Đánh giá khả năng sinh trưởng của giống gà CP707 nuôi tại xã Phùng Châu Huyện Chương Mỹ Hà Nội - Pdf 34

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

HOÀNG VĂN CHINH
Tên đề tài :
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƢỞNG CỦA GIỐNG GÀ CP707
NUÔI TẠI XÃ PHÙNG CHÂU HUYỆN CHƢƠNG MỸ HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:
Chuyên ngành:
Khoa:
Khóa học:

Chính quy
Chăn nuôi thú y
Chăn nuôi thú y
2011 – 2015

Thái Nguyên , năm 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

HOÀNG VĂN CHINH
Tên đề tài :
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƢỞNG CỦA GIỐNG GÀ CP707
NUÔI TẠI XÃ PHÙNG CHÂU HUYỆN CHƢƠNG MỸ HÀ NỘI


Hòa đã trực tiếp hƣớng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong
suốt quá trình thực tập tốt nghiệp.
Cuối cùng em xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, ngƣời
thân và bạn bè đã động viên, giúp đỡ em hoàn thành tốt việc học tập, nghiên
cứu của mình trong suốt quá trình học vừa qua.
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày 06 tháng 06 năm 2014
Sinh viên

Hoàng Văn Chinh


ii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm ................................................................... 23
Bảng 2.2: Chế độ dinh dƣỡng của gà thí nghiệm............................................ 24
Bảng 4.1. Lịch dùng vắc xin cho đàn gà thịt .................................................. 31
Bảng 4.2: Kết quả công tác phục vụ sản xuất ................................................ 33
Bảng 4.3: Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi ..................... 35
Bảng 4.4: Sinh trƣởng tích lũy của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi .............. 36
Bảng 4.5: Sinh trƣởng tuyệt đối của gà thí nghiệm (g/con/ngày) ................... 38
Bảng 4.6: sinh trƣởng tƣơng đối của gà thí nghiệm (%) .......................... 39
Bảng 4.7: Tiêu tốn thức ăn/ kg tăng khối lƣợng của gà (kg) .......................... 41
Bảng 4.8: Tiêu tốn Protein/ kg tăng khối lƣợng của gà khảo nghiệm (g/kg) . 42
Bảng 4.9: Tiêu tốn năng lƣợng trao đổi / kg tăng khối lƣợng (Kcal/ ME) ..... 43
Bảng 4.10: Chi phí trực tiếp cho kg tăng khối lƣợng của gà
khảo nghiệm (đ/kg) ......................................................................................... 44
Bảng 4.11: Chỉ số sản xuất của gà khảo nghiệm ............................................ 44


SS

Sơ sinh



Thức ăn

TN

Thí nghiệm

TT

Tuần tuổi

TTTĂ

Tiêu tốn thức ăn


v

MỤC LỤC
Phần 1. MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2.Mục đích của đề tài : ................................................................................... 1
1.3. Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................... 2
1.4.Ý nghĩa khoa học và Ý nghĩa thực tiễn của đề tài ...................................... 2
Phần 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ............................................................ 3

5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 46


1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam là một nƣớc nông nghiệp, ngoài trồng trọt, ngành chăn nuôi
giữ vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển nền kinh tế của đất nƣớc.
Xu hƣớng phát triển nông nghiệp theo con đƣờng thâm canh công nghiệp hoá
đang diễn ra mạnh mẽ. Đặc biệt là ngành chăn nuôi gia cầm đƣợc quan tâm
hàng đầu vì nó có khả năng đáp ứng nhanh một lƣợng lớn thực phẩm có giá
trị dinh dƣỡng cao cho nhu cầu xã hội trong thời gian ngắn.
Xã hội phát triển, nhu cầu cuộc sống của ngƣời dân ngày một nâng cao,
cho nên thực phẩm có chất lƣợng cao đang đƣợc quan tâm chú ý rất nhiều
của ngƣời tiêu dùng. Trƣớc tình hình đó, đòi hỏi ngành chăn nuôi nói chung
và ngành chăn nuôi gia cầm nói riêng cần phải có những bƣớc phát triển mới
về công tác giống, kỹ thuật chăm sóc nuôi dƣỡng mới có thể đáp ứng đƣợc
yêu cầu về thực phẩm ngày càng khắt khe của ngƣời tiêu dùng.
Trƣớc thực tế đó, từ những năm 1992 – 1997 nƣớc ta đã nhập một số
giống gà có năng suất cao, chất lƣợng thịt, trứng tốt hợp thị hiếu ngƣời tiêu
dùng và thích hợp với điều kiện nuôi bán công nghiệp nhƣ gà Kabir của
Isarel, gà Tam Hoàng, Lƣơng Phƣợng của Trung Quốc... Bên cạnh đó ta còn
nhập giống gà chuyên thịt: CP707 cho năng suất thịt cao chất lƣợng thịt tốt
nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của ngƣời tiêu dùng.
Vì vậy, để có thêm cơ sở khoa học cho việc đánh giá khả năng sinh
trƣởng phát triển của gà thịt CP707, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh
giá khả năng sinh trưởng của giống gà CP707 nuôi tại xã Phùng Châu
Huyện Chương Mỹ Hà Nội”

tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dƣỡng. Khối lƣợng rất lớn các chất tiêu hóa
đi qua ống tiêu hóa thể hiện tốc độ và cƣờng độ của các quá trình tiêu hóa ở
gà, vịt, ở gà còn non tốc độ là 30 – 39 cm/giờ, gà con lớn hơn là 32 – 40
cm/giờ, và ở gà trƣởng thành là 40 – 42 cm/giờ, chất tiêu hóa đƣợc giữ lại
trong ống tiêu hóa không quá 2 – 4 giờ.
Cơ quan tiêu hóa gia cầm bao gồm: khoang miệng, hầu, thực quản trên,
diều, thực quản dƣới, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, manh tràng, trực
tràng và lỗ huyệt, đồng thời có sự tham gia của gan và tuyến tụy. Sự hình
thành cơ quan tiêu hóa ở dạng nếp gấp của phôi gà bắt đầu từ ngày ấp thứ 2
(tức sau 24h), ở ngỗng và vịt bắt đầu sau khi ấp 30-60 giờ.
* Tiêu hóa ở miệng
Gia cầm mổ thức ăn bằng mỏ, một phút mổ 180 - 240 lần, lúc đói mổ
nhanh, mỏ mở rộng. Mặt trên lƣỡi có răng rất nhỏ hóa sừng, hƣớng về cổ
họng để đƣa thức ăn về phía thực quản - thị giác và xúc giác kiểm tra tiếp
nhận thức ăn, còn vị giác và khứu giác kém hơn.
Tuyến nƣớc bọt kém phát triển, thành phần chủ yếu là dịch nhầy. Nƣớc
bọt có tác dụng thấm trơn thức ăn thuận tiện cho việc nuốt. Trong nƣớc bọt có
chứa một số ít men amylaza nên có ít tác dụng đối với tiêu hóa. Gà mái có thể


4

tiết 7 - 25ml nƣớc bọt trong một ngày đêm (bình quân khoảng 12ml) (Nguyễn
Duy Hoan và cs, 1998 [4]). Thức ăn vào diều, khi đói theo ống diều vào thẳng
dạ dày, không giữ lại lâu ở diều.
* Tiêu hóa ở diều
Diều gà hình túi ở thực quản chứa đƣợc 100 - 120mg thức ăn. Giữa các
cơ thắt lại có ống diều để khi gà đói, thức ăn đi thẳng vào phần dƣới của thực
quản và dạ dầy không qua túi diều.
Ở diều thức ăn đƣợc làm mềm, quấy trộn và tiêu hóa từng phần do các

thích hợp cho sự hoạt động của các men phân giả protein và glucid. Sỏi và
các dị vật trong dạ dày làm tăng tác động nghiền của vách dạ dày. Tốt nhất
nên cho gà ăn sỏi thạch anh vì không bị phân hủy bởi Acid Chlohydric.
* Tiêu hoá ở ruột
Ruột non của gia cầm có đầu trên giáp với dạ dày cơ, đầu dƣới giáp với
manh tràng. Ruột già của gia cầm không phát triển, nó do trực tràng thô ngắn
và hai manh tràng đổ vào đoạn đầu trực tràng tạo thành.
Quá trình cơ bản phân tích men từng bƣớc các chất dinh dƣỡng đều
đƣợc tiến hành chủ yếu ở ruột non. Thành ruột cũng có lớp nhung mao nhăn
nheo. Các tuyến tiêu hóa phân bố dọc thành niêm mạc ruột.
Dịch ruột gà lỏng, đục, kiềm tính, pH = 7,42 với độ đặc 1.0076 và chứa
các men proteolyse, amonlitic, lypolitic và enterokinaza.
Dịch tuyến tụy - pancreatic - lỏng, không màu, hơi mặn, có phản ứng
hơi toan hoặc kiềm (pH = 6 ở gà, pH = 7,2 -7,5 ở gia cầm khác). Dịch này có
men tripsin, carboxi peptidaza, mantaza và lipaza. Trong các chất khô của
dịch này có các acid amin, lipid và các chất khoáng CaCl2, NaCl, NaHCO3…
Gà một năm tuổi, lúc bình thƣờng tuyến tụy tiết ra 0,4 - 0,8ml/giờ, sau
khi 5 - 10 phút lƣợng tiết tăng gấp 3-4 lần, giữ cho đến giờ thứ 3, rồi giảm
dần. Thành phần thức ăn có ảnh hƣởng đến quá trình tiết dịch men của tụy:


