Đánh giá hiện trạng và phân tích vai trò của nuôi thả cánh kiến đối với cộng đồng người dân tộc H’mông tại xã Huổi Lèng – huyện Mường Chà – tỉnh Điện Biên - Pdf 24


1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA NUÔI
THẢ CÁNH KIẾN ĐỎ ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI DÂN TỘC
H'MÔNG XÃ HUỔI LÈNG - HUYỆN MƯỜNG CHÀ
TỈNH ĐIỆN BIÊN
Ngành: Quản lý tài nguyên rừng và môi trường
Mã số: 302 Giáo viên hướng dẫn: Trần Ngọc Hải
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Kim Phượng

4.1.1. Vị trí địa lí 19
4.1.2. Địa hình, địa mạo 19
4.1.3. Khí hậu 19
4.1.4. Sông suối thuỷ văn 20
4.1.5. Địa chất và thổ nhưỡng 21
4.2. Đặc điểm kinh tế xã hội 21
4.2.1. Dân sinh 21
4.2.2. Kinh tế 21
4.2.3. Cơ sở hạ tầng 22
4.2.4. Văn hóa xã hội, thực trạng y tế, giáo dục 22

3
4.2.5. Các dự án hỗ trợ phát triển 23
Chương 5:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24
5.1. Đánh giá hiện trạng nuôi thả cánh kiến 24
5.1.1. Đánh giá hiện trạng rừng cây chủ thả cánh kiến đỏ 24
5.1.1.1. Hiện trạng diện tích rừng cây chủ cánh kiến đỏ 24
5.1.1.2. Đánh giá mật độ và tình hình sinh trưởng của rừng Cọ khiết 26
5.1.1.3. Đánh giá thực trạng nuôi thả cánh kiến đỏ tại xã Huổi Lèng 27
5.2. Đánh giá vai trò của nghề nuôi thả cánh kiến đỏ đến phát triển kinh tế
xã hội tại địa phương 31
5.2.1. Vai trò của nghề nuôi thả cánh kiến đến kinh tế hộ gia đình 31
5.2.2. Vai trò của nghề nuôi thả cánh kiến đỏ đối với sự phát triển kinh tế
xã hội của khu vực nghiên cứu 37
5.3. Phân tích thị trường tiêu thụ cánh kiến đỏ tại địa phương 39
5.3.1. Thị trường tiêu thụ cánh kiến đỏ trên thế giới và tại Việt Nam 39
5.3.2. Thị trường cánh kiến xã Huổi Lèng 40
5.4. Vai trò của một số tổ chức đến sự phát triển nghề sản xuất cánh kiến đỏ
tại khu vực nghiên cứu 44
5.5. Phân tích thuận lợi khó khăn và đưa ra giải pháp phát triển nghề nuôi

trường; đặc biệt là sự quan tâm của Uỷ ban nhân dân xã và bà con người
H’mông xã Huổi Lèng. Nhân dịp hoàn thành đề tài tôi xin bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc đối với sự giúp đỡ quý báu đó.
Mặc dù có nhiều cố gắng song do năng lực và thời gian còn hạn chế
nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, với tinh thần học hỏi và
cầu thị tôi kính mong nhận được sự giúp đỡ và góp ý của các thầy cô và các
bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.
Hà Tây, ngày 09 tháng 05 năm 2008
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Kim Phượng

5
Chương 1
ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhựa cánh kiến đỏ là sản phẩm đặc biệt của tự nhiên. Cánh kiến đỏ chỉ
phân bố ở một số vùng của các nước Nam Á như: Ấn Độ, Việt Nam, Trung
Quốc, Lào… Cánh kiến đỏ được sử dụng hơn 2000 năm nay để làm thuốc,
chất nhuộm, đánh bóng gỗ. Hiện nay nhựa cánh kiến đỏ được sử dụng rộng
rãi nhất trong các ngành công nghiệp. Với những tính năng đặc biệt mà không
một lọai nhựa tổng hợp nhân tạo nào có thể thay thế được, chính vì vậy mà
nhựa cánh kiến đỏ là một mặt hàng quan trọng có giá trị kinh tế cao và là mặt
hàng độc quyền của các nước Nam Á.
Việt Nam cũng có nghề nuôi thả cánh kiến đỏ từ rất lâu đời. Những
năm 1963 – 1988 cánh kiến đỏ là sản phẩm thế mạnh của ngành Lâm nghiệp,
sản phẩm chế biến của nhựa cánh kiến đỏ (gọi là Shellac) được xuất sang
Liên Xô và các nước Đông Âu, trung bình mỗi năm chúng ta xuất sang Liên
Xô 100 tấn Shellac một năm. Sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu tan rã thị

