HIỆU QUẢ TRUYỀN THÔNG TRONG THAY ĐỔI KIẾN THỨC –
THỰC HÀNH CỦA NGƯỜI DÂN VỀ PHÒNG CHỐNG SỐT XUẤT HUYẾT TẠI
BẢO VINH, LONG KHÁNH, ĐỒNG NAI NĂM 2009
Nguyễn Văn Tới[*], Lê Công Minh**, Tạ Quốc Đạt**, Lê Thị Thanh**
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động truyền thông trong thay đổi
kiến thức – thực hành của người dân về phòng chống bệnh sốt xuất huyết (SXH) tại xã Bảo
Vinh, thị xã long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định hiệu quả truyền thông trong thay đổi kiến thức và thực
hành đúng của người dân về phòng bệnh SXH. Xác định tỉ lệ người dân tiếp cận các hoạt
động truyền thông về phòng chống SXH trước và sau can thiệp.
Phương pháp nghiên cứu: Đây là nghiên cứu can thiệp cộng đồng. Nghiên cứu được
tiến hành bằng các hoạt động truyền thông tại cộng đồng và được đánh giá trước và sau can
thiệp bằng cách phỏng vấn trực tiếp người dân tại các hộ gia đình. Mỗi gia đình chọn đại
diện một người, tuổi từ 18 trở lên và không mắc các bệnh tâm thần, câm, điếc,…để trả lời
đầy đủ, không ảnh hưởng kết quả các câu hỏi.
Kết quả nghiên cứu: cho thấy tỷ lệ người dân có KT - TH đúng về phòng chống bệnh
SXH. Tỉ lệ kiến thức người dân nhận biết muỗi vằn là tác nhân truyền bệnh trước can thiệp
là 59%, sau can thiệp là 75%. Tỉ lệ người dân biết triệu chứng chính của SXH như xuất
huyết dưới da trước can thiệp là 48%, sau can thiệp là 58%. Tỉ lệ khảo sát thực hành của
người dân về súc rửa dụng cụ chứa nước trước can thiệp là 58,50%, sau can thiệp là 78%.
Quan sát thực hành của người dân trong xử lý đậy nắp dụng cụ chứa nước trước can thiệp
là 49%, sau can thiệp là 59,50%. Tỷ lệ người dân tiếp cận chương trình truyền thông giáo
dục sức khỏe (GDSK) về phòng chống SXH cải thiện rõ rệt.
Kết luận: Nghiên cứu cho thấy hiệu quả của hoạt động truyền thông làm thay đổi KT–
TH người dân về phòng bệnh SXH. Đây là mô hình cần nhân rộng cho các địa phương khác.
Từ khóa: Truyền thông, sốt xuất huyết (SXH).
ABSTRACT
EFFECTIVENESS OF HEALTH EDUCATION IN THE CHANGE OF COMMUNITY’S
Key words: health education, Dengue Hemorrhagic Fever (DHF).
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm khá trầm trọng cho mọi lứa tuổi, nhiều nhất là trẻ
em, có nguy cơ tử vong cao. Sốt xuất huyết có khả năng phát triển thành dịch lớn. Trong vài
năm trở lại đây, bệnh SXH diễn biến rất phức tạp ở khu vực phía nam, đặc biệt các tỉnh miền
Đông và Tây Nam bộ, ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe người dân. Đây cũng là mối quan tâm
của toàn xã hội.
Xã Bảo Vinh thuộc thị xã Long Khánh tỉnh Đồng Nai có diện tích tự nhiên là 15,592
km , dân số là 16.092 người, với 2.915 hộ, xã có 5 ấp. Số ca mắc SXH của xã Bảo Vinh năm
2006 là 37 ca, năm 2007 là 29 ca, năm 2008 là 95 ca. Tổng số ca mắc SXH có chiều hướng
gia tăng qua các năm, nhất là năm 2008. Mặc dù y tế địa phương có nhiều giải pháp cơ bản
để phòng chống dịch SXH, nhưng tỉ lệ mắc vẫn không giảm. Vì vậy việc xây dựng mô hình
về truyền thông nhằm thay đổi thực hành của người dân về phòng bệnh SXH là hết sức cần
thiết.
2
Mục tiêu
Xác định tỉ lệ người dân có kiến thức – thực hành đúng về phòng chống bệnh SXH trước
và sau triển khai chương trình truyền thông giáo dục sứ khỏe (GDSK).
