ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Dương Thanh Nga
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ PHÂN TÍCH DIỄN BIẾN
CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – Năm 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Dương Thanh Nga
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ PHÂN TÍCH DIỄN BIẾN
CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT TỈNH NGHỆ AN
CHUYÊN NGÀNH
: MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ
: 60 85 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS.TS LƯU ĐỨC HẢI
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH
MỞ ĐẦU
70% cơ thể con người là nước (não chứa 85% nước, xương 22%, cơ bắp
75%, máu 92%, dịch bao tử 95%, răng 10%...). Nước là nguồn tài nguyên rất quan
trọng đối với sự sống và phát triển của con người. Tuy nhiên, tài nguyên nước mặt
trên Thế giới vô cùng hạn chế. Nước được dùng trong các hoạt động nông nghiệp,
công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường. Hầu hết các hoạt động trên đều cần
nước ngọt. 97% nước trên Trái Đất là nước biển, chỉ 3% còn lại là nước ngọt nhưng
gần hơn 2/3 lượng nước này tồn tại ở dạng băng hà tại hai cực và băng tuyết trên
các đỉnh núi cao[16]. Phần còn lại không đóng băng được tìm thấy chủ yếu ở dạng
nước ngầm (0,6%), và chỉ một tỷ lệ nhỏ tồn tại trên mặt đất và trong không khí
(0,03%).
Là quốc gia nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, tổng lượng mưa lớn, Việt
Nam có nguồn tài nguyên nước mặt phong phú. Tổng lượng dòng chảy trong năm
đạt 835,5Km3, lượng nước bình quân 9210 m3/nguời/năm, cao hơn so với trung bình
thế giới. Tuy nhiên, tài nguyên nước mặt của chúng ta hiện đang chịu tác động
mạnh mẽ bởi các hoạt động của con người dẫn đến cạn kiệt và ô nhiễm nguồn nước.
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Nghệ An, vị thế của tài
nguyên nước mặt ngày càng được nâng cao và coi trọng. Theo chỉ tiêu đánh giá của
Hội tài nguyên nước Quốc tế (IWRA), Nghệ An được xếp vào khu vực đủ nước sử
dụng. Chất lượng nước mặt ngày càng trở thành vấn đề quan tâm của các cấp các
ngành cũng như cộng đồng dân cư hưởng lợi từ nguồn tài nguyên này. Hiện tại trên
địa bàn tỉnh Nghệ An, công tác điều tra cơ bản về tài nguyên nước cũng như khả
năng tiếp nhận của các nguồn nước bắt đầu được tiến hành tại một số huyện. Báo
cáo tổng quan về hiện trạng chất lượng nước mặt trên địa bàn tỉnh Nghệ An phục vụ
1.2.1. Định nghĩa nước mặt
Nước mặt là một dạng tài nguyên nước. “ Nước mặt là nước tồn tại trên mặt
đất liền và hải đảo” [2].
Nước mặt là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngập nước.
Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi nước mưa và chúng mất đi khi chảy
vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất.
1.2.2. Các dạng tồn tại của nước mặt
Các dạng tồn tại chủ yếu của nước mặt trên thế giới là:
- Nước băng tuyết trên các vùng núi cao và địa cực
- Nước hồ
- Nước đầm lầy
- Nước sông, suối
7
1.2.3. Trữ lượng nước mặt
Trữ lượng nước hồ hiện nay vẫn chưa có số liệu thống kê đầy đủ. Ước tính
sơ bộ trên toàn thế giới có 2,8 triệu hồ tự nhiên, trong đó145 hồ có có diện tích mặt
nước trên 100 Km2, chiếm 95% tổng khối lượng nước, trong đó có 56% là các hồ
nước ngọt. Ngoài ra, trên lục địa còn có trên 10.000 hồ nhân tạo có sức chứa 5000
Km3 (1,78%)nhằm chứa nước phục vụ cho nhu cầu của con người[16].
