1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đại dịch HIV/AIDS đã và đang là nguyên nhân cướp đi sinh mạng của
hàng triệu người trên thế giới mỗi năm, ảnh hưởng tới kinh tế, văn hoá, xã
hội, nòi giống của mỗi quốc gia. Bất chấp những nỗ lực trên toàn cầu, tỉ lệ lây
nhiễm HIV/AIDS vẫn không ngừng gia tăng. Theo báo cáo của UNAIDS, đến
hết năm 2008, toàn thế giới ước tính có khoảng 33,4 triệu người nhiễm HIV
trong đó 15,7 triệu là phụ nữ. Tính riêng năm 2008, có khoảng 2,7 triệu người
nhiễm HIV và 2 triệu người đã chết vì AIDS [70] trong đó có hơn 500.000 trẻ
em; châu Phi có tỉ lệ nhiễm HIV ở phụ nữ có thai cao nhất thế giới (40%)
[18]
Theo các chuyên gia y tế, thế kỉ 21 sẽ là thế kỉ HIV/AIDS của châu Á.
Khi dịch đã bùng nổ ở các nước chậm phát triển, thì việc thay đổi mạnh mẽ về
nhận thức và các biện pháp can thiệp là hết sức cần thiết để thực hiện chương
trình phòng, chống HIV/AIDS một cách hiệu quả [37].
Ở Việt Nam, tính đến cuối năm 2008 đã có 138.846 người nhiễm HIV,
29.575 bệnh nhân AIDS và 41.544 người đã tử vong [9]. Tỉ lệ nhiễm HIV ở
phụ nữ có thai đã tăng từ 0,02% năm 1994 đến 0,35% năm 2005 [18]. Số liệu
giám sát trọng điểm năm 2006 cho thấy tỉ lệ nhiễm HIV ở nhóm phụ nữ mang
thai trên toàn quốc là 0,37% [34]. Với 1,5 – 2 triệu phụ nữ sinh đẻ hàng năm,
mỗi năm sẽ có khoảng 6.000 - 7000 bà mẹ mang thai nhiễm HIV và nếu
không được can thiệp dự phòng lây truyền mẹ - con, khoảng hơn 2000 trẻ sẽ
nhiễm căn bệnh thế kỉ này [4] .
Chương trình quốc gia về phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con
(PLTMC) đã xác định mục tiêu là khống chế tỉ lệ trẻ em bị nhiễm HIV do mẹ
truyền sang xuống dưới 10% vào năm 2010 [6] và dưới 5% vào năm 2015
[15]. Năm 2002, một khảo sát đã được tiến hành ở 7 tỉnh/thành phố có tỉ lệ
2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khái niệm lây truyền HIV từ mẹ sang con [37]
Phần lớn trẻ em dưới 5 tuổi sống chung với HIV là do nhiễm qua
đường lây truyền từ mẹ sang con trong thời gian mang thai (25%), chuyển dạ
đẻ (50%) hoặc sau sinh qua việc bú mẹ (25%).
Lây truyền HIV từ mẹ sang con là lây truyền dọc theo 2 phương thức:
trực tiếp từ mẹ sang thai nhi và từ sữa sang con. Tất cả những trẻ sinh ra từ
các bà mẹ nhiễm HIV đều có nguy cơ bị lây nhiễm HIV nhưng thực tế sẽ có
khoảng 20 – 45% con của các bà mẹ này bị lây nhiễm HIV từ mẹ nếu không
nhận được các can thiệp thích hợp [2].
1.2. Cơ chế lây truyền HIV từ mẹ sang con [11]
1.2.1. Trong tử cung, khi mang thai
Sự lây truyền này có thể xảy ra suốt từ 3 tháng đầu tới khi thai đủ tháng
do HIV được truyền trực tiếp từ mẹ sang thai qua bánh rau. Người ta thấy
rằng, HIV có thể truyền qua bánh rau sang thai nhi rất sớm (tuy với một tỉ lệ
thấp), và đã từng tìm thấy HIV trong các mô não, thận, gan của tổ chức thai
sau sẩy.
