HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ DỰ PHÒNG LÂY TRUYỀN HIV TỪ MẸ SANG
CON BẰNG PHÁC ĐỒ ĐƠN LIỀU VÀ ĐA LIỀU TÓM TẮT
Mục tiêu: Tỉ lệ phụ nữ mang thai nhiễm HIV ngày càng tăng dẫn đến tỉ lệ trẻ
sơ sinh bi phơi nhiễm từ mẹ cũng ngày càng tăng.
Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu 373 trường hợp thai phụ bi nhiễm HIV tại
2 Bệnh viện Hùng Vương và Từ Dũ từ 01/2005 đến 06/2007 được điều trị dự
phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con với 2 phác đồ. Nhóm 1được phát hiện
sớm, được tư vấn và điều trị với AZT+3TC+NFV/NVP từ tuần 36 đến sanh.
Nhóm 2 chỉ được phát hiện lúc vào chuyển dạ và điều trị với NVP liều duy
nhất trong chuyển dạ.
Kết quả tỉ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con ghi nhận ở nhóm 1 là 4,1%, nhóm
2 là 17,1%.
Kết luận: Nếu được phát hiện sớm và được điều trị với phác đố đa liều đem lại
kết quả tốt hơn rất nhiều, giảm lây nhiễm gấp 4 lần so với đơn liều.
Từ khóa: HIV, lây truyền từ mẹ sang con
ABSTRACT
EFFECTIVENESS OF PREVENTIVE THERAPY IN HIV PTMC
PROGRAM BETWEEN MULTI ARV REGIMEN AND SINGLE DOSE
REGIMEN
Nguyen Thi Kim Vien, Huynh Nguyen Khanh Trang
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 13 – Supplement of No 1 - 2009: 119 –
123
Objectives: The percentage of HIV positive infant increase because pregnant
women infected with HIV increase.
Methods: A retrospective study on 373 pregnant women infected with HIV
was done at Tudu hospital and Hung vuong hospital from 01/2005 to 06/2007.
Those women administrated with ARV were divided into regimen: Group I
was treated with AZT+3TC+NFV/NVP since 36 weeks of gestation. Group II
(9)
.
Tại Bệnh viện Từ Dũ năm 2003 tỉ lệ thai phụ nhiễm HIV là 0,47% đã tăng lên
0,59% vào năm 2006
(9)
. Như vậy số trẻ sơ sinh bị phơi nhiễm HIV từ mẹ ngày
càng tăng.
Theo kết quả nghiên cứu trên thế giới, nếu không được dự phòng thì tỉ lệ lây
truyền HIV từ mẹ sang con vào khoảng 30-40%. Do vậy để làm giảm tỉ lệ này
Bộ Y tế Việt Nam với sự thống nhất của Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Hoa
kỳ đã ban hành các phác đồ điều trị dự phòng giành cho đối tượng thai phụ
nhiễm HIV. Việc đánh giá kết quả của công tác điều trị dự phòng này là cần
thiết.
Mục tiêu nghiên cứu
1.Xác định tỉ lệ nhiễm HIV ở con khi dùng phác đồ AZT+3TC+NFV/NVP từ
tuần 36 và nhóm dùng chỉ một liều NVP trong chuyển dạ.
2. Tìm liên quan giữa tỉ lệ nhiễm HIV của con trong hai nhóm với tình trạng
mẹ: số lượng CD4, quan hệ tình dục, thời gian biết bệnh, tình trạng sản khoa và
nuôi con bằng sữa mẹ.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu được thực hiện tại bệnh viện Hùng Vương và bệnh
viện Từ Dũ từ 1/2005 đến 6/2007. Dựa vào hồ sơ bệnh án có sẳn chúng tôi đã
chọn 373 sản phụ vào nghiên cứu, được chia thành 2 nhóm.
