đánh giá hiện trạng và phân tích diễn biến chất lượng nước mặt tỉnh nghệ an - Pdf 24

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Dƣơng Thanh Nga

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ PHÂN TÍCH DIỄN BIẾN
CHẤT LƢỢNG NƢỚC MẶT TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Hà Nội – Năm 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Dƣơng Thanh Nga

1.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 14
1.4. Tổng quan về nƣớc mặt tỉnh Nghệ An 17
1.4.1. Đặc điểm mạng lưới sông suối 17
1.4.2.Trữ lượng nước mặt 18
CHƢƠNG 2 - ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu 21
2.2. Nội dung nghiên cứu 24
2.2.1. Hiện trạng chất lượng nước mặt trên địa bàn tỉnh Nghệ An 24
2.2.2. Diễn biến chất lượng nước mặt trên địa bàn tỉnh Nghệ An 24
2.2.3. Các giải pháp bảo vệ môi trường nước mặt trên địa bàn tỉnh Nghệ An 24
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu 25
2.3.1. Phương pháp Thu thập và tổng hợp tài liệu 25
2.3.2. Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 25
2.3.3. Phương pháp lấy mẫu và bảo quản 25
2.3.4. Phương pháp phân tích các thông số ô nhiễm 26
2.3.5. Phương pháp đánh giá chất lượng nước 27
2.3.6. Phương pháp xử lý số liệu 31
2.3.7. Phương pháp phân tích diễn biến 31
CHƢƠNG 3- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1. Hiện trạng chất lƣợng nƣớc mặt tỉnh Nghệ An 32
3.1.1. Hiện trạng chất lượng nước mặt 32
3.1.2. Nguyên nhân ô nhiễm nước mặt 43
3.2. Diễn biến chất lƣợng nƣớc mặt 45
3.2.1. Diễn biến chất lượng nước mặt theo chỉ số WQI 45

3.2.2. Diễn biến chất lượng nước mặt theo chỉ tiêu riêng lẻ 47
3.2.3.Xu thế diễn biến chất lượng nước mặt 52
3.3. Các giải pháp bảo vệ môi trƣờng nƣớc mặt Nghệ An 53
3.3.1. Giải pháp hành chính – tổ chức 53
3.3.2. Giải pháp kinh tế 55

Bảng 7: Phƣơng pháp phân tích 26
Bảng 8: Bảng quy định các giá trị q
i
, BP
i
28
Bảng 9: Bảng quy định các giá trị BP
i
và qi đối với DO
% bão hòa
29
Bảng 10: Bảng quy định các giá trị BPi và qi đối với thông số pH 30
Bảng 11: Bảng đánh giá chất lƣợng nƣớc theo WQI 30
Bảng 12: Cơ cấu chất lƣợng nƣớc mặt theo mức đánh giá (đơn vị:%) 45 DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Hiên trạng chất lƣợng nƣớc mặt trên địa bàn tỉnh Nghệ An 32
Hình 2: Chỉ số WQI sông Hiếu và phụ lƣu 33
Hình 3: Chỉ số WQI sông Lam và phụ lƣu 33
Hình 4: Hiện trạng chất lƣợng nƣớc mặt ven biển 34

(0,03%).
Là quốc gia nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, tổng lƣợng mƣa lớn, Việt
Nam có nguồn tài nguyên nƣớc mặt phong phú. Tổng lƣợng dòng chảy trong năm
đạt 835,5Km
3
, lƣợng nƣớc bình quân 9210 m
3
/nguời/năm, cao hơn so với trung
bình thế giới. Tuy nhiên, tài nguyên nƣớc mặt của chúng ta hiện đang chịu tác động
mạnh mẽ bởi các hoạt động của con ngƣời dẫn đến cạn kiệt và ô nhiễm nguồn nƣớc.
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Nghệ An, vị thế của tài
nguyên nƣớc mặt ngày càng đƣợc nâng cao và coi trọng. Theo chỉ tiêu đánh giá của
Hội tài nguyên nƣớc Quốc tế (IWRA), Nghệ An đƣợc xếp vào khu vực đủ nƣớc sử
dụng. Chất lƣợng nƣớc mặt ngày càng trở thành vấn đề quan tâm của các cấp các
ngành cũng nhƣ cộng đồng dân cƣ hƣởng lợi từ nguồn tài nguyên này. Hiện tại trên
địa bàn tỉnh Nghệ An, công tác điều tra cơ bản về tài nguyên nƣớc cũng nhƣ khả
năng tiếp nhận của các nguồn nƣớc bắt đầu đƣợc tiến hành tại một số huyện. Báo
cáo tổng quan về hiện trạng chất lƣợng nƣớc mặt trên địa bàn tỉnh Nghệ An phục vụ
công tác quản lý nhà nƣớc, cũng nhƣ cung cấp thông tin đến cộng đồng hiện chƣa
đƣợc thực hiện. Từ nhu cầu thực tế đó, tác giả luận văn đã chọn đề tài “Đánh giá
hiện trạng và phân tích diễn biến chất lƣợng nƣớc mặt trên địa bàn tỉnh Nghệ An”
giai đoạn 2010 -2012 , đề xuất một số giải pháp bảo vệ chất lƣợng nƣớc mặt trên địa bàn.
2