1.2.2. Trong chuyển dạ
Trong chuyển dạ, các cơn co tử cung làm tử cung co bóp, cổ tử cung
xoá và mở, làm tổn thương các mạch máu nhỏ và gây chảy máu. Máu chảy sẽ
làm tăng số lượng HIV có trong âm đạo dẫn đến tăng nguy cơ nhiễm HIV khi
thai đi qua âm đạo người mẹ (tiếp xúc trực tiếp hoặc nuốt dịch âm đạo có
nhiều HIV vào đường tiêu hoá). Đặc biệt ở những cuộc đẻ có can thiệp như
cắt tầng sinh môn, đặt forceps hoặc giác hút thì các biểu mô và mạch máu lớn
4
có thể bị tổn thương, máu chảy nhiều làm tăng khả năng lây nhiễm HIV cho
thai. Thành âm đạo, cổ tử cung của người mẹ, da và niêm mạc của trẻ sơ sinh
nhiễm. Tuy nhiên, còn ít số liệu về vấn đề này [60].
Số lượng tế bào CD4: Lượng CD4 thấp hoặc tỷ lệ CD4/CD8 giảm thấp có
liên quan đến việc tăng nguy cơ LTMC. [42]
1.3.2. Những yếu tố sản khoa/lâm sàng của người mẹ [16];[20];[37]
Giai đoạn lâm sàng: người mẹ ở giai đoạn AIDS hoặc giai đoạn cửa sổ có tỷ
lệ LTMC cao vì có tải lượng virut cao.
Đồng nhiễm các bệnh khác: đặc biệt là các bệnh lây truyền qua đường tình
dục làm tăng lượng HIV trong dịch tiết ở đường sinh sản cũng như các tổn
thương ở đường sinh sản, do đó có thể tăng nguy cơ LTMC.
Thiếu hụt vitamin A: có liên quan đến gia tăng lượng HIV trong các dịch ở
đường sinh sản và HIV huyết thanh, dẫn đến tăng tỷ lệ LTMC. Tuy nhiên,
một số nghiên cứu cho thấy việc bổ sung vitamin A nhìn chung không làm
giảm tỷ lệ này.
Sử dụng ma tuý/ hút thuốc lá/tình dục không an toàn với nhiều bạn tình: có
liên quan đến tăng tỷ lệ LTMC.
Tuổi người mẹ cũng là 1 yếu tố nguy cơ, đặc biệt ở những bà mẹ trẻ vị thành
niên. Hệ thống sinh sản của người vị thành niên vẫn chưa có sự phát triển đầy
đủ và hoàn chỉnh về giải phẫu - sinh lý, vì vậy đây là điều kiện thuận lợi cho
HIV lây truyền từ mẹ sang con [20]
Tuổi thai: Trẻ non tháng có nguy cơ nhiễm HIV từ mẹ cao hơn so với trẻ đủ
tháng.
6
Thời gian vỡ ối: Nguy cơ LTMC tăng tỷ lệ thuận với thời gian vỡ ối đến khi
sinh. Nguy cơ này tăng khoảng 2% cho mỗi giờ vỡ ối.
Viêm màng ối: làm tăng nguy cơ LTMC.
Các can thiệp sản khoa: bấm ối, sử dụng điện cực đặt da đầu thai nhi, cắt tầng
sinh môn, đặt forceps... đều có thể làm tăng sự phơi nhiễm của thai với HIV
hiện chăm sóc trước sinh và/hoặc các dịch vụ sản khoa.