Điện Biên” với mong muốn giúp địa phương phát triển và nhân rộng mô
hình nuôi thả cánh kiến đỏ ra toàn xã.

7
Chương 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Lịch sử sản xuất cánh kiến đỏ
Cánh kiến đỏ có từ thời cổ xưa, cái tên Lacca của rệp cánh kiến đỏ
(Kerria lacca) theo tiếng Ấn Độ có nghĩa là hàng trăm nghìn. Từ những thế kỉ
trước công nguyên người Ấn Độ đã biết sử dụng cánh kiến đỏ làm thuốc chữa
bệnh sốt rét mãn tính, bệnh thấp khớp… Về sau người ta sử dụng cánh kiến
đỏ làm thuốc nhuộm gam màu đỏ. Chất nhuộm màu cánh kiến đỏ được sản
xuất thành bánh khô ở Ấn Độ và được xuất khẩu đi nhiều nước. Lúc bấy giờ
nhựa cánh kiến đỏ được sử dụng đánh bóng đồ gỗ, đồ mỹ nghệ…
Vào cuối thế kỷ XIX khi hàng loạt chất nhuộm tổng hợp ra đời với giá
thành rẻ hơn thì thị trường màu nhuộm cánh kiến đỏ bị đóng cửa, tuy nhiên
việc sử dụng cánh kiến đỏ trong các lĩnh vực của công nghiệp ngày càng
nhiều. Hiện nay cánh kiến đỏ đã trở thành mặt hàng quan trọng có giá trị kinh
tế cao, sản phẩm độc quyền của các nước Nam Á. Các nước sản xuất cánh
kiến đỏ lớn hiện nay là Ấn Độ, Thái Lan, Lào, Việt Nam, Trung Quốc…
Trong đó Ấn Độ và Thái Lan là hai nước sản xuất nhiều nhất, sản lượng nhựa
hai nước chiếm 80 – 90% sản lượng nhựa của toàn thế giới. Tại Ấn Độ nhựa
cánh kiến đỏ xếp hàng thứ 10 trong các mặt hàng xuất khẩu lâm nghiệp.
Tại Việt Nam chất nhuộm cánh kiến đỏ cũng đã được sử dụng từ lâu.
Trong các vật liệu khảo cổ có tấm vải nhuộm từ nhựa cánh kiến đỏ có tuổi
hơn 300 năm (Lê Văn Giai) [Kinh nghiệm sản xuất cánh kiến đỏ trang 76].
Trước những năm 1945 người Pháp cũng cho sản xuất cánh kiến đỏ ở Việt
Nam. Họ thường trồng cây chủ quanh làng xã ven đường. Rệp cánh kiến đỏ
phân bố tự nhiên ở miền Bắc nước ta tại các tỉnh vùng núi: Lai Châu, Điện
Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh. Sơn La là cái

2.2. Các công trình nghiên cứu về cánh kiến đỏ
2.2.1. Trên thế giới
Cánh kiến đỏ là một sản phẩm của tự nhiên, nó chỉ phân bố ở một số
địa điểm thuộc Nam Á như: Ấn Độ, Việt Nam, Lào, Trung Quốc… Mặc dù

