Hoàng Thành Thăng Long
Chùa Mía
Tìm hiểu giá trị văn hóa và kiến trúc của Hoàng
Thành Thăng Long
1. Giá trị văn hóa
Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long- Hà Nội là di tích có bề dày lịch
sử, trải dài hơn 10 thế kỷ, kể từ thành Đại La tiền Thăng Long và nhất là từ thời
vua Lý Thái Tổ (thế kỷ thứ X) đến thời đại Hồ Chí Minh. Khu di tích trung tâm
Hoàng thành Thăng Long- Hà Nội có diện tích 18.395 m 2, bao gồm Khu di tích
Thành cổ Hà Nội và di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu (phường Điện Biên,
phường Quán Thánh, quận Ba Đình).
Đây là công trình kiến trúc đồ sộ, được các triều vua xây dựng trong
nhiều giai đoạn lịch sử và trở thành di tích quan trọng bậc nhất trong hệ thống
các di tích Việt Nam. Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long là di tích có giá
trị văn hóa đặc biệt quan trọng:
Tại đây có các di tích trên mặt đất rất quí giá như: nền điện Kính thiên,
Đoan Môn, Bắc Môn, cột cờ Hà Nội, rồi Tổng hành dinh của Quân đội nhân
dân Việt Nam của thời đại Hồ Chí Minh. Hệ thống các di tích và hiện vật đã
khai quật tại di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu càng cho chúng ta thấy trong
lòng đất ở khu vực này chứa đựng một dòng chảy văn hoá chảy suốt cả lịch sử
Thăng Long- Hà Nội, bao gồm cả thời kỳ tiền Thăng Long ngược lên thành Đại
La thế kỷ thứ VII cho đến thế kỷ thứ VIII, thứ IX, đặc biệt từ khi Vua Lý Thái
Tổ định đô Thăng Long cho đến ngày nay. Như vậy giá trị đầu tiên của Khu
trung tâm Hoàng thành Thăng Long- Hà Nội thể hiện ở chỗ nó gần như là một
"bộ lịch sử sống" chảy suốt theo cả chiều dài lịch sử Thăng Long- Hà Nội.
1
2
Hoàng Thành Thăng Long
Chùa Mía
Phạm vi di sản thế giới được công nhận là 20 ha (trên tổng số 140 ha của
Hoàng thành) gồm khu khảo cổ ở số 18 đường Hoàng Diệu và khu vực được
giới hạn bởi 4 tuyến đường Điện Biên Phủ, Nguyễn Tri Phương, Phan Đình
Phùng và Hoàng Diệu. Các di tích tiêu biểu của khu di tích:
Khu khảo cổ 18 Hoàng Diệu
Di tích này bao gồm tầng dưới cùng là một phần bên phía đông của thành
Đại La dưới thời Cao Biền, nhà Đường, tầng trên là cung điện nhà Lý và nhà
Trần, tiếp theo là một phần trung tâm của đông cung nhà Lê và trên cùng là một
phần của trung tâm tòa thành tỉnh Hà Nội thế kỷ 19.
Một phần của khu di tích 18 Hoàng Diệu
Kiến giải của các nhà khảo cổ về một số phế tích ở đây chỉ là những nhận định
ban đầu. Tuy chưa thể khẳng định về quy mô và công năng của tất cả các công
trình nhưng rõ ràng các phế tích này cho thấy một quần thể kiến trúc toà ngang
dãy dọc khá phong phú. Dung mạo của một bộ phận Hoàng Thành Thăng Long
xưa đã hiển hiện qua dấu vết vật chất chứ không chỉ là hình ảnh của sách vở,
chữ nghĩa. Cùng những phát hiện quan trọng về các dấu tích kiến trúc, một số
lượng lớn đồ gốm sứ là những vật dụng dùng hàng ngày trong Hoàng cung qua
nhiều thời kỳ cũng được tìm thấy. Những khám phá này đã thực sự mở ra một
cánh cửa mới cho việc nghiên cứu về gốm Thăng Long và gốm dùng trong
Hoàng cung Thăng Long qua các triều đại.