Chƣơng 1- TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về đánh giá và phân tích diễn biến chất lƣợng nƣớc
Hiện trạng môi trƣờng của khu vực hoặc quốc gia là trạng thái môi trƣờng
đƣợc thể hiện chủ yếu trên 3 phƣơng diện: hiện trạng môi trƣờng tự nhiên, hiện
trạng kinh tế - xã hội tác động lên môi trƣờng và các giải pháp bảo vệ môi trƣờng đã
thực hiện.

nƣớc trên 100 Km
2
, chiếm 95% tổng khối lƣợng nƣớc, trong đó có 56% là các hồ
nƣớc ngọt. Ngoài ra, trên lục địa còn có trên 10.000 hồ nhân tạo có sức chứa 5000
Km
3
(1,78%)nhằm chứa nƣớc phục vụ cho nhu cầu của con ngƣời
[16]
.
Bảng 1: Đặc trƣng một số hồ nhân tạo lớn trên thế giới
[16]

Tên hồ
Vị trí
Dung
tích
(Km
3
)
Diện
tích
(Km
2
)
Sông
Châu, Nƣớc
Oden-fols và Vicloria
Nil
Châu Phi
205

Hồ chứa
Diện tích lƣu vực
(km
2
)
Dung tích
(10
6
. M
3
)
Diện tích tƣới tiêu
(ha)
Thủy điện
(MW)
Hòa Bình
51.700
9.450
-
1.920
Thác Bà
6.100
2.940
-
108
Trị An
14.600
2.760
-
420

Hồ Vực Mấu
-
26,4
1524
-
Núi Cốc
-
175
-
-
Cấm Sơn
-
250
-
-
Sông Rác
-
124,5
-
-
4

Nƣớc đầm lầy ƣớc tính 11.470 km
3
với tổng diện tích 2.682 km
2
. Trong đó
trên phần lãnh thổ châu Âu là 925 km
2
, châu Phi 341 km

)
Lƣợng dòng chảy bình quân năm
Tổng số
(km
3
)
Bình quân diện tích
( 10
3
m
3
/ ngƣời)
Bình quân đầu ngƣời
( 10
3
km
3
/ ngƣời)
Châu Á
44.363
13.400
302
4,6
Châu Mỹ
42.081
17.822
914
37,9
Châu Phi
30.319

tạo ra trong VN
% tạo ra
trong VN
Kỳ Cùng –
Bằng Giang
11.220
94
8,9
7,3
82
Hồng – Thái
Bình
155.000
55
137
80,3
59
Mã – Chu
28.400
62
20,2
16,5
82
Cả
27.200
65
27,5
24,5
89
Thu Bồn

