1
HC VIN CHNH TR - HNH CHNH QUC GIA H CH MINH
--------------------
NGUYN VN NGHIấN
CƠ sở lý luận và thực tiễn ĐấU TRANH
PHòNG, CHốNG BUÔN LậU QUA BIÊN GIớI VIệT TRUNG CủA CụC HảI QUAN TỉNH QUảNG NINH
Chuyờn ngnh
Mó s
: Lý lun v lch s Nh nc v phỏp lut
: 60 38 01
LUN VN THC S LUT
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS NGUYN VN MNH
H NI - 2009
2
Mục lục
Trang
1
Mở đầu
Chơng 1: cơ sở lý luận về đấu tranh phòng chống buôn lậu của lực lợng hải
quan
1.1. Khái niệm, đặc điểm đấu tranh phòng, chống buôn lậu của lực lợng Hải quan
100
119
Kết luận
danh mục Tài liệu tham khảo
122
124
91
91
\\\
M U
1. Tớnh cp thit ca ti
Buụn lu l mt loi hot ng buụn bỏn lu thụng hng hoỏ phm phỏp
cú tớnh cht lch s - kinh t nht nh. mi quc gia, vi mi thi k phỏt
trin kinh t - xó hi, hot ng ny li cú nhng hỡnh thỏi c im riờng.
3
Trong thời kỳ kinh tế bao cấp ở nước ta trước đây, hoạt động buôn lậu
được coi là xâm phạm đến chính sách độc quyền ngoại thương của Nhà nước
và do đó nó bị coi là một trong những hành vi xâm phạm đến an ninh quốc
gia. Hoạt động buôn lậu trong thời kỳ này chủ yếu là nhập lậu những mặt
hàng tiêu dùng, dược phẩm và một số mặt hàng thiết yếu khác; số lượng và
quy mô hạn chế, nhỏ lẻ, chủ yếu qua đường xuất, nhập cảnh cá nhân.
Từ năm 1986, khi đất nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế hàng hoá vận
hành theo cơ chế thị trường, hoạt động buôn lậu đã xuất hiện ngày càng đa
xuất hiện bày bán tràn lan… Ngoài ra, nạn hàng hoá Trung Quốc giả mạo
nhãn mác những thương hiệu nổi tiếng đang làm rối loạn thị trường tiêu
dùng… Rõ ràng, công tác đấu tranh chống nhập lậu hàng hoá từ Trung Quốc
vào nội địa chưa thực sự hiệu quả.
Cùng với nạn nhập lậu hàng hóa là nạn xuất lậu các khoáng sản, nguyên
liệu quý từ nước ta ra nước ngoài. Điển hình là nạn xuất lậu than với quy mô
lớn nhiều năm qua và mới đây đã bị chính quyền tỉnh Quảng Ninh kiên quyết
dẹp bỏ. Tình trạng xuất, nhập lậu qua biên giới phổ biến như nêu trên chứng
tỏ, bản thân cơ chế, chính sách điều hành đã có những kẽ hở dễ bị lợi dụng,
sự phối hợp và những biện pháp đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn của các
cơ quan chức năng là chưa đủ mạnh và chưa phù hợp với tình hình thực tế.
Quảng Ninh là một tỉnh vừa có đường biên giới trên bộ, vừa có đường
biên giới trên biển giáp với Trung Quốc. Các tuyến đường bộ và biển đều
rất thuận lợi cho việc trung chuyển, thông thương hàng hoá. Với đặc điểm,
địa thế của mình, Quảng Ninh chính là một địa bàn trọng điểm của buôn lậu
mà ở đó tập trung đầy đủ những hình thái, đặc điểm của hoạt động buôn lậu ở
biên giới phía Bắc. Vì vậy, kết quả nghiên cứu đấu tranh phòng chống buôn
lậu tại địa bàn Quảng Ninh cũng có thể áp dụng chung cho công tác đấu
tranh chống buôn lậu trên toàn tuyến biên giới phía Bắc.