9
nhựa cánh kiến đỏ được sử dụng hơn 2000 năm nay nhưng việc nghiên cứu
cánh kiến đỏ mới được quan tâm phát triển một vài thế kỷ gần đây.
Ấn Độ là nước đầu tiên thành lập Viện nghiên cứu cánh kiến đỏ (năm
1925) sự ra đời của Viện này đã góp phần phát triển việc nghiên cứu về cánh
kiến đỏ. Theo tài liệu thống kê của Viện này cho đến năm 1983 có 4000 tài
liệu công bố về rệp cánh kiến đỏ, cây chủ và kỹ thuật nuôi thả và phòng trừ
sâu bệnh hại…với mục tiêu tăng cường sản xuất loại nhựa quý này. Trung
Quốc và Thái Lan là hai nước cũng có nhiều công trình nghiên có giá trị về
cánh kiến đỏ.
Cánh kiến đỏ được nhiều tác giả nghiên cứu đến: Tachard (1709), Kerr
(1781), Mirsa (1929), P.S. Teotia và N. Majundar (1967), G.P Luxikhia
(1968), các nhà khoa học Bắc Kinh… Công trình nghiên cứu về cánh kiến đỏ
đầu tiên được công bố tại Viện hàn lâm khoa học Pháp là của Tachard (1710).
Theo thời gian các vấn đề nghiên cứu cánh kiến đỏ được quan tâm mở
rộng, những lĩnh vực quan tâm nghiên cứu nhiều là: tính năng và tác dụng,
ứng dụng của nhựa cánh kiến đỏ; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của
cánh kiến đỏ đến các nghiên cứu về sâu hại và cây chủ.
Những nghiên cứu về tính năng tác dụng của nhựa cánh kiến đỏ, những
nghiên cứu này chỉ ra rằng nhựa cánh kiến đỏ là một hợp chất trong đó chất
nhựa chiếm nhiều nhất từ 70 – 80%, chất màu chiếm từ 5 – 7%, chất sáp
chiếm từ 3 – 5%, các chất đường, muối khoáng, protein chiếm khoảng 4 –
5%, còn lại là các tạp chất. Tính năng của nhựa cánh kiến đỏ rất đặc biệt mà
không một loại nhựa tổng hợp nhân tạo nào có thể thay thế được. Những tính
năng của nhựa cánh kiến đỏ là: Khi nhiệt độ thay đổi nhựa co dãn ít, nhựa dẫn


11
Đối với đặc điểm về sinh vật học, sinh thái học của cánh kiến đỏ đã có nhiều
công trình nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng. Mirsa (1929) P.M Glover
(1932) đã nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm đến sinh trưởng và phát
triển của cánh kiến đỏ các ông đã đi đến kết luận sau: Mùa hè nhiệt độ dưới
17
0
C và mùa đông nhiệt độ dưới 15
0
C thì con cái không đẻ trứng. Độ ẩm
tương đối của không khí từ 50 – 90% là điều kiện cần thiết đối với đời sống
của cánh kiến đỏ. Theo R. Majumdar và A. Bhattacharya (1968) cho rằng ảnh
hưởng của khí hậu không chỉ tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển
của một thế hệ mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến 2 – 3 thế hệ sau thông qua quá
trình sinh sản của chúng.
Nghiên cứu sự biến động của quần thể và nguyên nhân chính gây ra
mất mùa; hiện nay có hai quan điểm khác nhau về vấn đề này:
+ Theo quan điểm của Mirsa (1929), Glover (1932), Đặng Văn A
(1976) và một số tác giả khác thì nguyên nhân chính gây ra mất mùa chủ yếu
do thời tiết.
+ Còn quan điểm của các nhà khoa học khác như Mahdi hassan (1933),
Hajumdar và Bhattacharya (1968) và Nguyễn Đức Khảm (1976 – 1985) và
một số tác giả khác thì cho rằng nguyên nhân chính gây mất mùa là do tổ hợp
các nhân tố, trong đó chủ yếu do nội tại quần chủng là cơ bản, các nhân tố
khác là quan trọng nhưng chỉ đóng vai trò thúc đẩy tần số của chu kỳ
biến động.
Cánh kiến đỏ là loài rệp dùng vòi chích nhựa cây và tiết nhựa bảo vệ
bằng vô số tuyến bao quanh thân thể nó. Vì vậy khi nuôi thả cánh kiến đỏ
người ta rất quan tâm đến cây chủ thả cánh kiến đỏ; kỹ thuật nuôi thả cánh