3
, mùa khô chỉ chiếm 15% -30%
tổng lƣợng dòng chảy cả năm.
1.2.4. Chất lượng nước mặt
Chất lƣợng nƣớc mặt đƣợc đánh giá qua nồng độ hoặc hàm lƣợng các tác
nhân vật lý, hóa học, sinh học có trong nƣớc qua các tiêu chuẩn cho từng mục đích
sử dụng. Thông thƣờng con ngƣời sử dụng nƣớc với 5 mục đích:
- Nƣớc cấp sinh hoạt
- Nƣớc phục vụ cho nông nghiệp
- Nƣớc phục vụ nuôi trồng thủy sane và bảo vệ đời sống hoang dã
- Nƣớc phục vụ cho nhu cầu giải trí, thể thao dƣới nƣớc
- Nƣớc cấp cho công nghiệp
Mỗi mục đích sử dụng cần có tiêu chuẩn và phƣơng pháp đánh giá riêng về
mức độ phù hợp cho nhu cầu sử dụng.
1.2.4.1. Chất lƣợng nƣớc sông ở Việt Nam
Đặc trƣng nổi bật của chất lƣợng nƣớc sông ở Việt Nam là độ đục khá lớn do
hiện tƣợng xói mòn rửa trôi. 80 – 90% tổng lƣợng cát bùn trong năm tập trung vào
mùa lũ
[16]
. Độ đục trung bình năm biến đổi từ 100g/m
3
đến 500g/m
3
. Hệ thống sông
Hồng có độ đục lớn nhất, có khi lên đến 1000g/m
3[16]
. Hàng năm, các sông ngòi
Việt Nam chuyển ra biển 400 -500 triệu tấn cát bùn, riêng sông Hồng khoảng 120
triệu tấn.
Độ khoáng hóa của sông Việt Nam vào loại trung bình, khoảng 25 – 250

nghiệp, nông nghiệp đã kèm quá trình đô thị hóa đã gây ô nhiễm một số đoạn sông
và nguy cơ ô nhiễm cao ở một số sông ngòi đi qua các thành phố lớn, các khu công
nghiệp. Gây ô nhiễm nặng một số hồ là nơi tiếp nhận nguồn nƣớc thải. Đây là vấn
đề thách thức lớn đối với việc khai thác, sử dụng nƣớc trong tƣơng lai.
1.2.5. Các tác nhân gây ô nhiễm nước mặt
Ô nhiễm môi trƣờng nƣớc có thể gây ra do hiện tƣợng tự nhiên (núi lửa, lũ
lụt, xâm nhập mặn, phong hóa…) nhƣng hoạt động của con ngƣời là nguyên nhân
phổ biến và quan trọng nhất. Các hoạt động của con ngƣời trong sinh hoạt, sản xuất
công nghiệp, nông nghiệp, khai khoáng, xây dựng các công trình thủy lợi, giao
7

thông đƣờng thủy, du lịch…đƣa khối lƣợng lớn nguồn thải vào nƣớc sông, hồ, gây
suy giảm rõ rệt chất lƣợng nƣớc tự nhiên ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Có nhiều loại tác nhân gây ô nhiễm nguồn nƣớc, tuy nhiên để tiện lợi cho
việc quan trắc và kiểm soát ô nhiễm ngƣời ta có thể chia chúng làm 10 nhóm cơ bản
sau:
+ Các chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học
+ Các chất hữu cơ bền
+ Các kim loại nặng
+ Các ion vô cơ
+ Các khí độc hòa tan
+ Dầu mỡ
+ Các chất phóng xạ
+ Vi sinh vật gây bệnh
+ Các chất có mùi
+ Các chất thải rắn
1.3. Các Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An
Thành phần tự nhiên của nƣớc nƣớc mặt chịu tác động to lớn của các yếu tố
nhƣ vị trí địa lý, địa chất, địa hình, điều kiện khí hậu, thủy văn, cũng nhƣ điều
kiện kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An.

Phía Đông giáp biển Đông;
Phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh;
Phía Tây giáp nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
8

Tỉnh Nghệ An có 1 thành phố loại 2, 02 thị xã và 17 huyện: Thành phố Vinh;
Thị xã Cửa Lò; Thị xã Thái Hòa; 10 huyện miền núi: Thanh Chƣơng, Kỳ Sơn,
Tƣơng Dƣơng, Con Cuông, Anh Sơn, Tân Kỳ, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp,
Nghĩa Đàn; 7 huyện đồng bằng: Đô Lƣơng, Nam Đàn, Hƣng Nguyên, Nghi Lộc,
Diễn Châu, Quỳnh Lƣu, Yên Thành.
Nghệ An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, chịu tác động mạnh
mẽ của các loại gió thổi theo mùa. Gió mùa mùa đông khô, lạnh tuy nhiên khi vào
đến Nghệ An độ ẩm đƣợc cải thiện phần nào nhờ vùng biển rộng lớn. Gió mùa mùa
hạ khô nóng, thiêu đốt vùng núi phía tây, tới tận đồng bằng ven biển.
- Địa chất
Các thành tạo địa chất trên địa bàn tỉnh Nghệ An đƣợc phân chia theo nguồn
gốc thành: các đá dạng xâm nhập, phun trào, biến chất, trầm tích và các tích tụ bở
rời.
Các loại đá xâm nhập phân bố dƣới dạng các khối hoặc dải núi lớn, điển hình
ở khối Phu Hoạt (H. Quế Phong), khối Phu Lon (H. Kỳ Sơn). Ngoài ra, chúng còn
thể hiện dƣới dạng các núi sót rải rác nhƣ ở khu vực H. Quỳ Châu, Quỳ Hợp.
Các đá phun trào phân bố chủ yếu dƣới dạng lớp phủ bazan, điển hình ở khu
vực huyện Nghĩa Đàn, thị xã Thái Hòa.
Các thành tạo biến chất phân bố tập trung ở phía Tây Bắc tỉnh, chủ yếu trên
địa bàn huyện Quế Phong, Quỳ Châu.
Các thành tạo trầm tích chiếm tỷ lệ diện tích lớn nhất so với các loại đá khác
trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Trong đó chia làm 2 nhóm: nhóm trầm tích lục địa, vũng
vịnh ven rìa và trầm tích biển khơi.
Hoạt động kiến tạo phá hủy hình đồ cấu trúc cổ, tạo lập cấu trúc mới, làm
biến vĩ mạnh mẽ đất đá. Những dấu hiệu đặc trƣng cho hoạt động đứt gãy khác nhƣ:

bằng và duyên hải ven biển gồm 7 huyện, 1 thị xã và thành phố Vinh. Phân chia
theo nguồn gốc hình thành thì có các nhóm đất nhƣ sau:
+ Đất nguồn gốc trầm tích
Phân bố tập trung chủ yếu ở các huyện đồng bằng, ven biển, bao gồm 5
nhóm đất: đất cát; đất phù sa, dốc tụ; đất mặn; đất phèn mặn; đất bạc màu và biến
đổi do trồng lúa. Chiếm vị trí quan trọng trong số này có 189.000 ha đất phù sa và
nhóm đất cát, có ý nghĩa lớn đối với sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Sau đây là đặc
điểm của hai loại chính:
10

* Đất cát cũ ven biển: 21.428 ha (tập trung ở vùng ven biển), đất có thành
phần cơ giới thô, kết cấu rời rạc, dung tích hấp thụ thấp. Các chất dinh dƣỡng nhƣ
mùn, đạm, lân đều nghèo, kali tổng số cao, nhƣng kali dễ tiêu nghèo, thích hợp và
đã đƣợc đƣa vào trồng các loại cây nhƣ: rau, lạc, đỗ, dâu tằm, .
* Đất phù sa thích hợp với canh tác cây lúa nƣớc và màu: Bao gồm đất phù
sa đƣợc bồi hàng năm, đất phù sa không đƣợc bồi, đất phù sa lầy úng, đất phù sa cũ
có sản phẩm Feralit. Nhóm này có diện tích khoảng 163.202 ha, trong đó đất phù sa
không đƣợc bồi hàng năm chiếm khoảng 60%. Đất thƣờng bị chia cắt mạnh,
nghiêng dốc và lồi lõm, quá trình rửa trôi diễn ra liên tục cả bề mặt và chiều sâu.
Loại đất này tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng, phần lớn đƣợc dùng để trồng lúa
nƣớc (khoảng 74.000 ha). Các dải đất, bãi bồi ven sông và đất phù sa cũ có địa hình
cao hơn thƣờng trồng ngô và cây công nghiệp ngắn ngày khác.
* Ngoài hai loại đất chính trên còn có đất cồn cát ven biển và đất bạc màu,
tuy nhiên, diện tích nhỏ và có nhiều hạn chế trong sản xuất nông nghiệp.
+ Đất phát triển trong vỏ phong hóa đá gốc: Loại đất này tập trung chủ yếu ở
vùng núi (74,4%) và bao gồm các nhóm đất sau:
* Đất đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch sét (Fs)
Tổng diện tích 433.357 ha, phân bố trên một phạm vi rộng lớn ở hầu khắp
và tập trung nhiều ở các huyện Tƣơng Dƣơng, Con Cuông, Tân Kỳ, Anh
Sơn, Thanh Chƣơng, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp.