Hải quan Quảng Ninh được coi là một lực lượng chủ yếu trong đấu tranh
phòng chống buôn lậu trên địa bàn. Hàng năm số vụ buôn lậu do Hải quan
5
phát hiện và xử lý đều chiếm trên 60% số vụ và trị giá hàng hoá bắt giữ buôn
lậu của tỉnh Quảng Ninh.
Những năm gần đây, Hải quan Quảng Ninh đã triển khai mạnh mẽ
phương pháp quản lý hải quan hiện đại; chủ động, tích cực phối hợp với các
ngành chức năng tổ chức lực lượng, triển khai các biện pháp đấu tranh quyết
liệt chống hoạt động buôn lậu hàng hoá trên địa bàn. Tuy nhiên, hiệu quả thực
Nội. 2003. Trần Tấn Linh, Đấu tranh phòng chống buôn lậu của Cục Hải
quan Bình Định - Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ Luật, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004. Vũ Văn Khánh, Đấu tranh
phòng chống tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy của lực
lượng Công an, Bộ đội biên phòng và Hải quan trên tuyến biên giới Thanh Hoá
- Hủa Phăn (CHDCND Lào), Luận văn thạc sĩ Luật 2008, Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
Hầu hết các công trình, bài viết trên đây đã tập trung nghiên cứu về mặt
lý luận, khái quát những vấn đề chung hoặc có liên quan đến buôn lậu và đấu
tranh phòng, chống buôn lậu của lực lượng Hải quan. Tuy nhiên, cho đến nay,
chưa có đề tài nào tiếp cận, đi sâu nghiên cứu, tổng hợp, đánh giá những bất
cập trong cơ chế, chính sách pháp luật hiện hành có liên quan đến công tác
đấu tranh phòng, chống buôn lậu và những hạn chế trong tổ chức lực lượng,
triển khai biện pháp đấu tranh chống buôn lậu qua biên giới Việt- Trung của
lực lượng Hải quan tại địa bàn tỉnh Quảng ninh, nhất là, từ khi triển khai thực
hiện luật Hải quan đến nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất các quan điểm và giải pháp
đấu tranh phòng, chống buôn lậu qua biên giới Việt – Trung của Cục Hải quan
tỉnh Quảng Ninh hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ sau đây:
7
- Khái quát cơ sở lý luận về đấu tranh phòng, chống buôn lậu của lực
lượng Hải quan.
- Làm rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của ngành Hải quan nói
chung và Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh nói riêng trong công tác đấu tranh
phòng, chống buôn lậu.
hướng, giải pháp theo quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử.
Tác giả sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp ở cả 3 chương
nhằm làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, đề xuất quan điểm, giải pháp đấu tranh
phòng, chống buôn lậu qua biên giới Việt – Trung;
Phương pháp phân tích, so sánh; phương pháp thống kê; phương pháp điều
tra xã hội học được sử dụng chủ yếu ở chương 2 để nghiên cứu thực trạng đấu
tranh phòng, chống buôn lậu trên biên giới Việt – Trung, đồng thời giải quyết
những vấn đề mà mục đích và nhiệm vụ của luận văn đặt ra.
- Trong quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng phương pháp phân tích tài
liệu thứ cấp nhằm tham khảo, chọn lọc kế thừa các công trình nghiên cứu, bài
viết liên quan đến lĩnh vực luận văn đề cập.
6. Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn góp phần bổ sung làm sáng tỏ thêm về mặt lý luận của vấn đề
đấu tranh phòng, chống buôn lậu; bổ sung những đánh giá tổng kết thực tiễn
công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu từ thực trạng của địa bàn tỉnh Quảng
Ninh. Qua đó, giúp các cơ quan Nhà nước điều chỉnh cơ chế, chính sách, pháp
luật phù hợp với yêu cầu thực tiễn của công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu
hiện nay.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng trực tiếp vào việc
xây dựng, đổi mới phương án đấu tranh phòng, chống buôn lậu qua biên
giới Việt – Trung của Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh trước mắt và lâu dài;
giúp cho chính quyền tỉnh Quảng Ninh nhận rõ tình hình buôn lậu và đấu
9
tranh phòng chống buôn lậu trên địa bàn làm cơ sở đề ra các biện pháp chỉ
đạo điều hành chung.