Bảng : Đặc trưng một số hồ nhân tạo lớn trên thế giới[16]
Tên hồ
Vị trí
Sông
(Km2)
76000
5470
4450
5120
8480
Ở Việt Nam, hầu hết các hồ chứa đều được xây dựng cho nhiều mục đích
khác nhau như phòng chống lũ lụt, tưới tiêu, thủy điện, cấp nước và các mục tiêu
quản lý lưu lượng dòng chảy khác. Cả nước có khoảng 3.600 hồ chứa, trong đó
chưa đến 15% là các hồ cỡ vừa và lớn (dung lượng trên 1 triệu m 3 hoặc có độ cao
lớn hơn 10m).
Bảng : Một số hồ chứa ở Việt Nam[16]
Hồ chứa
Hòa Bình
Thác Bà
Trị An
Dầu Tiếng
Thác Mơ
Yaly
Phú Ninh
Kẻ Gỗ
Hồ Cửa Đạt
Hồ Vực Mấu
Núi Cốc
Cấm Sơn
Diện tích lưu vực
(km2)
51.700
87.000
97
26,4
1524
175
250
-
8
Sông Rác
-
124,5
-
-
Nước đầm lầy ước tính 11.470 km3 với tổng diện tích 2.682 km2 . Trong đó
trên phần lãnh thổ châu Âu là 925 km 2 , châu Phi 341 km2 , Bắc Mỹ 180 km2 , Nam
Mỹ 1332 km2 và châu Úc 4 km2. Đầm lầy ở nước ta phân bố chủ yếu ở Đồng bằng
sông Cửu Long. Đây là các đầm lầy ngập không thường xuyên, tập trung ở vùng
Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên[17].
Nước sông luôn vận động và tuần hoàn. Tuy thể tích chứa của các sông ước
tính khoảng 1.200 km3 nhưng tổng lượng dòng chảy của sông rất phong phú, lên tới
41.500 km3/ năm, nghĩa là dòng sông tái hồi. Tái hồi trung bình 34,6 lần trong năm.
Nhờ vậy khả năng khai thác dòng sông cho các mục đích khác nhau tăng lên đáng
75,6
Châu Âu
10.507
3.140
299
6,8
Toàn cầu 148.817 41.500
279
9,02
Bảng : Tài nguyên nước của các sông chính ở Việt Nam
Diện tích lưu vực
Lưu vực
Tổng diện tích % tạo ra
sông
ở VN (km2) trong VN
Kỳ Cùng –
11.220
94
Bằng Giang
Hồng – Thái
155.000
55
Bình
Mã – Chu
28.400
62
Cả
27.200
65
Thu Bồn
59
20,2
27,5
17,9
13,8
36,6
580
16,5
24,5
17,9
13,8
32,6
55
82
89
100
100
89
11
Việt Nam có hệ thống sông ngòi dày đặc, trong đó khoảng 2.360 sông có
chiều dài lớn hơn 10km. Cả nước có 8 con sông có diện tích lưu vực lớn, trên
10.000km2. Tổng dòng chảy trong năm đạt 835 tỉ m3, mùa khô chỉ chiếm 15% -30%
tổng lượng dòng chảy cả năm.
nông nghiêp đi kèm quá trình đô thị hóa đã gây ô nhiễm môt số đoạn sông và nguy
cơ ô nhiễm cao một số sông ngòi đi qua thành phố lớn và các khu công nghiệp.
Một số sông có hiện tượng ô nhiễm cục bộ do sản xuất công nghiệp, nông
nghiệp, chế biến lâm sản và chất thải sinh hoạt chưa qua xử lý…Ô nhiễm dầu, hiện
tượng axit hóa rất phổ biến và mức độ ô nhiễm có xu hướng tăng dần về phía hạ lưu
trên sông Sài Gòn và sông Đồng Nai. Ô nhiễm trên các sông chảy qua một số đô thị
lớn ( Hải Phòng, Huế, Hạ Long), mức độ ô nhiễm đều vượt TCCP loại A. Các sông
nội thành Hà Nội đã bị ô nhiễm, đặc biệt là các sông thoát nước thải như Kim
Ngưu, Tô Lịch…Các sông này không còn khả năng tự làm sạch, chất lượng nước
không đạt tiêu chuẩn cho phép loại B.