Các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại, ban đầu các nhà khoa học đều
tập trung nghiên cứu vào các biện pháp chăm sóc cải tạo cây chủ (chọn giống,
cải tạo tán, tỉa thưa và bón phân), tuyển chọn giống rệp tốt, thu bã giống kịp
thời, diệt trừ nguồn gốc gây hại ngay từ tổ giống. Cũng có những nhà khoa
học lại quan tâm đến các biện pháp sinh học, có nhiều tác giả tập trung vào
nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học và kỹ thuật nhân nuôi đại trà các

13
loài ong kí sinh quan trọng như Bracon greeni, Elamus claripennis. Ban đầu
quan điểm của các nhà khoa học đều cho rằng không thể sử dụng thuốc hóa
học vào việc phòng trừ sâu bệnh hại cho rệp cánh kiến đỏ nhưng về sau người
ta đã tìm ra được một số lọai thuốc hóa học như: Malathion, DDT, Metyl
parathion … có khả năng diệt trừ sâu bệnh hại cho rệp cánh kiến đỏ.
2.2.2. Ở Việt Nam
Tại Việt Nam, tài liệu nuôi thả cánh kiến đỏ đầu tiên được đăng vào
những năm 1890. Trong tài liệu này Hober Cagob gọi rệp cánh kiến đỏ là
Cocus lacca (Lê Văn Giai). Mãi đến năm 1960 của thế kỷ XX các nhà khoa
học Việt Nam mới có công trình nghiên cứu đầu tiên về cánh kiến đỏ. Đó là
công trình nghiên cứu của: Thái Văn Trừng, Nguyễn Đức Khảm (1976); Đặng
Văn A, Hà Văn Thi (1978); Nguyễn Đức Khảm và Đặng Văn A (1970 –
1985) đã nghiên cứu sự phát triển bên ngoài tổ nhựa (điểm vàng, vết nứt tổ,
hình thái sợi sáp) liên hệ với thời gian phát triển của phôi làm cơ sở cho việc
dự đoán thời gian thiếu trùng nở. Cũng theo Nguyễn Đức Khảm nghiên cứu
thì rệp cánh kiến đỏ có ba kiểu sinh sản là sinh sản đơn tính, sinh sản lưỡng
tính và ấu trùng sinh. Phùng Tiến Huy, Lương Gia Thụy, Thân Văn Cảnh
(1968 – 1985) đã nghiên cứu kỹ thuật tạo cây chủ, gieo ươm và trồng rừng
cây chủ cánh kiến đỏ Cọ phèn, Cọ khiết, Đậu thiều. Dưới sự chỉ đạo của T.S
Thái Văn Trừng cánh kiến đỏ đã được nghiên cứu ở Ngọc Lặc – Thanh Hóa
(1971 – 1973) và ở Quan Hóa – Thanh Hóa (1974 – 1977). Các đề tài này làm
theo phương pháp luận sinh thái học thực nghiệm. Tất cả các thí nghiệm được

kiến đỏ của Vũ Đức Sinh đã thống kê hơn 200 loài cây có khả năng đậu rệp
cánh kiến đỏ ký sinh.
Sản lượng cánh kiến đỏ ở nước ta rất bấp bênh và ngày càng thấp, một
trong những nguyên nhân đó là do sâu bệnh hại. Lê Thị Phi nghiên cứu về
quần xã sinh vật sống ở trên tổ nhựa cánh kiến đỏ và thu được 22 loài. Các
nhà khoa học Việt Nam cũng khẳng định rằng trong đó hai loài nguy hiểm
nhất là Eublemma amabilis và Holcocera pulvereae. Vấn đề phòng trừ sâu hại
cũng được lưu ý từ những năm 1970. Theo Lê Nam Hùng (1973 – 1985) tại