- Luận văn đưa ra các cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn làm căn cứ để Cục
Điều tra chống buôn lậu (Tổng Cục Hải quan) xây dựng phương án cho toàn
ngành và chỉ đạo Cục Hải quan các địa phương nâng cao hiệu quả hoạt động
những loại hàng hoá bị ngăn cấm. Tuy vậy, lợi nhuận cũng không phải là mục
đích duy nhất, vào thời kỳ trung cổ, phong kiến đã xuất hiện lợi dụng buôn
lậu để đánh cắp bí quyết vũ khí, kỹ thuật sản xuất hàng hoá, giống cây trồng,
vật nuôi; một số nhà nước còn sử dụng buôn lậu để phá hoại sản xuất và làm
suy yếu nước khác nhằm mục đích kiềm chế, bắt buộc lệ thuộc hoặc thôn tính
mở rộng lãnh thổ.
Ngày nay, sự giao lưu, thông thương hàng hoá giữa các quốc gia ngày
càng mở rộng, hoạt động buôn lậu cũng ngày càng có tính chất quốc tế theo
11
xu hướng liên kết xuyên quốc gia. Hoạt động buôn lậu ngày nay không chỉ
làm tổn hại đến những lợi ích kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh chính trị của
từng nước mà còn làm phương hại đến các lợi ích xã hội của cộng đồng quốc
tế mà điển hình là những hoạt động buôn lậu vũ khí, ma tuý, động thực vật
hoang dã, buôn lậu hàng giả xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ…
Mặc dù quan niệm về hành vi và tội phạm buôn lậu của mỗi quốc gia
vẫn còn có sự khác biệt nhưng nhìn chung buôn lậu luôn được coi là các
hoạt động buôn bán trái phép liên quan đến các loại hàng hoá xuất khẩu,
nhập khẩu.
Bộ luật Hải quan của Liên Xô trước đây quy định buôn lậu bao gồm các
hành vi:
- Vận chuyển trái pháp luật qua biên giới hàng hoá (hàng hoá, các đồ vật
quý và các vật phẩm khác), tức là vận chuyển không qua các trạm kiểm soát
hải quan, có vi phạm pháp luật hải quan hoặc trốn tránh kiểm tra hải quan,
cũng như việc tàng trữ, vận chuyển, mua bán hàng hoá đó trong nội địa.
- Bán những hàng hoá nhập vào nhưng không có giấy phép cho phép
bán những hàng hoá đó trong nội địa.
- Tàng trữ những hàng hoá nước ngoài mà không chứng minh được
nguồn gốc hợp pháp.
bộ việc nộp thuế xuất nhập khẩu, vi phạm các biện pháp cấm hoặc hạn chế do
pháp luật hải quan qui định, để thu được một khoản lợi nào đó do việc vi
phạm này. Theo các khái niệm trên, buôn lậu chính là hành vi vi phạm nhằm
trốn tránh việc nộp thuế xuất, nhập khẩu và trốn tránh sự kiểm soát của pháp
luật đối với những mặt hàng cấm hoặc chịu sự quản lý bằng các chính sách
hạn chế khác (ví dụ như giấy phép, hạn ngạch...).