Nhóm 1: tất cả sản phụ khám thai tại Bệnh viện Hùng Vương và Bệnh viện Từ
Dũ đã có chẩn đoán xác định nhiễm HIV theo qui định của Bộ Y Tế và được
điều trị dự phòng với phác đồ 3 thuốc AZT+3TC+NVP/NVP từ tuần 36 cho
đến khi kẹp rốn. Trẻ sơ sinh sẽ được uống xirô NVP 2mg/kg (tối đa 6mg) liều
duy nhất trong vòng 48 giờ đầu, sau đó xirô AZT+3TC+NVP 2mg/kg mỗi 6
giờ x 1 tuần.
Nhóm 2: tất cả sản phụ đến sanh con tại Bệnh viện Hùng Vương và Bệnh viện
KẾT QUẢ
Bảng 1. Đặc điểm dân số nghiên cứu
Đặc điểm
ARV 01
ARV 03
thuốc
n=184
(%)
thuốc
n=189
(%)
Tuổi 15-19 24 (13,3) 14 (7,1)
20-24 75 (41) 100 (53,1)
25-29 64 (34,9) 53 (28,3)
30-34 13 (7,2) 17 (9,2)
≥ 35 8 (3,6) 5 (2,3)
N
ội trợ 108 (58,7)
97 (51,3)
Buôn bán 25 (13,6) 31 (16,4)
Công nhân 31 (16,8) 23 (12,2)
Khác 20 (10,9) 38 (20,1)
Văn hóa≤ cấp 2 120 (65,2)
129 (68,3)
Văn hóa ≥ cấp 3 64 (34,80 60 (31,7)
1 con 109 (59,2)
cuối
152 (91,6)
102 (59)
* Số liệu là số ca (%)
Nhận xét:
Ở cả hai nhóm, phần lớn sản phụ thuộc độ tuổi từ 20 đến 24 (47%). Hơn một
nửa sản phụ không có khả năng độc lập về tài chánh: 55% làm nội trợ. Số còn
lại có thu nhập không ổn định, 15% là công nhân, 14,5% buôn bán. Về tình
trạng hôn nhân, hầu hết sản phụ có chồng lần 1 chiếm 91%. Đa số có học vấn
trung bình thấp từ cấp II trở xuống chiếm 66,8%. Có 64,9% sản phụ sanh con
so. Phần đông sản phụ chỉ có 1 bạn tình (85,5%) và không sử dụng bao cao su
trong lúc mang thai (94,1%). Về đặc điểm cuộc sanh: đa số sanh ngã âm đạo
chiếm 85,5% chỉ có 14,5% sanh mổ. Đa số là phát hiện trong 3 tháng cuối thai
kỳ.
Bảng 2. Tỉ lệ lây nhiễm HIV từ mẹ sang con
Lây
nhiễmHIV
U
ống ARV
03 thuốc
n (%)
U
ống ARV
01 thuốc
n (%)
Có 6 (4,1) 21 (17,1)
Không 142 (95,9) 102 (82,9)
Tổng cộng 148 (100) 123 (100)
RR = 4,17 (KTC 95%: 1,89 - 12,50), p = 0,0001
Bạn tình =1
24 212
1
(10,2) (89,8)
Bạn tình ≥ 2 3 (8,6)
32
(91,4)
Thai <37 tuần 0 7 (100) 1
Thai ≥ 37 tuần
27
(10,2)
237
(89,8)
<2.500 gr
2 (8) 23 (92) 0,73
Cân
nặng
bé
≥ 2.500
gr
25
(10,2)
221
(89,8)
Nhận xét: không thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỉ lệ lây truyền mẹ
(9)
cũng có nhận xét tương tự.
Trong báo cáo năm 2003 về tình trạng nhiễm HIV tại Bệnh viện Hùng Vương
của tác giả Vũ Thị Nhung
(5)
, phụ nữ nhiễm HIV làm nội trợ chiếm tỉ lệ khá cao
(70,75%), theo Trần Nhật Thăng
(9)
là 44,4%, Hồ Thị Ngọc
(6)
là 41,2%. Trong
nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ này là 49,9%. Về tình trạng hôn nhân, hầu hết
các sản phụ kết hôn lần đầu chiếm 91%.