1.2.4.2. Chất lượng nước ao hồ Việt Nam
Hệ thống các ao, hồ, kênh rạch ở các thành phố lớn đều có hiện tượng ô
nhiễm ở các mức độ khác nhau. Các hồ trong nội thành ở các thành phố lớn (Hà
Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Huế) phần lớn ở tình trạng thái phú
dưỡng. Một số hồ chất lượng còn khá sạch (đạt tiêu chuẩn loại B) như hồ Tây, Đầm
Vạc (Vĩnh Phúc) có hàm lượng chất hữu cơ cao hơn TCCP loại B. Hồ Thành (Bắc
Ninh), hồ Bạch Đằng ( Hải Dương) đang bị ô nhiễm nặng. Ở vùng ngoại thành và
nông thôn, chất lượng môi trường nước hồ, ao được cải thiện, đã và đang đáp ứng
nhu cầu về sử dụng nước.
Trong sự nghiệp hiện đại hóa đất nước, sự tăng trưởng các ngành công
nghiệp, nông nghiệp đã kèm quá trình đô thị hóa đã gây ô nhiễm một số đoạn sông
và nguy cơ ô nhiễm cao ở một số sông ngòi đi qua các thành phố lớn, các khu công
nghiệp. Gây ô nhiễm nặng một số hồ là nơi tiếp nhận nguồn nước thải. Đây là vấn
đề thách thức lớn đối với việc khai thác, sử dụng nước trong tương lai.
1.2.5. Các tác nhân gây ô nhiễm nước mặt
Ô nhiễm môi trường nước có thể gây ra do hiện tượng tự nhiên (núi lửa, lũ
lụt, xâm nhập mặn, phong hóa…) nhưng hoạt động của con người là nguyên nhân
Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa;
Phía Đông giáp biển Đông;
Phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh;
Phía Tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
12
Tỉnh Nghệ An có 1 thành phố loại 2, 02 thị xã và 17 huyện: Thành phố Vinh;
Thị xã Cửa Lò; Thị xã Thái Hòa; 10 huyện miền núi: Thanh Chương, Kỳ Sơn,
Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Tân Kỳ, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp,
Nghĩa Đàn; 7 huyện đồng bằng: Đô Lương, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc,
Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành.
Nghệ An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, chịu tác động mạnh
mẽ của các loại gió thổi theo mùa. Gió mùa mùa đông khô, lạnh tuy nhiên khi vào
đến Nghệ An độ ẩm được cải thiện phần nào nhờ vùng biển rộng lớn. Gió mùa mùa
hạ khô nóng, thiêu đốt vùng núi phía tây, tới tận đồng bằng ven biển.
- Địa chất
Các thành tạo địa chất trên địa bàn tỉnh Nghệ An được phân chia theo nguồn
gốc thành: các đá dạng xâm nhập, phun trào, biến chất, trầm tích và các tích tụ bở
rời.
Các loại đá xâm nhập phân bố dưới dạng các khối hoặc dải núi lớn, điển hình
ở khối Phu Hoạt (H. Quế Phong), khối Phu Lon (H. Kỳ Sơn). Ngoài ra, chúng còn
thể hiện dưới dạng các núi sót rải rác như ở khu vực H. Quỳ Châu, Quỳ Hợp.
Các đá phun trào phân bố chủ yếu dưới dạng lớp phủ bazan, điển hình ở khu
vực huyện Nghĩa Đàn, thị xã Thái Hòa.
Các thành tạo biến chất phân bố tập trung ở phía Tây Bắc tỉnh, chủ yếu trên
địa bàn huyện Quế Phong, Quỳ Châu.
Các thành tạo trầm tích chiếm tỷ lệ diện tích lớn nhất so với các loại đá khác
trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Trong đó chia làm 2 nhóm: nhóm trầm tích lục địa, vũng
theo nguồn gốc hình thành thì có các nhóm đất như sau:
+ Đất nguồn gốc trầm tích
Phân bố tập trung chủ yếu ở các huyện đồng bằng, ven biển, bao gồm 5
nhóm đất: đất cát; đất phù sa, dốc tụ; đất mặn; đất phèn mặn; đất bạc màu và biến
đổi do trồng lúa. Chiếm vị trí quan trọng trong số này có 189.000 ha đất phù sa và
nhóm đất cát, có ý nghĩa lớn đối với sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Sau đây là đặc
điểm của hai loại chính:
14
* Đất cát cũ ven biển: 21.428 ha (tập trung ở vùng ven biển), đất có thành
phần cơ giới thô, kết cấu rời rạc, dung tích hấp thụ thấp. Các chất dinh dưỡng như
mùn, đạm, lân đều nghèo, kali tổng số cao, nhưng kali dễ tiêu nghèo, thích hợp và
đã được đưa vào trồng các loại cây như: rau, lạc, đỗ, dâu tằm, ... .
* Đất phù sa thích hợp với canh tác cây lúa nước và màu: Bao gồm đất phù
sa được bồi hàng năm, đất phù sa không được bồi, đất phù sa lầy úng, đất phù sa cũ
có sản phẩm Feralit. Nhóm này có diện tích khoảng 163.202 ha, trong đó đất phù sa
không được bồi hàng năm chiếm khoảng 60%. Đất thường bị chia cắt mạnh,
nghiêng dốc và lồi lõm, quá trình rửa trôi diễn ra liên tục cả bề mặt và chiều sâu.
Loại đất này tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng, phần lớn được dùng để trồng lúa
nước (khoảng 74.000 ha). Các dải đất, bãi bồi ven sông và đất phù sa cũ có địa hình
cao hơn thường trồng ngô và cây công nghiệp ngắn ngày khác.
* Ngoài hai loại đất chính trên còn có đất cồn cát ven biển và đất bạc màu,
tuy nhiên, diện tích nhỏ và có nhiều hạn chế trong sản xuất nông nghiệp.
+ Đất phát triển trong vỏ phong hóa đá gốc: Loại đất này tập trung chủ yếu
ở vùng núi (74,4%) và bao gồm các nhóm đất sau:
* Đất đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch sét (Fs)
Tổng diện tích 433.357 ha, phân bố trên một phạm vi rộng lớn ở hầu khắp
và tập trung nhiều ở các huyện Tương Dương, Con Cuông, Tân Kỳ, Anh
(PHKCL< 4), dung để trồng rừng.
* Đất đỏ nâu trên đá vôi (Fv)
Tổng diện tích khoảng 34.064 ha, phân bố rải rác ở các huyện: Tân Kỳ,
Nam Đàn, Quỳ Hợp... Đất đỏ nâu trên đá vôi ở các vùng địa hình thấp thường có
tầng dày hơn; ở vùng núi cao đất đá vôi bị phong hoá và rửa trôi mạnh nên tầng đất
mỏng hơn. Tuy nhiên, phần lớn đất đá vôi có độ dày tầng đất khá thường trên 50
cm, độ phì ở đất đá vôi khá. Đất đỏ nâu trên đá vôi thích hợp cho việc trồng nhiều
loại cây lâu năm như: cam, chè, cà phê, cao su... và có tầng đất dày, độ dốc thoải và
độ phì khá. Tuy nhiên, diện tích đất đá vôi này không lớn mà phân bố manh mún,
có thể kết hợp với những đất khác để tạo nên những vùng cây trồng có hiệu quả
kinh tế cao.