Dự phòng phổ cập phải được áp dụng đối với tất cả phụ nữ có thai [72]
1.4.2. Tư vấn và xét nghiệm HIV
Tư vấn và xét nghiệm HIV là điểm khởi đầu cho các can thiệp phòng
lây truyền mẹ con. Cần tư vấn và xét nghiệm HIV cho tất cả các phụ nữ mang
thai trước, trong và sau sinh bằng các hình thức tư vấn khác nhau (tư vấn cá
nhân, tư vấn nhóm, tư vấn cho cặp vợ chồng…). Qua công tác tư vấn, các phụ
nữ mang thai được cung cấp các thông tin về HIV, tình dục an toàn cũng như
phòng lây truyền mẹ - con và các dịch vụ hỗ trợ khác [4];[64].
1.4.3. Sử dụng thuốc kháng virut
Cung cấp và hướng dẫn sử dụng thuốc ARV cho mẹ và con nhằm làm
giảm tải lượng virut HIV qua đó làm giảm nguy cơ lây truyền.
1.4.4. Thực hành sản khoa an toàn [7]
Tránh lấy máu từ đầu của thai nhi để phân tích pH, tránh lấy dịch bằng
ống cứng hoặc làm mạnh dẫn đến xước rách, tránh cạo vùng mu.
Tránh dùng các thủ thuật mạnh (vỡ ối nhân tạo, nội xoay thai, cắt tầng
sinh môn, forceps, giác hút...)
8
Làm vệ sinh âm đạo trong khi chuyển dạ và sinh bằng:Chlorua de
Benzalkonium hoặc Chlorhexidin 0.2%. Nhanh chóng lau máu và các chất
dịch tiết cho trẻ sơ sinh
Xử lý an toàn các vật sắc nhọn, nhau thai và các chất thải có khả năng
lây nhiễm.
Mổ lấy thai phải tuân thủ các chỉ định sản khoa và không được lạm
dụng. Tuy nhiên, tại một số cơ sở sản khoa lớn có thể chỉ định mổ lấy thai
trước chuyển dạ để làm giảm nguy cơ lây truyền HIV từ mẹ sang con.
1.4.5. Các dịch vụ hỗ trợ sau sinh
chuyển dạ và 1 tuần sau đẻ; trẻ uống AZT + 3TC trong 1 tuần và vẫn
được bú mẹ. Tỉ lệ LTMC ở thời điểm 6 tuần tuổi là 5,7% so với 15,3
ở nhóm không can thiệp [63].
Phác đồ nevirapin: NVP liều duy nhất lúc chuyển dạ cho mẹ; trẻ
uống NVP liều duy nhất trong vòng 72 giờ sau sinh và vẫn bú mẹ. Tỉ
lệ LTMC là 13,1% vào thời điểm 14 - 16 tuần tuổi so với 25,1% trong
nhóm chỉ dùng AZT cho trẻ trong 1 tuần sau khi sinh [46].
Phác đồ AZT + NVP: mẹ dùng AZT từ 36 tuần thai + liều duy nhất
NVP lúc chuyển dạ. Con uống NVP liều duy nhất + AZT 1 tuần sau
sinh, trẻ bú mẹ hoặc ăn thức ăn thay thế. Tỉ lệ LTMC ở thời điểm 6
tuần tuổi là 6,5% [48].
Phác đồ 3 thuốc: tỉ lệ LTMC từ 0 – 2%
Nhìn chung, các phác đồ phối hợp thường có tác dụng hơn phác đồ chỉ
có 1 loại thuốc ARV đơn độc, thời gian sử dụng thuốc càng dài hiệu quả dự
phòng càng cao. Tuy nhiên, những phác đồ đơn giản và ngắn hạn vẫn có ý
10
nghĩa ở những nơi nguồn lực còn hạn chế hoặc ở những phụ nữ có thai được
xác định nhiễm HIV muộn (giai đoạn cuối của thai kì, lúc chuyển dạ hoặc sau
sinh) [72];[74].
1.5.2. Phác đồ dự phòng lây truyền mẹ con đang áp dụng tại Việt Nam:
Các phác đồ PLTMC được xây dựng và áp dụng cho tới nay ở Việt
Nam đều dựa trên các bằng chứng khoa học sẵn có trên thế giới, được cập
nhật và sửa đổi theo từng thời kì, phần lớn dựa trên khuyến cáo của các tổ
chức quốc tế lớn như WHO, UNICEF…
Khi bắt đầu triển khai chương trình PLTMC ở Việt Nam, các phác đồ
ban đầu được dùng là AZT từ tuần thai thứ 36 hoặc SD-NVP cho mẹ và siro
NVP và AZT cho con [16]. Năm 2005, Bộ Y tế ban hành “Hướng dẫn chẩn
NVP 200mg + AZT 600mg
+ 3TC 150mg
Sau đó 12h một lần AZT
300mg + 3TC 150mg cho
NVP liều duy nhất 6mg
trong vòng 48h đầu sau
sinh và AZT 4mg/kg
uống ngày 2 lần trong 4
tuần sau khi sinh
đến khi đẻ
Sau đẻ
AZT 300mg + 3TC 150mg
ngày 2 lần trong 7 ngày
Phác đồ B (phác đồ bổ sung): AZT + 3TC + LPV/r
- Mẹ : uống hàng ngày từ tuần thai thứ 14 hoặc ngay khi phát hiện
nhiễm HIV sau tuần thai 14 cho đến khi sinh con. Nếu không cho
con bú sữa mẹ thì dừng uống, nếu cho con bú tiếp tục uống hàng
ngày đến sau cai sữa 1 tuần
- Con: AZT 4mg/kg uống ngày 2 lần trong 4 tuần sau sinh
1.6. Chương trình PLTMC trên thế giới và Việt Nam
1.6.1. Các yếu tố cần thiết của một chương trình phòng lây truyền HIV từ
mẹ sang con
Một chương trình PLTMC Quốc gia cần đồng thời 3 chiến lược là :
- Phòng lây nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ ở độ tuổi sinh sản
13
* Tại Thái Lan, năm 1998 đã thực hiện một dự án thí điểm về PLTMC
tại những bệnh viện lớn gồm tư vấn xét nghiệm tự nguyện (TVXNTN), chăm
sóc phụ nữ trước đẻ, điều trị Zidovudin (AZT) đơn giản từ tuần mang thai thứ
36 đến khi sinh, cung cấp sữa miễn phí cho trẻ đến 12 tháng tuổi. Từ 1998 –
2000, hơn 100.000 phụ nữ mang thai (PNMT) đến khám thai, xét nghiệm
HIV và khoảng 1% có HIV (+). Đến năm 2000, chương trình PLTMC triển
khai trên toàn quốc. Những yếu tố quan trọng quyết định thành công ở Thái
Lan là : Tiếp thị và quảng cáo chương trình TVXNTN; Cung cấp dịch vụ xét
nghiệm HIV cho phụ nữ trong quá trình mang thai và chuyển dạ; Sử dụng
phác đồ dự phòng bằng AZT; Cung cấp sữa thay thế cho trẻ sinh ra từ mẹ
nhiễm HIV; Lồng ghép chương trình PLTMC vào hệ thống cung cấp dịch vụ
sản khoa. Chương trình PLTMC đã giảm đáng kể số trẻ nhiễm HIV từ 0 – 4
tuổi: từ 1250 trẻ (1997) còn 680 trẻ (2001)[58]. Đến tháng 7/2001, Thái Lan
đã có 93% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ được TVXNTN ; 69% số PNMT
nhiễm HIV được sử dụng AZT và 80% được cung cấp thức ăn thay thế. Tỉ lệ
lây truyền HIV từ mẹ sang con đã giảm đáng kể từ 30% còn 10%.
* Tại Malaysia: chương trình PLTMC triển khai trên toàn quốc vào
năm 1998, gồm: TVXNTN, điều trị thuốc ARV cho mẹ và trẻ em sinh ra từ
mẹ nhiễm HIV, tư vấn cho cặp bạn tình, đã giảm tỉ lệ lây truyền HIV từ mẹ
sang con từ 25 -30 % xuống 4,06% (2003).