15
Lương Sơn - Hòa Bình có 5 thế hệ Eublemma amabilis trong một năm. Tác
giả này cũng đề xuất phương pháp phòng trừ loài sâu hại này là sử dụng bẫy
đèn từ thời gian 22h – 2h hoặc bắt giết thủ công tức là dùng que nhọn đâm
chết sâu trắng trong các nốt phồng trên lớp nhựa cánh kiến đỏ. Đối với các
bệnh hại cánh kiến đỏ thì chúng ta chưa có bất cứ công trình nghiên cứu nào.
Tuy nhiên có thể khẳng định một điều rằng bất cứ loại cây chủ nào và bất cứ
vụ thả nào cũng xuất hiện bệnh hại rệp cánh kiến đỏ.
Sản xuất cánh kiến đỏ của nước ta từ trước đến giờ chủ yếu dựa vào
cây chủ có sẵn trong tự nhiên nên năng suất nhựa bấp bênh không ổn định.
Tháng 5 năm 1982 Lâm trường cánh kiến đỏ Huổi Lèng thuộc Công ty Lâm
đặc sản xuất khẩu (Bộ Lâm nghiệp) đã nuôi thả thành công cánh kiến đỏ trên
diện tích trồng tập trung trên quy mô lớn (100 ha). Thành công này đã đánh
dấu một bước tiến bộ lớn trong công tác nuôi thả cánh kiến đỏ
Như vậy thời gian qua Việt Nam cũng đã có những công trình nghiên
cứu về cánh kiến đỏ. Tuy nhiên các công trình này chỉ tập trung nghiên cứu
về đặc điểm hình thái sinh thái của rệp cánh kiến, kỹ thuật trồng cây chủ và
thả cánh kiến đỏ cũng như các loại sâu bệnh hại rệp và biệp pháp phòng trừ
chúng mà chưa có công trình nghiên cứu nào nói về vai trò của cánh kiến đỏ
đối với đời sống kinh tế và xã hội của các địa phương.
Gắn bó với nghề nuôi thả cánh kiến đỏ từ thời bao cấp, những năm vừa

17
Chương 3
MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
3.1.1. Mục tiêu chung
Thông qua việc đánh giá hiện trạng và phân tích vai trò của nuôi thả
cánh kiến đối với cộng đồng người dân tộc H’Mông để tổng hợp được khó
khăn từ đó đưa ra giải pháp phát triển nghề này.
3.1.2. Mục tiêu cụ thể
Đề tài nghiên cứu nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể sau:
- Đánh giá được hiện trạng nuôi thả cánh kiến đỏ tại địa phương và vai trò của
nuôi thả cánh kiến với cộng đồng người H’Mông tại khu vực nghiên cứu.
- Thông qua xác định những khó khăn, nguyên nhân của những khó khăn để
từ đó đề xuất giải pháp phát triển nghề nuôi thả cánh kiến.
3.2. Đối tượng, địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu vào các mô hình nuôi thả
cánh kiến đỏ quy mô hộ gia đình của đồng bào người H’Mông.
- Địa điểm nghiên cứu: Xã Huổi Lèng – huyện Mường Chà – tỉnh Điện Biên.
3.3. Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên tôi triển khai các nội dung
nghiên cứu sau.
- Hiện trạng của việc nuôi thả cánh kiến ở địa phương.
- Vai trò của nuôi thả cánh kiến đến kinh tế, xã hội.

- Kế thừa tài liệu của các cơ quan: Ủy ban nhân dân xã Huổi Lèng, Ban quản
lý rừng phòng hộ huyện Mường Chà, Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Điện Biên.
- Phỏng vấn 30 hộ gia đình thuộc 3 bản Huổi Toong 1, Huổi Toong 2 và
Chống Dình. Ngoài ra còn phỏng vấn các cán bộ xã, cán bộ Ban quản lý rừng
phòng hộ huyện Mường Chà.