3
Chùa Mía
Đoan Môn
Đoan Môn là cửa vòm cuốn dẫn vào điện Kính Thiên. Đoan Môn gồm năm
cổng xây bằng đá, phía ngoài là cửa Tam Môn khoảng 1812 - 1814, triều
Nguyễn Gia Long phá, xây Cột Cờ (nay vẫn còn sừng sững). Năm 2002, giới
khảo cổ học Việt Nam được phép đào phía trong Đoan Môn đã tìm thấy “lối
xưa xe ngựa” thuộc thời Trần, dùng lại nhiều gạch Lý. Nếu khai quật tiếp, sẽ có
thể thấy cả con đường từ Đoan Môn đến điện Kính Thiên ở phía Bắc và cửa Tây
Nam thành Hà Nội.
Điện Kính Thiên
Điện Kính Thiên là di tích trung tâm, là hạt nhân chính trong tổng thể các địa
danh lịch sử của thành cổ Hà Nội. Điện Kính Thiên chiếm vị trí trung tâm của
khu di tích. Trước điện Kính Thiên là Đoan Môn rồi tới Cột Cờ Hà Nội, phía
sau có Hậu Lâu, Cửa Bắc, hai phía đông và tây có tường bao và mở cửa nhỏ.
Dấu tích điện Kính Thiên hiện nay chỉ còn là khu nền cũ. Phía nam nền điện
còn có hàng lan can cao hơn một mét. Mặt trước, hướng chính nam của điện
Kính Thiên xây hệ thống bậc lên bằng những phiến đá hộp lớn. Thềm điện gồm
10 bậc, 4 rồng đá chia thành 3 lối lên đều nhau tạo thành thềm rồng. Bốn con
rồng đá được tạo tác vào thế kỷ 15 thời nhà Lê. Điêu khắc rồng đá điện Kính
Thiên là một di sản kiến trúc nghệ thuật tuyệt tác, tiêu biểu cho nghệ thuật điêu
khắc thời Lê sơ. Được chạm trổ bằng đá xanh, rồng đá có đầu nhô cao, đầu to,
5
Hoàng Thành Thăng Long
Chùa Mía
Phòng họp Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương trong hầm ngầm D67
Khu hầm lớn nhất nằm dưới khoảng sân nối giữa điện Kính Thiên và nhà D67
dành cho Bộ Chính trị và Quân ủy trung ương gọi là hầm D67. Hai đường dẫn
xuống hầm bắt nguồn từ hai phòng làm việc của tướng Giáp và tướng Dũng
trong nhà D67, đường hầm rộng 1, 2m, có 45 bậc thang bêtông, trát đá granite.
Đi sâu xuống 10m là hệ thống văn phòng của tổng hành dinh ngầm gồm bốn
phòng rộng 50m2, chung một hành lang bên phải. Phòng họp hình chữ nhật toàn
khối, nền lát gạch, có một cửa ra vào. Các phòng bên dành cho ban thư ký và
phòng để máy móc, điện đài. Cuối cùng là phòng chứa hệ thống thông hơi, lọc
khí đồ sộ chạy điện được chế tạo tại Liên Xô. Các lối lên xuống của hai đường
hầm và cửa ra vào có tới sáu cửa thép sơn xanh dày 12cm, có nhiều tay nắm và
hệ thống gioăng cao su có thể ngăn nước và khí độc.
Toàn bộ hệ thống hầm ngầm đều liên hoàn đường điện máy phát. Hệ thống
thông tin, liên lạc, hậu cần, lương thực… đều đầy đủ. Đầu ra của hai cửa hầm
này dẫn lên phòng làm việc của hai đại tướng tại nhà con rồng. Ngoài hệ thống
hầm ngầm này, khu A thành cổ còn nhiều hệ thống hầm ngầm khác. Riêng
7
Hoàng Thành Thăng Long
Chùa Mía
những bộ phận đã được bàn giao cho ban quản lý thành cổ là bốn khu hầm.