* Tại Ấn Độ: tháng 3/2000, một nghiên cứu tiến hành tại 11 trường đại
học Y khoa ở 5 bang có tỉ lệ nhiễm HIV cao nhất Ấn độ với hoạt động
TVXNTN, điều trị AZT ngắn hạn, cung cấp Acid Folic và Vitamin A, thực
hành cho con bú sữa mẹ. Trẻ sinh ra được theo dõi 18 tháng và được làm xét
ngiệm HIV bằng kỹ thuật PCR sau khi sinh 48 giờ, lúc 2 tháng tuổi. Đến
3/2001, có 150.000 PNMT đến TVXNTN, 77 % được làm xét nghiệm. Kết
khoảng 2000 - 2.500 trẻ em nhiễm HIV thậm chí có thể cao hơn. Vì vậy
PLTMC tại Việt Nam là một hoạt động quan trọng trong chương trình phòng,
15
chống HIV/AIDS Quốc gia. Tuy nhiên, đến năm 2005 vẫn chưa có một giải
pháp nào cụ thể và toàn diện cho chương trình PLTMC ngoài chương trình
Thông tin- Giáo dục- Truyền thông về HIV/AIDS. Năm 2000, Bộ Y tế xây
dựng một “Kế hoạch hành động” toàn diện về PLTMC với sự hỗ trợ của
nhiều tổ chức quốc tế. Kế hoạch này đề ra những mục tiêu lớn nhưng chưa
cân nhắc tới những hạn chế về nguồn lực. Chỉ có một số những Trung tâm sản
khoa tại các tỉnh/thành phố lớn đã huy động nguồn lực riêng hoặc tham gia
vào các chương trình thử nghiệm. Các bệnh viện Từ Dũ, Hùng Vương, BVPS
Trung ương , BVPS Hà Nội đều có phòng tư vấn HIV cho PNMT và việc tập
huấn PLTMC được tiến hành ở nhiều nơi nhưng hiểu biết chung của PNMT
và việc tập huấn PLTMC còn rất hạn chế. Điều trị dự phòng bằng thuốc ARV
là một nội dung được đưa vào trong những năm gần đây nhưng còn trong giai
đoạn thử nghiệm và thủ tục vào cung cấp thuốc cho các cơ sở còn phức tạp
ngay cả trong một số thử nghiệm lâm sàng. Có thể nói đến năm 2005, điều trị
PLTMC ở Việt Nam vẫn ở giai đoạn thử nghiệm, kinh nghiệm điều trị chưa
nhiều. Tuy nhiên đã đạt được một số kết quả nhất định, [24];[34].
- Quản lý, chỉ đạo: Tại Trung ương, Tiểu ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ
sinh thành lập từ năm 1995, BVPS Trung ương lập kế hoạch, hướng dẫn triển
khai, theo dõi đánh giá chương trình. Tại tuyến tỉnh, Tiểu ban Bảo vê bà mẹ
và trẻ sơ sinh thành lập trên cơ sở BVPS tỉnh hoặc khoa Sản bệnh viện đa
khoa tỉnh. Công tác PLTMC chủ yếu do ngành sản phụ khoa đảm nhận. Chính
phủ và Bộ Y tế đã ban hành nhiều văn bản về phòng, chống HIV/AIDS và
PLTMC. Ngày 17/3/2004 Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định
36/2004/QĐ- TTg về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng chống
HIV và trẻ bị bỏ rơi từ mẹ nhiễm HIV [2];[4];[31];[33].