16
*Đất nâu đỏ trên bazan (Fk)
Tổng diện tích khoảng 14.711 ha, phân bố chủ yếu ở vùng kinh tế Phủ Quỳ.
Đây là loại đất tốt, thoát nước tốt nhưng giữ nước kém, có tầng dày trên 1 m, địa
hình khábằng phẳng, ít dốc (độ dốc nhỏ hơn 100), rất thích hợp với cây công nghiêp
dài ngày. Hầu hết loại đất này đã được sử dụng vào sản xuất, chủ yếu là trồng cao
su, cà phê, cam,... và cho hiệu quả kinh tế cao.
*Đất Feralit đỏ vàng trên núi, đất mùn trên núi cao
Loại đất này chiếm gần 20% diện tích thổ nhưỡng. Tuy có độ phì cao, song
khả năng phát triển sản xuất nông nghiệp bị hạn chế do tập trung chủ yếu trên núi
cao, địa hình dốc và bị chia cắt mạnh, thích hợp cho sản xuất lâm nghiệp.
- Đặc điểm khí hậu
+ Chế độ nhiệt
Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23 – 240C, tương ứng với tổng nhiệt năm là
8.7000C. Sự chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng trong năm khá cao. Nhiệt độ trung
bình các tháng nóng nhất (tháng 6 đến tháng 7) là 33 0C, nhiệt độ cao tuyệt đối
vùng Bắc Trung Bộ. Loại gió này thường xuất hiện ở Nghệ An vào tháng 5 đến
tháng 8 hàng năm, số ngày khô nóng trung bình hằng năm là 20 - 70 ngày. Gió Tây
Nam gây ra khí hậu khô, nóng và hạn hán, ảnh hưởng không tốt đến sản xuất và đời
sống sinh hoạt của nhân dân trên phạm vi toàn tỉnh.
+ Các hiện tượng thời tiết khác
Là tỉnh có diện tích rộng, có đủ các dạng địa hình: miền núi, trung du, đồng
bằng và ven biển nên khí hậu tỉnh Nghệ An đa dạng, đồng thời có sự phân hoá theo
không gian và biến động theo thời gian. Bên cạnh những yếu tố chủ yếu như nhiệt
độ, lượng mưa, gió, độ ẩm không khí thì Nghệ An còn là một tỉnh chịu ảnh hưởng
của bão và áp thấp nhiệt đới. Trung bình mỗi năm có 2 - 3 cơn bão, thường tập
trung vào tháng 8 và 10 và có khi gây ra lũ lụt.
Sương muối chỉ có khả năng xảy ra ở các vùng núi cao và một vài vùng
trung du có điều kiện địa hình và thổ nhưỡng thuận lợi cho sự thâm nhập của không
khí lạnh và sự mất nhiệt do bức xạ mạnh mẽ của mặt đất như khu vực Phủ Quỳ.
18
Nhìn chung, Nghệ An nằm trong vùng khí hậu có nhiều đặc thù, phân dị rõ
rệt trên toàn lãnh thổ và theo các mùa, tạo điều kiện cho nhiều loại cây trồng phát
triển. Khí hậu có phần khắc nghiệt, đặc biệt là bão và gió Tây Nam gây trở ngại
không nhỏ cho sự phát triển chung, nhất là sản xuất nông nghiệp.
- Thủy văn
Nghệ An có hệ thống sông ngòi khá dày đặc, mật độ lưới sông trung bình
khoảng 0,62 km/km2. Toàn tỉnh có 06 con sông trực tiếp đổ ra biển Đông. Trừ sông
Cả, sông Hiếu các con sông còn lại có lưu vực nhỏ, khoảng 500 km 2 với chiều dài
trung bình khoảng 50 - 60 km.