19
+ Đối với hộ gia đình phỏng vấn năng suất, sản lượng cánh kiến đỏ của từng
hộ gia đình một vài năm trở lại đây, diện tích, mật độ nuôi thả cánh kiến đỏ.
Nội dung phỏng vấn được trình bày trong phần phụ biểu.
+ Đối với cán bộ ban ngành nội dung phỏng vấn tổng diện tích nuôi thả cánh
kiến đỏ, thực trạng quản lý của chính quyền địa phương với nghề nuôi thả
cánh kiến đỏ. Nội dung phỏng vấn cán bộ xã và các ban ngành có liên quan
được trình bày trong phần phụ lục.
- Điều tra thực địa, lập ô tiêu chuẩn diện tích 500 m
2
đánh giá mật độ rừng Cọ
khiết, tình hình sinh trưởng và tỷ lệ đậu rệp cánh kiến. Các thông tin điều tra
trên OTC được ghi vào mẫu biểu 01:
Mẫu biểu 01: Phiếu điều tra OTC

Số hiệu OTC: Trạng thái rừng: Độ dốc:
Độ tàn che: Tọa độ:
Người điều tra: Ngày điều tra:
TT
Tên loài
H
vn
(m)
D

Xác định cây có đậu rệp cánh kiến bằng cách quan sát cây chủ Cọ khiết,
nếu thấy có tổ kiến trên thân cây và cành cây thì cây đó đậu rệp cánh kiến.
Diện tích nuôi cánh kiến của các hộ gia đình điều tra phỏng vấn được
tổng hợp vào mẫu biểu 02:
Mẫu biểu 02: Thống kê hộ gia đình nuôi thả cánh kiến
TT
Hộ gia đình
Diện tích (ha)
Năng suất (tấn/ ha)
Thu hoạch
(Triệu)
2000
2005
2006
2000
2005
2006



Tt
Lĩnh
vực
Số lượng
Chi phí (tr đồng)
Thu nhập (tr
đồng)
Hiệ
u
quả
KT
Diệ
n
tích
(ha)
Năng
suất
Tấn/h
a
Giốn
g
Phân
bón

m
đất
Chă
m
sóc

Công thức tính sản lượng như sau:
- Đối với cây nông nghiệp và cánh kiến.
Q = P x S
Trong đó: Q sản lượng (kg)
P năng suất (kg/ ha)
S diện tích (ha)
- Đối với các loài gia súc, gia cầm.
Q = P x S
Trong đó:Q sản lượng (kg)
P năng suất (kg/ con)
S số lượng gia súc, gia cầm (con)
Kết quả phân tích cơ cấu hộ gia đình được ghi vào mẫu biểu 04:
Mẫu biểu 04: Biểu tổng hợp kinh tế hộ gia đình.
Bản…………………. Xã…………

TT
Họ và
tên
Lĩnh vực
Chi phí
(đ)

- Kế thừa tài liệu của Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Điện Biên.
- Phỏng vấn hộ gia đình tư thương thu mua cánh kiến đỏ tại xã Huổi Lèng. Nội
dung phỏng vấn sản lượng thu mua, giá thu mua của người dân và giá bán lại
cho tư thương nơi khác… Số hộ phỏng vấn 5 hộ mua bán cánh kiến.

22
- Phân tích kênh thị trường. Xây dựng kênh thị trường từ người nuôi thả đến
người tiêu thụ. Từ các kênh tiêu thụ xây dựng các chuỗi sản phẩm, tìm hiểu
giá bán qua từng mắt xích chuỗi sản phẩm.
d, Một số nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển nghề nuôi thả cánh
kiến đỏ
Để tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến nghề nuôi thả cánh kiến đỏ tôi
sử dụng các phương pháp sau:
- Phỏng vấn cán bộ xã, cán bộ ban quản lí rừng phòng hộ huyện Mường Chà
và người dân. Mục đích phỏng vấn để thấy được ảnh hưởng của từng cơ quan
ban ngành và các tổ chức của địa phương ảnh hưởng đến nghề nuôi thả cánh
kiến. Nội dung phỏng vấn được định hướng trước, nội dung phỏng vấn này sẽ
được trình bày ở phần phụ biểu.
- Xây dựng sơ đồ Venn để phân tích vai trò của các tổ chức ở địa phương tới
sự phát triển của cánh kiến đỏ.
e, Phân tích những thuận lợi, khó khăn, đưa ra các giải pháp phát triển
nuôi thả cánh kiến đỏ tại Huổi Lèng
Để thực hiện được nội dung này tôi thực hiện các phương pháp sau:
- Phỏng vấn người dân, cán bộ xã. Người dân và các cán bộ địa phương là
những người nắm rõ nhất những thuận lợi và khó khăn của địa phương mình.
Chính vì vậy mà tôi thực hiện phỏng vấn người dân, cán bộ địa phương để họ
đưa ra những ý kiến của mình về những thuận lợi và khó khăn của địa
phương. Từ những thuận lợi và khó khăn này tôi đề xuất các giải pháp phát
triển nghề nuôi thả cánh kiến đỏ của địa phương. Nội dung phỏng vấn được
trình bày trong phần phụ biểu.