Xác định tỉ lệ người dân tiếp cận hoạt động truyền thông về phòng chống SXH tại xã Bảo
Vinh, thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁPNGHIÊN CỨU
Địa điểm
Xã Bảo Vinh, thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
Thời gian
Từ tháng 3 đến tháng 12 năm 2009.
Cỡ mẫu
200 người.
Tỉ lệ
Trước can thiệp
Sau can thiệp
Nam
38,50
34,50
Nữ
61,50
65,50
50-78
39
38
18-49
61
62
Cấp 2
31
33
Cấp 3
26,50
18
Radio
3,50
1,52
Tivi
42,50
55,56
Radio - tivi
50
36,87
Trước CT
p
Sau CT
Nghe nói về bệnh SXH
Có
190
196
95,00
98,00
Chưa
10
4
5,00
2,00
p>0,05
46,50
63,00
Không biết
107
74
53,50
37,00
p0,05
Chiều tối
3,50
p
35
8,50
17,50
p0,05
5
11,50
Không
190
177
95
88,50
p
p>0,05
Muỗi không nơi đẻ
trứng
52
70
26,00
35,00
p>0,05
Diệt lăng quăng
30
31
15,00
15,50
p>0,05
Không biết
40,50
Thả cá:
Có
17
24
8,50
12,00
Không
183
176
91,50
88,00
p>0,05
Súc rửa
Dưới 7 ngày
117
Hoạt động truyền thông về phòng chống SXH tại cộng đồng (n=200).
Nội dung
Tần suất
Trước CT
Tỉ lệ %
Sau CT
Trước CT
Sau CT
p
Cộng tác viên PC SXH
Có
37
74
18,50
37,00
Không
163
p
108
17
54,00
8,50
p
Lăng quăng
Đợt 1
Đợt 2
Đợt 1
Lu, khạp
136
97
02
Thùng phuy
41
76
5 (12%)
7 (17%)
9 (11,8%)
03
4
16
3 (75%)
11 (68,8%)
0 (0%)
0 (0%)
37 (27,2%) 44 (45,0%) 45 (33,1%)
44 (57,9%)
Đợt 2
6 (6,2%)
Trong 200 hộ gia đình được quan sát có 136 lu, khạp ở đợt 1, có 27,2%, được người dân
xử lý có đậy nắp, nên khi quan sát đợt 2 có 97 lu, khạp và có 45% có đậy nắp. Quan sát trong
đợt 1 có lăng quăng là 33,1%, đợt 2 giảm xuống nhiều còn 6,2%. Đối với dụng cụ chứa nước
là hồ xi măng, quan sát lần đầu có 45% có đậy nắp, được người dân xử lý đậy nắp, khi quan
sát lần sau số hồ có nắp đậy tăng lên 77,6%.
Qua số liệu trên cho thấy, xây dựng chương trình truyền thông làm thay đổi tích cực hành
vi phòng chống SXH. Dẫn đến thay đổi kiến thức- thực hành của người dân về phòng chống
SXH, mang lại tính hiệu quả của chương trình truyền thông GDSK.
KẾT LUẬN
Đánh giá hiệu quả hoạt động truyền thông nâng cao kiến thức-thực hành của người dân
trình phòng chống SXH.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Cù Tiến Dũng (2007), Kiến thực hành về phòng chống SXH của bà mẹ có con dưới
10 tuổi ở huyện Củ Chi, Tp Hồ Chí Minh, khóa luận tốt nghiệp khóa CKI 2007, ĐH YD
Tp.HCM
2.
Đoàn Thị Ngọc Hân (2003), Kiến thức thái độ thực hành của cộng tác viên chương
trình phòng chống SXH tại thị trấn Lái Thiêu, huyện Thuận An, khóa luận tốt nghiệp
CNYTCC 2003, ĐHYD Tp.HCM
3.
Lý Lệ Lan (2004), Khảo sát kiến thức thái độ thực hành phòng chống SXH của
người dân quận 5 Tp Hồ Chí Minh, Khóa luận tốt nghiệp CKI 2004, ĐHYD Tp.HCM
4.
Nguyễn Văn Danh (2005), Kiến thức thái độ hành vi về phòng chống SXH của
người dân, huyện Định Quán, Khóa luận tốt nghiệp CKI 2005, ĐHYD Tp.HCM
5.
Phạm Thị Thúy Hoa (2003), Kiến thức thái độ thực hành về phòng chống SXH của
người dân tại khu phố Bình Hòa thị trấn Lái Thiêu huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương,