- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức.
22
4.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1. Vị trí địa lí
Huổi Lèng là xã vùng cao, được xác định là vùng sâu vùng xa nhiều
khó khăn (khu vực 3), cách trung tâm huyện Mường Chà 30km về phía Tây
Bắc. Xã Huổi Lèng có toạ độ địa lí:
Từ 21
0
45’50” đến 21
0
57’01” độ vĩ Bắc.
Từ 103
0
03’27” đến 103
0
11’17” độ kinh Đông.
Phía Bắc giáp xã Mường Tùng.
Phía Nam giáp xã Sa Lông.
Phía Tây giáp xã Hứa Ngài.
Phía Đông giáp xã Sa Pi Phìn.
Xã Huổi Lèng nằm trên trục đường Quốc lộ 12 nối thành phố Điện
Biên Phủ và tỉnh Lai Châu. Đây là điều kiện thuận lợi giao lưu kinh tế với địa
phương khác trong cả nước.
4.1.2 Địa hình, địa mạo
Xã Huổi Lèng thuộc địa hình núi cao, độ chia cắt sâu, độ dốc lớn. Độ
cao trung bình 850m. Phía Nam của xã là dãy núi Phi Tông cao 1700m, phía
Bắc và Tây Bắc là các đỉnh núi Pẫy La Se (1300m), Hổ Huổi Cang (1300m),
Huổi Lèng (1500m) và núi Địa Hồ.
Phần lớn diện tích đất có độ dốc từ 15 - 30
0
chiếm khoảng 90%, có
Ngoài ra do điều kiện địa hình mà đã tạo nên khu vực có tiểu khí hậu
riêng biệt thời tiết trong ngày có đặc thù của cả 4 mùa trong năm. Buổi sáng
có thời tiết lạnh và ẩm của mùa xuân, buổi trưa thời tiết nóng như mùa hè,
buổi chiều thời tiết lại mát mẻ như mùa thu và buổi đêm thời tiết lạnh như
mùa đông.
4.1.4. Sông suối thuỷ văn
Diện tích tự nhiên của xã Huổi Lèng gần 10 780 ha, nằm trong lưu vực
đầu nguồn của suối Sun Lay, Nậm Lay đổ ra sông Đà.
Có thể nhận thấy hai hệ thống đổ ra hệ thống suối Sun Lay là: Hệ thống
suối Nu Trống, Nậm Lay trong lưu vực dãy núi Phi Tông và hệ thống suối
khe hẹp tạo nên bởi lưu vực của dãy núi Địa Hồ.
Suối Sun Lay xuất phát từ xã Huổi Lèng đổ vào sông Đà có chiều dài
hơn 10 km lắm thác ghềnh, dòng chảy quanh năm. Hàng năm thường xuất
hiện lũ mạnh vào mùa mưa nhất là tháng 6 – 7.
Nhìn chung các khe suối trong khu vực đều là vùng thượng nguồn thuỷ
sinh nên lưu lượng nước không lớn, tuy vậy vào mùa mưa do độ che phủ rừng
25