6

thức ăn giàu protein nâng hoạt tình proteolyse lên 60%, giàu lipid tăng hoạt
tính của lypolitic,…..
Mật của gia cầm đƣợc tiết liên tục từ túi mật vào đƣờng ruột, lỏng màu
sáng hoặc xanh đậm, tính kiềm, pH =7,3 - 8,5.
Mật có vai trò đa dạng trong quá trình tiêu hóa của gia cầm, gây nên
nhũ tƣơng mỡ, hoạt hóa các enzym tiêu hóa của dịch tụy, kích thích làm tăng
nhu động ruột, tạo điều kiện hấp thu các chất dinh dƣỡng đã đƣợc tiêu hóa,

toàn bộ cơ thể của con vật trên cơ sở tính di truyền của đời trƣớc”.
Về mặt giải phẫu học thì gà là một loại gia cầm (có lông vũ) với nhƣợc
điểm bộ máy tiêu hóa không có răng, hệ thống bài tiết không có đƣờng tiết
niệu riêng, ở dƣới da không có tuyến mồ hôi.
Về hoạt động sinh lý, gà chịu nóng kém (do sự thoát nƣớc để điều chỉnh
nhiệt độ của cơ thể kém), có thân nhiệt cao hơn các loài động vật có vú 0,5-10C.
Tuy không có răng, nhƣng gà có một dạ dày cơ (mề) rất khỏe đủ để
nghiền bóp mọi loại thức ăn thông thƣờng, ngoài ra hệ thống men tiêu hóa lại
rất phát triển nên vận tốc tiêu hóa ở gà rất lớn. Điều này đƣợc thể hiện ở việc
gà ăn rất khỏe.
Từ những đặc điểm trên, gà có một tiềm năng sinh vật rất lớn (đẻ nhiều,
lớn nhanh...). Do vậy, gà có những thế mạnh và điểm yếu nhất định.
Điểm mạnh là hiệu suất chuyển hóa thức ăn thành sản phẩm ở gà rất lớn:
một gà mái có thể sản sinh ra một lƣợng sản phẩm (trứng) nặng gấp 8 lần cơ thể
của nó trong vòng 12 tháng (trong khi muốn đạt đƣợc điều này lợn nái cần 40
năm, bò cái cần 80 năm), một gà thịt đạt khối lƣợng cơ thể gấp 50 lần khối lƣợng
sơ sinh chỉ sau 8 tuần lễ (con số này ở lợn là 20 lần trong 26 tuần, ở bò là 6-7 lần
trong 52 tuần...). Nhƣ vậy, tiềm năng về sức sản xuất ở gà là rất lớn.
Điểm yếu: một là không có tuyến mồ hôi, lớp mỡ dày, thân nhiệt cao
nên gà chỉ thích hợp với những nơi, những lúc nhiệt độ thấp, gà chịu rét tốt


8

nhƣng chịu nóng rất kém. Hai là có cƣờng độ trao đổi vật chất rất cao nên gà
rất mẫn cảm với các bệnh về dinh dƣỡng và thời tiết, khí hậu.
* Những yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của gà thịt
Cũng nhƣ các loài động vật khác, khả năng sinh trƣởng của gà chịu ảnh
hƣởng của những yếu tố sau:
- Nhân tố di truyền, giống:

- Ảnh hưởng của môi trường và kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng:
+ Nhiệt độ: Theo H.Neumeister (1978) [19] cho biết: các yếu tố môi
trƣờng nhƣ quá nóng, quá lạnh, ẩm độ cao hay quá thấp, mật độ chuồng nuôi
quá đông, độ thoáng khí kém, sẽ gây tác động xấu đến quá trình sinh trƣởng
của gia cầm.
+ Chế độ chiếu sáng: Theo Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998)
[3] thì với gà broiler giết thịt sớm (38-42 ngày tuổi) thời gian chiếu sáng nhƣ
sau: 3 ngày đầu 24/24h, cƣờng độ chiếu sáng 20lux, ngày 4 đến kết thúc thời
gian chiếu sáng giảm còn 23/24h cƣờng độ chiếu sáng 5lux.
+ Mật độ nuôi nhốt cũng ảnh hƣởng tới khả năng sinh trƣởng của gia cầm.
Theo Nguyễn Đình Vinh (2000) [17] tiến hành nuôi gà Mía lai Lƣơng Phƣợng
theo phƣơng thức chăn thả và nuôi trên lƣới sắt thấy rằng gà nuôi trên lƣới sắt
(lúc 63 ngày tuổi) cao hơn hẳn khối lƣợng gà nuôi theo phƣơng thức chăn thả,
tăng 24,6 % - 43,5 % với gà trống và 35,5 % - 44,6 % với nhóm gà mái.
Tóm lại trong chăn nuôi gia cầm, đặc biệt với các giống gà địa phƣơng
thì sinh trƣởng của chúng phụ thuộc rất lớn vào điều kiện môi trƣờng và kỹ
thuật chăm sóc. Tốc độ sinh trƣởng của gia cầm không đạt mức tối đa nhƣ giá
trị giống của chúng nếu điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật nuôi dƣỡng không
phù hợp.


11

2.1.3. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu sự di truyền của các tính trạng ở
gia cầm
Khi nghiên cứu các tính trạng sản xuất của gia cầm, các nhà khoa học
không những nghiên cứu về đặc điểm di truyền mà còn nghiên cứu đến các
yếu tố ngoại cảnh tác động lên tính trạng đó.
Theo quan điểm di truyền học thì hầu hết các tính trạng về năng suất của
gia cầm nhƣ: sinh trƣởng, sinh sản, cho lông, cho trứng, cho thịt…đều là

thị theo công thức sau:
G = A+ D + I
Trong đó:

G là giá trị kiểu gen
A là giá trị cộng gộp
D là giá trị sai lệch trội
I là giá trị sai lệch tƣơng tác.

Trong đó giá trị cộng gộp (A) là do giá trị giống qui định, là thành phần
quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác định đƣợc và di truyền lại
cho thế hệ sau, có ý nghĩa trong chọn dòng thuần, là cơ sở cho việc chọn giống.
Hai thành phần sai lệch trội (D) và tƣơng tác gen (I) cùng có vai trò
quan trọng, là giá trị giống đặc biệt chỉ có thể xác định đƣợc thông qu a
con đƣờng thực nghiệm. D và I không di truyền đƣợc và phụ thuộc vào vị
trí và sự tƣơng tác giữa các gen. Chúng là cơ sở của việc lai giống. Đồng
thời tính trạng số lƣợng cũng chịu ảnh hƣởng của môi trƣờng chung và
môi trƣờng riêng:
- Sai lệch môi trƣờng chung (General environmental) (Eg) là sai lệch
do các yếu tố tác động lên toàn bộ các cá thể trong nhóm vật nuôi. Loại này
có tính chất thƣờng xuyên không cục bộ nhƣ: thức ăn, khí hậu…do vậy đó là
sai lệch giữa các nhóm, giữa các cá thể và giữa các thành phần khác nhau trên
một cơ thể.
- Sai lệch môi trƣờng riêng (Environmental deviation) (Es) là các sai
lệch do các yếu tố môi trƣờng tác động riêng rẽ lên từng nhóm cá thể vật nuôi
hoặc một giai đoạn nào đó trong đời một con vật hay các phần khác nhau của