- Khó khăn thách thức: Đến năm 2005, chưa có chế độ, chính sách cho
những PNMT nhiễm HIV có hoàn cảnh khó khăn, cho trẻ nhiễm HIV, trẻ
nhiễm HIV bị bỏ rơi. Các văn bản hướng dẫn triển khai chương trình PLTMC
17
chưa xác định cụ thể vai trò, trách nhiệm triển khai chương trình tại các cơ sở
y tế liên quan như các khoa sản, trung tâm kế hoạch hóa gia đình… Hoạt
động Thông tin- Giáo dục- Truyền thông thay đổi hành vi chưa cụ thể về
PLTMC, tài liệu truyền thông về PLTMC chưa được phổ biến rộng rãi. Phụ
nữ trong độ tuổi sinh đẻ thiếu kiến thức về PLTMC và các biện pháp dự
phòng. Kết quả khảo sát của Dự án Quỹ Toàn cầu thì chỉ 46,1% PNMT có
kiến thức về PLTMC. Một khảo sát do BVPS Trung ương và Vụ Bảo vệ bà
mẹ trẻ em thực hiện trên 300 PNMT đến khám thai tại các trung tâm y tế
huyện của 5 tỉnh có tỷ lệ nhiễm HIV ở PNMT tử 0,25%- 1,9% thì chỉ 14% có
kiến thức đầy đủ về PLTMC; 17% các bà mẹ tương lai biết HIV có thể lây
truyền vào lúc sinh nở và 9% biết HIV có thể lây truyền qua sữa mẹ khi cho
con bú [11];[55];[56]. Số PNMT được quản lý và số PNMT chỉ tới khám thai
trong ba tháng cuối trước khi sinh dẫn tới rất khó khăn trong công tác chẩn
đoán và điều trị PLTMC. Chương trình PLTMC chủ yếu được triển khai tại
các BVPS lớn, một số khoa sản của bệnh viện tuyến tỉnh hoặc tuyến quận
huyện trong các dự án có tài trợ cho hoạt động PLTMC. Các dịch vụ
TVXNTN chưa được thiết lập tại cấp phường xã cũng làm giảm số PNMT sử
dụng dịch vụ này. Tình trạng kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV
trong gia đình, cộng đồng, các cơ sở y tế tại một số nơi vẫn còn nặng nề. Đây
là những rào cản phụ nữ đến với các dịch vụ TVXNTN, từ chối xét nghiệm
HIV, không quay lại nhận kết quả xét nghiệm [25].Các nhân viên y tế thiếu
kiến thức về PLTMC, kỹ năng tư vấn về HIV cũng như kinh nghiệm trong
đến năm 2005, Bộ Y tế chủ yếu cung cấp Nevirapin cho các BVPS tuyến
trung ương và một số BVPS lớn ở Thanh Hóa, Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam
Định, TP HCM và Cần Thơ. Việc cấp thuốc chưa được tiến hành thường
xuyên và chưa đáp ứng được nhu cầu của các bệnh viện này. Từ năm 2000 2002, có 253/851 (29.7%) PNMT có HIV (+) sinh con tại 8 bệnh viện được
điều trị bằng ARV (điều trị ngắn ngày bằng AZT hay NVP trong khi sinh), và
19
chỉ có 39/253 (15%) số trẻ sơ sinh có mẹ được điều trị ARV được uống NVP.
Đặc biệt, không có siro AZT dành cho trẻ em, hơn nữa việc cung cấp NVP
còn hạn chế [1],[24]. Phần lớn các PNMT nhiễm HIV đều rất nghèo, không
đủ tiền mua sữa cho con. Chi phí mua sữa ăn thay thế sữa mẹ khoảng
300.000VNĐ/ tháng trong khi thu nhập trung bình chỉ có 500.000VNĐ/ tháng
(2000). Rất ít các cơ sở y tế cung cấp sữa ăn thay thế cho trẻ em, trừ phi
trong dự án có hạng mục PLTMC. Hệ thống chăm sóc và theo dõi các bà mẹ
nhiễm HIV và con của họ còn yếu. Nhiều bà mẹ nhiễm HIV cung cấp địa chỉ
sai (do sợ bị kỳ thị), gây khó khăn khi tiến hành các hoạt động chăm sóc và
theo dõi sau này. Nhiều người quay lại cơ sở y tế quận huyện gần nhà nhưng
có rất ít hoặc không có khả năng tới từng nhà bệnh nhân để tiếp tục chăm sóc
họ. Các gia đình đều được thông báo rằng con họ cần được xét nghiệm HIV
trong các tháng tiếp theo, tuy nhiên không có hỗ trợ hoặc hướng dẫn cụ thể
đối với xét nghiệm HIV cho trẻ sơ sinh. Thậm chí ngay khi có các quy định
dự phòng cho trẻ đến 18 tháng tuổi thì các quy định này cũng không được
tuân thủ [25]. Vì vậy, hiện chưa có số liệu đáng tin cậy về tỷ lệ lây truyền
HIV từ mẹ sang con tại Việt Nam.