Ngoài hầm của Bộ Chính trị vừa nói còn có hầm trước cửa nhà “con rồng”
(dưới nền điện Kính Thiên), hầm gần khu làm việc của Cục Tác chiến và hầm
của Ban cơ yếu có qui mô nhỏ hẹp, đơn giản hơn nhưng cũng chống được bom
và tên lửa hạng nặng.
Thượng tướng Lê Ngọc Hiền cho biết: những năm 1965- 1966 Mỹ bắn phá
Cửa Bắc
Cửa Bắc bên ngoài vào năm 2009.
Tên Hán Việt là Chính Bắc Môn, là một trong năm cổng của thành Hà Nội thời
Nguyễn. Khi Pháp phá thành Hà Nội họ giữ lại cửa Bắc vì nơi đây còn hai vết
đại bác do pháo thuyền Pháp bắn từ sông Hồng năm 1882 khi Pháp hạ thành Hà
Nội lần thứ hai. Ngày nay trên cổng thành là nơi thờ hai vị tổng đốc Hà Nội là
Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu.
9
Hoàng Thành Thăng Long
Chùa Mía
Phần II. Trình bày đặc điểm kiến trúc và hệ thống
tượng thờ của chùa Mía.
10
Hoàng Thành Thăng Long
Chùa Mía
Làng cổ Đường Lâm, Sơn Tây là nơi thu hút không ít nhiếp ảnh gia, đạo
diễn, các nhà quay phim và nhiều học giả. Không chỉ có truyền thống văn hóa,
lịch sử lâu đời, đây còn là mảnh đất du lịch rất đẹp. Đường Lâm là một điển
hình làng cổ Việt Nam, vừa được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa
cấp quốc gia. Nơi đây vẫn còn cây đa, bến nước, sân đình, những ngôi nhà đỏ
rực tường như đá ong kiên cố, như chẳng hề có vết tích thời gian. Đặc biệt
TẢ HỮU HÀNH LANG
phàm mà lại đầy vẻ từ bi hỷ xả: “Người xưa đã tạc bao nhiêu tượng, đầy vẻ từ
bi dáng cứu đời.”
Từ sau ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc (1954), chùa đã được xếp hạng di
HẬU ĐƯỜNG
tích và thường xuyên được trùng tu. Chùa Mía được xây dựng theo kiểu “nội
công, ngoại quốc”, phía sau có thêm hậu đường. Từ ngoài vào, tam quan nhà
chùa nằm ngay dưới tán cây đa cổ thụ 400 năm tuổi trông rất cổ kính, thâm
TẢ HỮU HÀNH LANG
nghiêm, qua cổng chùa là khoảnh sân được lát gạch thoáng đãng, cây cối xanh
mát, không khí trong lành. Qua dãy nhà thờ Tổ là chùa Chính, Tiền Đường,
Thượng Điện, Hậu Đường, tả hữu hành lang nối liền vào Hậu đường, vây quanh
ĐIỆN
thượng điện, tất cả gồm 27 gianTHƯỢNG
tạo thành một
cụm kiến trúc khép kín vừa mang
vẻ thanh nghiêm vừa có ánh sáng thiên nhiên vì giữa các gian chùa vẫn có
khoảng không cách mái.
TIỀN ĐƯỜNG
SÂNtrúc
CHÙA
Sơ đồ kiến
Trong khuôn viên chùa, mở đầu là tam quan, lên tam quan phải qua năm bậc, đó
là hình tượng chúng sinh của năm phương thế gian hội tụ về mảnh đất trí tuệ
này.