Các sông khác bắt nguồn trong tỉnh chảy thẳng ra biển với đặc trưng các sông
đều ngắn, trữ lượng nước không lớn, lòng sông hẹp, nước chảy chậm, phần lớn là sông
nước mặn. Bao gồm các sông:
Nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm (nông - lâm - thủy sản) hiện nay vẫn
là ngành kinh tế cơ bản của tỉnh Nghệ An hiện đang từng bước có sự chuyển dịch
cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong có cấu nông - lâm - thủy sản, nông nghiệp vấn chiếm tỷ trọng cao nhất
(85%)[7] trong khi đó, tỷ trọng của ngành lâm nghiệp chỉ chiếm 7%, ngành thủy sản
là 8% trong năm 2009. Trong ba nhóm ngành nông - lâm - thủy sản, ngành thủy sản
có tốc độ tăng nhanh nhất, trung bình giai đoạn 2005- 2009 là 10,5%/năm, tiếp đến
là nông nghiệp 6,3% và lâm nghiệp 3,3%.
Trong tỉnh đã hình thành những vùng sản xuất chuyên môn hóa như: Vùng
lúa ở các huyện đồng bằng Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, Hưng Nguyên; Vùng
mía ở Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Tân Kỳ, Quỳ Châu...; Cà phê ở Nghĩa Đàn; Cao su ở
Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp...; Dứa ở Quỳnh Lưu, Yên Thành, Nghĩa Đàn. Vùng
sắn làm nguyên liệu cho các nhà máy chế biến ở các huyện miền núi thấp. Tại các
huyện ven biển, xuất hiện các khu vực nuôi trồng thủy sản như tôm, cá, cua, ngao...
+ Công nghiệp
Trong những năm qua nhờ tổ chức có hiệu quả Luật Doanh nghiệp, Luật
Hợp tác xã và các văn bản quy phạm pháp luật về sản xuất kinh doanh nên đã tạo
cho các hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và sản xuất công nghiệp nói riêng
có nhiều thay đổi theo hướng tích cực. Vì vậy, số lượng của các cơ sở sản xuất công
20
nghiệp cũng như kết quả hoạt động đạt được đã và đang khẳng định được vai trò
của mình trong tăng trưởng kinh tế.
- Dân số
Năm 2011, dân số tỉnh Nghệ An là 2.942.900[7] người, mật độ dân cư 178
người/km2, tỉ lệ gia tăng dân số 11,6%. Trong đó, 86,7%[7] dân số tập trung ở nông
thôn, chỉ có 13,3% dân số sông ở thành thị.
Nguồn lao động dồi dào, 1.757.800 người[7]. Trong đó làm việc trong các
1.4.1. Đặc điểm mạng lưới sông suối
Tỉnh Nghệ An nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn, trong Tỉnh có 06 lưu vực
sông (có cửa riêng biệt), tuy nhiên đa số là các con sông ngắn ven biển có chiều dài
dưới 60 km và duy nhất có sông Cả có lưu vực là 15.346 km 2 chiếm tới 93,1% diện
tích thủy vực toàn tỉnh với chiều dài qua Nghệ An là 361 km[6].
Địa hình núi thấp và gò đồi chiếm tỷ lệ lớn nên mạng lưới sông suối trong
khu vực khá đa dạng với mật độ trung bình 0,62 km/km 2, nhưng phân bố không đều
trên toàn vùng. Vùng núi có độ dốc địa hình lớn, chia cắt mạnh, mạng lưới sông
suối phát triển mạnh hơn, mật độ trên 1 km/km2; khu vực trung du địa hình gò đồi
nên mạng lưới sông suối kém phát triển, trung bình 0,5 km/km 2[6]. Tính chất cửa
sông hạn chế phát triển mạng lưới sông vùng hạ du, vì vậy mật độ sông suối ở đây
đạt dưới 0,8 km/km2.
Lưu vực sông Cả chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Phần hạ du
sông Cả với sự nhập lưu của sông Hiếu và sông Ngàn Sâu cùng với sự đổi hướng
dòng chảy; độ dốc lưu vực cũng như đáy sông giảm, cũng như dãy cồn cát ven biển
cao hơn vùng đồng bằng đã làm giảm rất nhiều năng lực tiêu nước ra biển, gây hiện
tượng ngập lụt.