Ngân sách hàng năm của chương trình quốc gia cho hoạt động PLTMC
còn hạn chế, từ 120- 810 triệu VNĐ/ năm (8000-54.000 USD/ năm). Năm
2000 ngân sách là 500 triệu đồng (34.000 USD) phần lớn trong số đó sử dụng
cho Thông tin - Giáo dục – Truyền thông. Ngoài nguồn ngân sách Chính phủ
21
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Phụ nữ mang thai nhiễm HIV đến sinh tại bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng
- Trẻ sinh ra từ các bà mẹ nhiễm HIV đến sinh tại bệnh viện Phụ Sản Hải
Phòng
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Thai phụ đến sinh tại bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng (hoặc sinh tại các cơ sở
sản khoa khác nhưng được chuyển tới BVPS HP trong vòng 48h đầu sau sinh)
từ tháng 01/01/2008 đến hết 31/12/2012
- Có xét nghiệm khẳng định HIV dương tính
- Có hồ sơ bệnh án sản khoa hoặc hồ sơ điều trị PLTMC con lưu trữ tại bệnh
viện
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Thai phụ không có bằng chứng xét nghiệm HIV dương tính hoặc kết quả xét
nghiệm không ghi danh
- Thai phụ có xét nghiệm sàng lọc HIV dương tính nhưng xét nghiệm khẳng
định âm tính
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu
Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng
Phòng khám ngoại trú Nhi, Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng
2.2.2. Thời gian nghiên cứu
- Từ tháng 01/2014 đến tháng 12/2014
23
- Lúc chuyển dạ
- Sau đẻ
Tuổi thai khi chuyển dạ:
- < 37 tuần
- Từ 37 – 42 tuần
- ≥ 42 tuần
Số lần sinh
- Con so
- Con rạ
Trọng lượng con khi sinh:
- < 2500g
- ≥ 2500g
Chỉ số Apgar của trẻ sinh từ mẹ nhiễm HIV
- < 7 điểm
- ≥ 7 điểm
Giai đoạn lâm sàng của các thai phụ nhiễm HIV sinh tại BVPS HP
Giai đoạn 1:
Không có triệu chứng
Hạch to toàn thân dai dẳng
Giai đoạn 2:
Sút cân mức độ vừa không rõ nguyên nhân (
Viêm phổi do Pneumocystis jiroveci (PCP)
Nhiễm Herpes simplex mạn tính (ở môi miệng, cơ quan
sinh dục, quanh hậu môn kéo dài hơn 1 tháng)
Nhiễm candida thực quản (hoặc khí quản, phế quản,
phổi)
Lao ngoài phổi
Sarcoma Kaposi
Bệnh do CMV ở võng mạc hoặc các cơ quan khác
Bệnh do Toxoplasma ở hệ thần kinh trung ương
Bệnh lý não do HIV
Bệnh do Cryptococcus ngoài phổi
Bệnh do MAC lan toả
Bệnh lý não chất trắng đa ổ tiến triển
Tiêu chảy mạn tính do Cryptosporidia hoặc Isospora
Bệnh do nấm lan toả
Nhiễm trùng huyết tái diễn
U lympho ở não hoặc u lympho non – Hodkin tế bào B
Ung thư cổ tử cung xâm nhập
Bệnh lý thận do HIV
Viêm cơ tim do HIV