Nam Đàn, Quỳ Hợp Đất đỏ nâu trên đá vôi ở các vùng địa hình thấp thƣờng có
tầng dày hơn; ở vùng núi cao đất đá vôi bị phong hoá và rửa trôi mạnh nên tầng đất
mỏng hơn. Tuy nhiên, phần lớn đất đá vôi có độ dày tầng đất khá thƣờng trên 50
cm, độ phì ở đất đá vôi khá. Đất đỏ nâu trên đá vôi thích hợp cho việc trồng nhiều
loại cây lâu năm nhƣ: cam, chè, cà phê, cao su và có tầng đất dày, độ dốc thoải
và độ phì khá. Tuy nhiên, diện tích đất đá vôi này không lớn mà phân bố manh
mún, có thể kết hợp với những đất khác để tạo nên những vùng cây trồng có hiệu
quả kinh tế cao. 12

*Đất nâu đỏ trên bazan (Fk)
Tổng diện tích khoảng 14.711 ha, phân bố chủ yếu ở vùng kinh tế Phủ Quỳ.
Đây là loại đất tốt, thoát nƣớc tốt nhƣng giữ nƣớc kém, có tầng dày trên 1 m, địa
hình khábằng phẳng, ít dốc (độ dốc nhỏ hơn 10
0
), rất thích hợp với cây công nghiêp
dài ngày. Hầu hết loại đất này đã đƣợc sử dụng vào sản xuất, chủ yếu là trồng cao
su, cà phê, cam, và cho hiệu quả kinh tế cao.
*Đất Feralit đỏ vàng trên núi, đất mùn trên núi cao
Loại đất này chiếm gần 20% diện tích thổ nhƣỡng. Tuy có độ phì cao, song
khả năng phát triển sản xuất nông nghiệp bị hạn chế do tập trung chủ yếu trên núi
cao, địa hình dốc và bị chia cắt mạnh, thích hợp cho sản xuất lâm nghiệp.
- Đặc điểm khí hậu
+ Chế độ nhiệt
Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23 – 24
0
C, tƣơng ứng với tổng nhiệt năm là
8.700

- 19%; vùng có độ ẩm cao nhất là thƣợng nguồn sông Hiếu, vùng có độ ẩm thấp
nhất là vùng núi phía Nam (huyện Kỳ Sơn, Tƣơng Dƣơng). Lƣợng bốc hơi từ 700 -
940 mm/năm.
+ Chế độ gió
Nghệ An chịu ảnh hƣởng của hai loại gió chủ yếu: gió mùa Đông Bắc và gió
phơn Tây Nam.
* Gió mùa Đông Bắc thƣờng xuất hiện vào mùa Đông từ tháng 10 đến tháng
4 năm sau, bình quân mỗi năm có khoảng 30 đợt gió mùa Đông Bắc, mang theo
không khí lạnh, khô làm cho nhiệt độ giảm xuống 5 - 10
o
C so với nhiệt độ trung
bình năm.
* Gió phơn Tây Nam là một loại hình thời tiết đặc trƣng cho mùa hạ của
vùng Bắc Trung Bộ. Loại gió này thƣờng xuất hiện ở Nghệ An vào tháng 5 đến
tháng 8 hàng năm, số ngày khô nóng trung bình hằng năm là 20 - 70 ngày. Gió Tây
Nam gây ra khí hậu khô, nóng và hạn hán, ảnh hƣởng không tốt đến sản xuất và đời
sống sinh hoạt của nhân dân trên phạm vi toàn tỉnh.
+ Các hiện tƣợng thời tiết khác
Là tỉnh có diện tích rộng, có đủ các dạng địa hình: miền núi, trung du, đồng
bằng và ven biển nên khí hậu tỉnh Nghệ An đa dạng, đồng thời có sự phân hoá theo
không gian và biến động theo thời gian. Bên cạnh những yếu tố chủ yếu nhƣ nhiệt
độ, lƣợng mƣa, gió, độ ẩm không khí thì Nghệ An còn là một tỉnh chịu ảnh hƣởng
của bão và áp thấp nhiệt đới. Trung bình mỗi năm có 2 - 3 cơn bão, thƣờng tập
trung vào tháng 8 và 10 và có khi gây ra lũ lụt.
Sƣơng muối chỉ có khả năng xảy ra ở các vùng núi cao và một vài vùng
trung du có điều kiện địa hình và thổ nhƣỡng thuận lợi cho sự thâm nhập của không
khí lạnh và sự mất nhiệt do bức xạ mạnh mẽ của mặt đất nhƣ khu vực Phủ Quỳ.
14