Ngoài lưu vực sông Cả, các lưu vực sông nhỏ còn lại chủ yếu diện tích lưu
vực dưới 500 km2. Những con sông này đổ trực tiếp ra biển, vì vậy trong những
tháng mùa kiệt, nguồn nước các sông này thường bị xâm nhập mặn[6].
Trong tỉnh Nghệ An, dòng chảy không lớn và có sự phân mùa dòng chảy sâu
sắc. Hàng năm, lượng nước lớn nhất và nhỏ nhất có thể chênh nhau hàng ngàn lần
và là nguyên nhân tiềm ẩn gây ra tai biến môi trường. Nhìn chung, nguồn nước khá
22
dồi dào, đủ để đáp ứng cho sản xuất và phục vụ cho đời sống sinh hoạt của nhân
dân.
1.4.2.Trữ lượng nước mặt
Do địa hình thấp, trũng và sự chuyển hướng dòng chảy ở đoạn cuối sông Cả
ra biển nên lũ trên sông Cả thường xuyên gây ngập lụt cho khu vực đồng bằng hạ
du.
Mùa kiệt : Lượng dòng chảy trên sông giảm hẳn với moduyn dòng chảy
trung bình chỉ đạt 10,3 l/s/km2. Ba tháng có dòng chảy nhỏ nhất rơi vào tháng (IIIV) chiếm 7,39% lượng dòng chảy năm và tháng III có lượng dòng chảy nhỏ nhất
chiếm 2,33% lượng dòng chảy năm. Có thể thấy rằng trên sông Cả dòng chảy mùa
kiệt rất nhỏ, do tỷ lệ nước ngầm tầng nông so với dóng chảy toàn phần thấp (30%)
và lượng mưa trong mựa kiệt ở đây cũng rất nhỏ[6].
Tóm lại, nguồn tài nguyên nước mặt Nghệ An được xếp vào mức trung bình
trong cả nước, hàng năm trung bình nhận 28,8 tỷ m3 nước mưa và đã sinh ra 13,5 tỷ
m3 dòng chảy vào mạng lưới sông suối, tương ứng với moduyn dòng chảy 26
l/s.km2. Với dân số tính đến năm 2011 là 2.942.900 người; thì lượng nước mặt tính
theo bình quân đầu người hiện nay là 4587 m 3/người.năm[6]. Theo chỉ tiêu đánh giá
của Hội tài nguyên nước Quốc tế (IWRA), Nghệ An được xếp vào khu vực đủ nước
sử dụng. Tuy nhiên, do tài nguyên nước phân bố không đều theo không gian, nên đã
xuất hiện các khu vực thiếu nước (huyện Mường Xén, Con Cuông) đến những khu
vực thừa nước (Quỳ Châu, Nghĩa Khánh).
Bên cạnh đó, sự phân phối nguồn nước không đều theo thời gian trong năm
trên các sông suối trong tỉnh cũng làm giảm khả năng sử dụng nguồn nước mặt
phong phú này. Hàng năm, 73,5% lượng dòng chảy tập trung từ 5 tháng mùa lũ và 7
tháng còn lại, lượng dòng chảy trên sông rất nhỏ. Theo các số liệu thống kê KT –
XH trong tỉnh Nghệ An, đến năm 2005, lượng nước cần cho các nhu cầu sử dụng
nước theo các ngành:
- Nông nghiệp (bao gồm cả tưới, chăn nuôi và thủy sản): 1570 triệu m3/năm
- Công nghiệp: 0,35 triệu m3/năm
- Sinh hoạt: 63,9 triệu m3/năm
Và tổng lượng nước dùng là: 1,634 tỉ m 3/năm chiếm 12,1% lượng nước
đến[6]. Lượng nước cần trong mùa kiệt là 1,06 tỷ m 3 chiếm tới 29,6% lượng nước
24