Cổng Tam Quan
Tam quan có hai tầng mái tượng cho âm - dương đối đãi để mỗi khi tiếng thu
không rung lên như nhắc nhở trời - đất, âm - dương hoà hợp, và để cho con
người mỗi sáng mỗi chiều tự dọn lòng mình, hoà vào thiên nhiên vũ trụ nhằm đi
tìm chính mình, chính tâm. Tầng trên của tam quan đặt tượng của một vị hộ
pháp nhỏ đứng, hai tay tượng chắp trước ngực, đầu đội mũ kim khôi, mặc áo
giáp nhẫn nhục với các hoa văn nổi khối. Trong tư cách đó, các nhà nghiên cứu
nghệ thuật tạo hình Phật giáo thường cho rằng đây là bóng dáng của thái tử Kỳ
Đà, đôi khi còn gọi là đức Tam Châu.
Tầng dưới của Tam quan hiện nay còn để hai tấm bia đá cổ to vừa phải, tấm bia
bên phải Thập phương công đức bi ký được làm năm Cảnh Hưng 11 (1750) và
tấm bia bên trái làm năm Vĩnh Tộ 2 (1620). Đáng quan tâm ở tấm bia Vĩnh Tộ
là diềm bia còn giữ được vân leo tay mướp theo phong cách thời Mạc, mặt
trước trán bia được thể hiện đôi rồng chầu mặt trời và mặt sau thay cho đôi rồng
chầu là hai hoa cúc tượng cho mặt trời - mặt trăng hay tượng cho âm - dương
đối đãi.
14
Hoàng Thành Thăng Long
Chùa Mía
Cây đa cổ, tòa bảo tháp Cửu phẩm Liên hoa
Lầu
Cô
Tấm bia năm Đức
Long
toàn cõi vũ trụ để cứu vớt muôn loài về miền hạnh phúc.
Điện
Mẫu
Lầu
Cậu
Tiền Đường
Tiền Đường cao ráo thoáng đạt, vốn là nơi để khách thập phương dừng
chân soạn lễ, chỉnh đốn tư thế trước khi lên Chính Điện chiêm bái Tam Bảo.
Nay mới đặt thêm Ban thờ Mẫu. Phía trái Tiền Đường dựng một tấm bia lớn đặt
trên lưng rùa, lòng bia ghi rõ niên đại Đức Long thứ 6 (1632) đời Lê. Đây là
một tấm bia có kích cở lớn nhất và cũng là bia có niên đại cổ nhất ở khu vực
Chùa. Trán bia có chạm hình lưỡng long chầu nguyệt. Phía dưới là đài sen rực
rỡ. Diềm bia chạm hoa cúc liền sát nhau đan thành dây leo bao phủ. Nét khắc
mềm mại uyển chuyển, càng làm Tăng thêm vẽ uy nghi cho những hàng chữ
Hán đang tung hoành ngang dọc trên bia.
16
Hoàng Thành Thăng Long
phật rồi thận
HỘ
PHÁP
Động
phật
Giáng
Sinh
BAN
TAM
BẢO
trọng mạn phép được chiêm bái tượng phật.
Mở đầu là pho tượng Thích Ca Mầu Ni sơ sinh, hai bên là tượng Nam Tào, Bắc
Đẩu. Tượng người choàng áo đỏ đứng trong vòm cong cửa động Cửu Long.
Tiền than của Thích Ca Mầu Ni là thái tử Tất Đạt Đa. Tiếp bệ sau là tượng
Thích Ca sơ sinh nữa. Người choàng áo đỏ, kề bên người là tượng Kim Đồng
Ngọc Nữ. Tượng Ngọc Hoàng, Lão Tử to hơn đứng kề hai bên. Ôm sát hai bên
bệ thờ là hai hàng tượng Thập nhị Minh Vương, mười hai vị vua trời cai quản
17
Hoàng Thành Thăng Long
Chùa Mía
12 năm ở cõi dương gian. Tiếp đó là bộ tượng thích ca sơ sinh bằng đồng, tượng
chỉ cao 0,8m khoác áo đỏ. Phía sau là tượng A-Di-Đà bằng đồng, cao 1,2m,
tượng tiền thân của Phật Bà Quan Thế Âm Nam Hải. Tiếp sát tường hậu là pho
tượng Bồ Tát Nam Hải Quan Âm – Bà Chúa Ba đắc đạo. Hai bên là hai tượng
Kim Đồng, Ngọc Nữ, hai đệ tử của Người. Sang bên phải sát tường hậu là
tượng tiền thân Quan Thế Âm Bồ Tát. Tiếp đến là pho tượng Phổ Hiền Bồ Tát.