Có tỉ lệ cao các sản phụ có trình độ học vấn trung bình thấp, từ cấp II trở xuống
chiếm 66,8%. Đa số sản phụ sanh con từ 1 đến 2 con. Trong đó con so cao nhất
chiếm 64, 9%. Về thời điểm phát hiện nhiễm HIV, có 74,9% phát hiện vào 03
tháng cuối thai kỳ, trong số đó chỉ được phát hiện khi vào chuyển dạ chiếm
59,8% (152/254). Có 2,9% phát hiện nhiễm bệnh HIV trước khi có thai nhưng
vẫn cố tình mang thai. Trong nghiên cứu này đa số trường hợp đối tượng thiếu
kiến thức về an toàn tình dục nên không sử dụng bao cao su trong thời gian
mang thai chiếm 94,1% Quan hệ tình dục là một trong những đường lây truyền
HIV/AIDS quan trọng, vì vậy người có quan hệ tình dục với hơn một bạn tình
và không an toàn tình dục sẽ có nguy cơ lây nhiễm rất cao. Kết quả của chúng
tôi có 85,5% sản phụ chỉ có 01 bạn tình. Tỉ lệ này thay đổi ở các nghiên cứu
trước đây, theo tác giả Trần Nhật Thăng
(9)
tỉ lệ này là 93,3%; tác giả Vũ Thị
Nhung
(5)
tỉ lệ 95,9%.,
. Sự khác biệt này có thể do tác
động của nhiều yếu tố: hệ miễn dịch (số CD4), giai đọan bệnh, tình trạng dinh
dưỡng. Ngoài ra còn có các yếu tố sản khoa bất lợi như chuyển dạ kéo dài, ối
vỡ sớm, thai non tháng, nhẹ cân, cách sanh (sanh mổ, sanh thường, sanh giúp),
có sang chấn lúc sanh và kể cả trẻ có được nuôi ăn bằng sữa thay thế hoàn toàn
hay không. Bên cạnh đó cũng có thể là do sự khác biệt về đặc điểm dân số
nghiên cứu và cỡ mẫu.
Qua bảng 3 chúng tôi không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỉ
lệ lây truyền mẹ con với tình trạng sản khoa như cách sanh, tuổi thai, cân nặng
thai nhi, tình trạng ối vở sớm cũng như với tỉnh trạng miễn dịch của mẹ qua số
lượng tế bào CD4 và số bạn tình. Điều này khác với kết quả của các nghiên cứu
khác
(7)
. Để có kết luận chính xác hơn cần có thêm nhiều nghiên cứu khác với
cỡ mẫu lớn hơn.
Trong nghiên cứu chúng tôi có 102 trường hợp mất dấu, trong đó mất dấu lúc 2
tháng 98 trường hợp và 4 trường hợp mất dấu lúc 6 tháng. Có 57,8% trường
hợp mất dấu có địa chỉ không thật, số điện thọai không rõ ràng. Thường xảy ra
ở các sản phụ thuộc đối tượng nhập cư. Lý do mất dấu hàng thứ 2 chiếm 20,5%
là sau khi xuất viện trẻ được chuyển tiếp theo nguyện vọng của gia đình để
được theo dõi tại các cơ sở phòng lây truyền mẹ con (ở 6 quận cụm: 2, 4, 8, 10,
Bình Thạnh, Hóc Môn và ở 10 quận không cụm: 1, 7, 9, 11, 12, Thủ Đức, Bình
Tân, Tân Phú, Nhà Bè, Củ Chi). Để khắc phục, cần có sự phối hợp chặt chẽ
hơn giữa các cơ sở phòng lây truyền mẹ con này. Lý do kế đến là do nhà xa
chiếm 15,9%. Sau sanh mẹ và trẻ về quê sống nên việc theo dõi khó thực hiện.
Do rất khó quản lý các đối tượng nhiễm HIV nên mất dấu là một khó khăn rất
lớn hiện nay trong chương trình phòng chống HIV/AIDS nói chung và phòng
lây truyền mẹ con nói riêng. Đây là một hạn chế khó tránh khỏi trong nghiên
cứu này.
KẾT LUẬN