13



hƣởng không những của kiểu di truyền mà còn ở ngoại cảnh nhất định. Nói cách
khác mức độ ƣu thế lai cao hay thấp còn tùy thuộc vào sự tƣơng quan âm hay
dƣơng (Trần Huê Viên, 2001 [16]).
 Bản chất di truyền học của ưu thế lai
Trong chăn nuôi, để nâng cao năng suất có rất nhiều con đƣờng khác
nhau, trong đó có việc cải tiến bản chất di truyền luôn đƣợc các nhà khoa học
quan tâm.
Tìm hiểu về bản chất của ƣu thế lai có rất nhiều giả thuyết khác nhau.
Theo Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện (1995) [12], có 3 thuyết chính để
giải thích hiện tƣợng ƣu thế lai: Thuyết trội, thuyết siêu trội và thuyết gia tăng
tác động của các gen không cùng lô cút.
Thuyết trội:
Theo thuyết này trong điều kiện chọn lọc lâu dài các gen trội phần lớn
là các gen có lợi và lấn át sự hoạt động của các gen lặn, do đó qua tạp giao có
thể đem các gen trội của hai bên bố mẹ tổ hợp lại ở đời lai, làm cho đời lai có
giá trị hơn bố mẹ (AA =Aa > aa). Theo Kushner K.F (1969) [20], nhờ tác
dụng lâu dài của chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo gen trội thƣờng là
gen có ích, đƣợc biểu hiện ra kiểu hình của sinh vật. Biểu hiện kiểu hình của
con lai là do các gen quy định, các gen này chính là sự tổ hợp các gen của bố
mẹ. Các gen trội có thể biểu hiện thành kiểu hình, có thể ức chế các gen lặn
tƣơng ứng tạo ra tác dụng lẫn nhau làm tăng các đặc điểm trội lên, các gen lặn
bao giờ cũng bị che lấp, còn gen trội khi lai sẽ có tác động mạnh hơn nên biểu
hiện ra kiểu hình có năng suất cao hơn.
Các tính trạng số lƣợng nhƣ khả năng sinh trƣởng, khả năng sinh sản…
đƣợc nhiều gen điều khiển nên rất hiếm các gen đồng hợp tử. Thế hệ con đƣợc
tạo ra do lai giữa hai cá thể sẽ đƣợc biểu hiện do tất cả các gen trội, trong đó một
nửa thuộc gen trội đồng hợp tử của bố và một nửa gen trội của mẹ.



16

Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khanh Quắc (1988) [14] nêu thuyết gia
tăng tác động tƣơng hỗ. Thuyết này cho rằng sự tác động tƣơng hỗ của các
gen không cùng lô cút (tác động át gen) cũng tăng lên.
Ví dụ: đồng hợp tử AA và BB chỉ có một tác động tƣơng hỗ giữa A và
B. Nhƣng trong dị hợp tử AA’ và BB’ có 6 loại tác động tƣơng hỗ: A-B, A’B’, A-B’, A’-B, A-A’, B-B’ (trong đó A-A’, B-B’ là tác động tƣơng hỗ giữa
các gen cùng alen; còn 4 loại tác động A-B, A’-B’, A-B’, A’-B là tác động
tƣơng hỗ giữa các gen không cùng alen). Ngoài ra còn có tác động tƣơng hỗ
cấp 2 nhƣ: A-A’-B, A-A’-B’… và tác động tƣơng hỗ cấp 3 nhƣ: A-A’-B’-B,
A-B-B’-A’…
Ƣu thế lai biểu hiện ở các mức độ khác nhau của các tính trạng khác
nhau: các tính trạng số lƣợng thƣờng đƣợc thể hiện, các tính trạng chất lƣợng
ít đƣợc thể hiện. Các tính trạng có hệ số di truyền thấp thì hiệu quả chọn lọc
thuần chủng thấp, còn hiệu quả lai tạo lại cao, các tính trạng có hệ số di
truyền cao thƣờng có ƣu thế lai thấp.
Ƣu thế lai còn phụ thuộc vào khả năng phối hợp của các cặp bố mẹ.
Khi nghiên cứu về khả năng phối hợp Lebedev M.N (1972) [21] cho rằng
muốn đạt ƣu thế lai siêu trội thì phải cho giao phối giữa các dòng gà xuất phát
khác nhau về kiểu gen nhƣng lại có khả năng phối hợp với nhau tốt.
Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đƣờng (1992) [7] cho biết mức độ biểu
hiện của ƣu thế lai cao hay thấp còn phụ thuộc vào sự tƣơng quan âm hay
dƣơng giữa môi trƣờng và kiểu di truyền.
Khi nghiên cứu về ƣu thế lai, nhiều nhà khoa học cho rằng ngoài quan
niệm khả năng kết hợp chung còn có khả năng kết hợp đặc biệt, khả năng này
có đƣợc là do đặc tính của dòng bố mẹ đƣợc chọn đã có từ trƣớc.


17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status