Đối diện với gian đốc bên kia là tượng Văn Thù Bồ Tát.
Kề bên Tam Bảo là động Phật Giáng Sinh, tòa động đồ sộ diễn tả cảnh các
chư vị bận rộn, ngạc nhiên lo lắng mừng rỡ quanh Hoàng Hậu Ma Da. Người
vịn cành cây Ưu Bát La trong vườn thượng uyển Lâm Tỳ Ni. Nhân khi Hoàng
Hậu giơ tay với cành cây thái tử đã ra đời. Người đản sinh ở ngay nách mẹ.
Bên kia Tam Bảo đối diện với động Phật Giáng Sinh là bệ thờ Bà Chúa
Mía để tưởng nhớ công ơn cao vời của Người. Tượng bà cao gần bằng người
thường, khuôn mặt trái xoan trong sáng, hiền phúc.
Kề bên là là tượng thái tử Thiện Hữu mà dân gian thường gọi là ông Hộ
Pháp – Khuyến Thiện, một pho tượng khá đẹp và to nhất trong các tượng ở chùa
Mía. Người ngồi uy nghi trên lưng con Thanh Sư ngoan ngoan, gương mặt
Người ngời ngời vẻ hiền phúc của đấng trượng phu từ bi. Đối diện thái tử Thiện
Hữu là thái tử Ác Hữu – Trừng Ác. Hai ông là hai anh em ruột, tượng cũng cao
lớn như tượng ông Thiện, người ngự trên con Thanh Sư vẻ mặt dữ dằn, ánh mắt
ông ác sắc như dao cau. Có lẽ mọi lỗi lầm của phàm trần đều không qua khỏi
ánh mắt sáng quắc của ông.
Hai đầu hồi ở hai toa chính điện là hai hàng tám vị Bát Bộ Kim Cương,
tám pho tượng tuyệt hảo. Tám vị bảo vệ cho tám hướng: Đông, Tây, Nam, Bắc,
Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc.
19
Hoàng Thành Thăng Long
Chùa Mía
Sơn
Động
Nam
Hải
20
Hậu Đường
Ban
thờ
Đức
Chuẩn
Đề
Động
Quan
Âm
tống
tử
Ban
thờ
Nam
Tào,
Bắc
Đẩu
những kẻ tù tội, Thiên phủ nơi Người nhập Niết Bàn về cõi Tây Thiên linh
thiêng.
Qua động Nam Hải là động Tuyết Sơn, động nhỏ hơn động Nam Hải.
Pho tượng Tuyết Sơn tượng trưng cho đức phật khi Người còn là thái tử, đạo sĩ
Tất Đạt Đa theo phép tu hành của nhóm Bạt Già. Mỗi ngày Người chỉ ăn một
hạt vừng hay hạt đỗ dẫn đến cơ thể tiều tụy, da bọc xương.
Động Tuyết Sơn
Tiếp theo là bàn thờ Thánh Quan, cuối cùng là bàn thờ mẫu Liễu Hạnh.
Tượng mẫu Liễu Hạnh đứng giữa hai đệ tử của Người. Mẫu là sự kết tinh của
người phụ nữ Việt Nam. Là tứ vị Bất tử trời Nam, Mẫu khi là người thường, khi
là tiên và tài năng tâm đức của Người đã hóa Phật.
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, với nghệ thuật kiến trúc dân tộc giản dị
nhưng đầy tôn nghiêm, một hệ thống tượng Phật cùng với công trình kiến trúc
độc đáo đã vượt ra ngoài giá trị vật thể tạo nên hình tượng, chùa Mía xứng đáng
được coi là di tích kiến trúc nghệ thuật.
22
Hoàng Thành Thăng Long
Chùa Mía
23