%
n
n
P 

Trong đó: n: số cây Cọ khiết có trong OTC
n’: số cây Cọ khiết có đậu rệp
P%: Tỷ lệ phần trăm cây đậu rệp

24
Chương 4
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI
4.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1. Vị trí địa lí
Huổi Lèng là xã vùng cao, được xác định là vùng sâu vùng xa nhiều
khó khăn (khu vực 3), cách trung tâm huyện Mường Chà 30km về phía Tây
Bắc. Xã Huổi Lèng có toạ độ địa lí:
Từ 21
0
45’50” đến 21
0
57’01” độ vĩ Bắc.
Từ 103
0
03’27” đến 103
0
11’17” độ kinh Đông.
Phía Bắc giáp xã Mường Tùng.
Phía Nam giáp xã Sa Lông.
Phía Tây giáp xã Hứa Ngài.

vào tháng 1.
Nhiệt độ cao nhất 30 – 32
0
từ tháng 5 đến tháng 8.
Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1750 – 2050 mm.
Số ngày có mưa trong năm từ 140 – 150 ngày.
Độ ẩm bình quân hàng năm là 83,5%
Tuỳ thuộc vào năm, mùa mưa có thể kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10,
trong thời kì này lượng mưa chiếm khoảng 75 – 80% tổng lượng mưa của cả
năm. Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Do lượng mưa phân
bố không đều mà các tháng mùa khô thường bị thiếu nước.
Hàng năm có hai mùa gió chính thổi qua. Mùa đông có gió mùa đông
bắc, loại gió này thường tạo nên không khí hanh khô, lạnh và có sương muối.
Mùa hè có gió mùa Tây bắc, Đông nam thổi qua.
Ngoài ra do điều kiện địa hình mà đã tạo nên khu vực có tiểu khí hậu
riêng biệt thời tiết trong ngày có đặc thù của cả 4 mùa trong năm. Buổi sáng
có thời tiết lạnh và ẩm của mùa xuân, buổi trưa thời tiết nóng như mùa hè,
buổi chiều thời tiết lại mát mẻ như mùa thu và buổi đêm thời tiết lạnh như
mùa đông.
4.1.4. Sông suối thuỷ văn
Diện tích tự nhiên của xã Huổi Lèng gần 10 780 ha, nằm trong lưu vực
đầu nguồn của suối Sun Lay, Nậm Lay đổ ra sông Đà.
Có thể nhận thấy hai hệ thống đổ ra hệ thống suối Sun Lay là: Hệ thống
suối Nu Trống, Nậm Lay trong lưu vực dãy núi Phi Tông và hệ thống suối
khe hẹp tạo nên bởi lưu vực của dãy núi Địa Hồ.
Suối Sun Lay xuất phát từ xã Huổi Lèng đổ vào sông Đà có chiều dài
hơn 10 km lắm thác ghềnh, dòng chảy quanh năm. Hàng năm thường xuất
hiện lũ mạnh vào mùa mưa nhất là tháng 6 – 7.
Nhìn chung các khe suối trong khu vực đều là vùng thượng nguồn thuỷ
sinh nên lưu lượng nước không lớn, tuy vậy vào mùa mưa do độ che phủ rừng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status