Nhìn chung, Nghệ An nằm trong vùng khí hậu có nhiều đặc thù, phân dị rõ

+ Tình hình tăng trƣởng kinh tế
Tốc độ tăng trƣởng GDP năm 2011 đạt 10,38% , cao hơn hẳn tốc độ tăng
bình quân 5,9% của cả nƣớc. Tổng GDP của tỉnh năm 2011 đạt 49.759 tỷ đồng
[7]

(tính theo giá trị hiện hành). GDP bình quân đầu ngƣời là 16,9 triệu đồng/ngƣời.
15

Cơ cấu kinh tế của Nghệ An cũng chuyển dịch khá nhanh theo hƣớng công
nghiệp hóa. Năm 2011, tỷ trọng nông nghiệp 27,06%, công nghiệp xây dựng
34,86%, dịch vụ 38,08%
[7]
. Tỷ trọng trong GDP của khu vực công nghiệp - xây
dựng tăng nhanh từ 18,6% năm 2000 lên 34,86% năm 2011. Trong khi đó, tỷ trọng
khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm đáng kể, từ 44,3% còn 27,06% năm
2011. Khu vực dịch vụ tăng từ 37,1% năm 2000 lên 38,08% năm 2011
[7]
. Chuyển
dịch cơ cấu kinh tế đã diễn ra theo chiều sâu và theo hƣớng tiến bộ; tích lũy tài sản
và đầu tƣ tăng, đời sống dân cƣ đƣợc cải thiện rõ rệt.
+ Ngành Nông - Lâm - Thủy sản
Nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm (nông - lâm - thủy sản) hiện nay vẫn
là ngành kinh tế cơ bản của tỉnh Nghệ An hiện đang từng bƣớc có sự chuyển dịch
cơ cấu theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong có cấu nông - lâm - thủy sản, nông nghiệp vấn chiếm tỷ trọng cao nhất
(85%)
[7]
trong khi đó, tỷ trọng của ngành lâm nghiệp chỉ chiếm 7%, ngành thủy sản
là 8% trong năm 2009. Trong ba nhóm ngành nông - lâm - thủy sản, ngành thủy sản
có tốc độ tăng nhanh nhất, trung bình giai đoạn 2005- 2009 là 10,5%/năm, tiếp đến

34.000 lao động. Tỷ lệ lao động đƣợc đào tạo khoảng 40%.
- Y tế và sức khỏe cộng đồng
Số cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế là 529 cơ sở
[7]
, trong đó có 26
bệnh viện đa khoa, 22 phòng khám khu vực
[7]
, 1 bệnh viện điều dƣỡng và 479 trạm
y tế, cơ quan, xã, phƣờng. Có 6-75% đạt chuẩn quốc gia về y tế. Toàn tỉnh có 1397
bác sỹ, 1327 y sỹ, 2629 y tá và 910 nữ hộ sinh. Có 42 dƣợc sỹ cao cấp, 461 dƣợc sỹ
trung cấp và 294 dƣợc tá
[7]
.
Các cơ sở y tế ngày càng đƣợc nâng cấp, chất lƣợng khám chữa bệnh đƣợc
nâng lên, do đó số ca tử vong trong điều trị giảm.
Công tác phòng dịch tốt nên không xẩy ra dịch bệnh đáng kể, số ca tử vong
trong điều trị giảm. Công tác kiểm tra an toàn vệ sinh có nhiều chuyển biến. Chủ
trƣơng sử dụng muối iốt đƣợc thực hiện khá tốt. Công tác tiêm chủng mở rộng 6
loại vắc xin cho các cháu dƣới 1 tuổi, tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ có thai, tiêm
phòng viêm não
- Giáo dục
Công tác giáo dục ở Nghệ An đƣợc phát triển mạnh mẽ. Cho đến nay tất cả
các huyện, thành, thị trong tỉnh và 100% số xã, phƣờng đã đƣợc công nhận phổ cập
tiểu học và chống mù chữ.
Năm 2011, toàn tỉnh có 533.864 học sinh phổ thông học tập tại 1.043 trƣờng
với 33.188 giáo viên tham gia giảng dạy
[7]
. Trong đó có 41% số trƣờng đạt chuẩn
17


. Tính chất cửa
sông hạn chế phát triển mạng lƣới sông vùng hạ du, vì vậy mật độ sông suối ở đây
đạt dƣới 0,8 km/km
2
.
Lƣu vực sông Cả chạy dài theo hƣớng Tây Bắc - Đông Nam. Phần hạ du
sông Cả với sự nhập lƣu của sông Hiếu và sông Ngàn Sâu cùng với sự đổi hƣớng
dòng chảy; độ dốc lƣu vực cũng nhƣ đáy sông giảm, cũng nhƣ dãy cồn cát ven biển
cao hơn vùng đồng bằng đã làm giảm rất nhiều năng lực tiêu nƣớc ra biển, gây hiện
tƣợng ngập lụt.
Ngoài lƣu vực sông Cả, các lƣu vực sông nhỏ còn lại chủ yếu diện tích lƣu
vực dƣới 500 km
2
. Những con sông này đổ trực tiếp ra biển, vì vậy trong những
tháng mùa kiệt, nguồn nƣớc các sông này thƣờng bị xâm nhập mặn
[6]
.
Trong tỉnh Nghệ An, dòng chảy không lớn và có sự phân mùa dòng chảy sâu
sắc. Hàng năm, lƣợng nƣớc lớn nhất và nhỏ nhất có thể chênh nhau hàng ngàn lần
và là nguyên nhân tiềm ẩn gây ra tai biến môi trƣờng. Nhìn chung, nguồn nƣớc khá
18

dồi dào, đủ để đáp ứng cho sản xuất và phục vụ cho đời sống sinh hoạt của nhân
dân.
1.4.2.Trữ lượng nước mặt
Do vị trí địa lý của tỉnh Nghệ An trải dài từ biển vào sâu trong đất liền với
nhiều dạng địa hình (từ vùng đồng bằng thấp ven biển tới vùng gò đồi và vùng núi
cao) nên lƣợng mƣa dao động từ dƣới 1000 mm (nơi địa hình bị che khuất nhƣ:
Mƣờng Xén, Tƣơng Dƣơng) đến trên 2000 mm (Quỳ Châu, Nghĩa Khánh)
[6]


19

Do địa hình thấp, trũng và sự chuyển hƣớng dòng chảy ở đoạn cuối sông Cả
ra biển nên lũ trên sông Cả thƣờng xuyên gây ngập lụt cho khu vực đồng bằng hạ
du.
Mùa kiệt : Lƣợng dòng chảy trên sông giảm hẳn với moduyn dòng chảy
trung bình chỉ đạt 10,3 l/s/km
2
. Ba tháng có dòng chảy nhỏ nhất rơi vào tháng (II-
IV) chiếm 7,39% lƣợng dòng chảy năm và tháng III có lƣợng dòng chảy nhỏ nhất
chiếm 2,33% lƣợng dòng chảy năm. Có thể thấy rằng trên sông Cả dòng chảy mùa
kiệt rất nhỏ, do tỷ lệ nƣớc ngầm tầng nông so với dóng chảy toàn phần thấp (30%)
và lƣợng mƣa trong mựa kiệt ở đây cũng rất nhỏ
[6]
.
Tóm lại, nguồn tài nguyên nƣớc mặt Nghệ An đƣợc xếp vào mức trung bình
trong cả nƣớc, hàng năm trung bình nhận 28,8 tỷ m
3
nƣớc mƣa và đã sinh ra 13,5 tỷ
m
3
dòng chảy vào mạng lƣới sông suối, tƣơng ứng với moduyn dòng chảy 26
l/s.km
2
. Với dân số tính đến năm 2011 là 2.942.900 ngƣời; thì lƣợng nƣớc mặt tính
theo bình quân đầu ngƣời hiện nay là 4587 m
3
/ngƣời.năm
[6]


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status