Ở nước ta, khái niệm buôn lậu cũng có sự khác nhau giữa các thời kỳ
lịch sử. Trước năm 1985, khi bộ luật Hình sự chưa ra đời, hành vi buôn lậu
được quy định trong Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng
giả, kinh doanh trái phép. Theo quy định của pháp lệnh này, hành vi buôn lậu
13
bao gồm các hành vi kinh doanh trái phép, trốn lậu thuế, đầu cơ tích trữ, buôn
bán hàng cấm... Như vậy, bất kể hành vi kinh doanh buôn bán đó diễn ra ở đâu
nếu có dấu hiệu “gian lận”, “trốn lậu”, trái với quy định của Nhà nước thì đều
gọi là buôn lậu. Trong thời kỳ này, pháp luật hình sự cũng chưa coi hành vi vận
chuyển tiền tệ (tiền Việt Nam và ngoại tệ) qua biên giới là tội phạm.
Năm 1985, Bộ luật Hình sự đầu tiên của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam được ban hành, khái niệm hành vi buôn lậu do đó đã được
định danh rõ ràng với các dấu hiệu đặc trưng và đầy đủ các yếu tố cấu thành
tội phạm. Năm 1999, Bộ luật Hình sự được sửa đổi toàn diện, tuy vậy khái
niệm hành vi buôn lậu vẫn không thay đổi và được định nghĩa chính thức là
hành vi “buôn bán trái phép qua biên giới”.
Tính chất pháp lý của hành vi này được thể hiện trong pháp luật cụ thể
như sau:
Khách thể của hành vi buôn lậu: Khách thể bị xâm phạm trong hành vi
buôn lậu là các quy định pháp luật của Nhà nước về buôn bán hàng hoá qua
biên giới bao gồm các quy định về chính sách xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh
hàng hoá và các quy định về trật tự thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất
lãnh thổ, khu vực không thuộc quốc gia nào.
Hành vi buôn lậu hoàn thành kể từ thời điểm thực hiện hành vi buôn bán
hàng hoá, tiền tệ, kim khí quý, đá quý, vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hoá
trái phép qua biên giới Việt Nam. Trường hợp nhập khẩu trái phép trót lọt
hàng hoá vào trong nội địa mới bị phát hiện vẫn cấu thành hành vi buôn lậu
qua biên giới.
Chủ thể của hành vi buôn lậu: Chủ thể của hành vi buôn lậu là công
dân Việt Nam, người nước ngoài hoặc người không quốc tịch từ 14 tuổi trở
lên có năng lực trách nhiệm pháp luật. Trong trường hợp xử phạt hành chính,
chủ thể của hành vi buôn lậu còn là các tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp của
Việt Nam hoặc nước ngoài thực hiện hành vi vi phạm trên lãnh thổ Việt Nam.
Mặt chủ quan của hành vi buôn lậu: Hành vi buôn lậu được thực hiện
do lỗi cố ý trực tiếp. Người vi phạm biết rõ hành vi của mình là trái pháp luật
15
nhưng vẫn thực hiện và mong muốn thực hiện hành vi đó nhằm mục đích
kiếm lời vì động cơ vụ lợi. Mục đích buôn bán kiếm lời là dấu hiệu chính để
phân biệt hành vi buôn lậu với hành vi vận chuyển trái phép hàng hoá qua
biên giới (vận chuyển thuê lấy tiền công). Hành vi buôn lậu và hành vi vận
chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới có mối quan hệ gắn bó chặt
chẽ với nhau. Cả hai hành vi này giống nhau ở hầu hết các dấu hiệu trong cấu
thành vi phạm và chỉ khác nhau ở dấu hiệu mục đích. Vì vậy, đấu tranh phòng
chống buôn lậu phải gắn với phòng, chống vận chuyển trái phép hàng hoá,
tiền tệ qua biên giới.
Theo pháp luật nước ta, về mặt hình sự thì hai hành vi trên được tách ra
thành 2 tội phạm khác nhau nhằm phân hoá đối tượng vi phạm để có chế tài
và đường lối xử lý phù hợp với yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống
và giáo dục răn đe từng loại vi phạm, tội phạm.
Về mặt xử lý hành chính, pháp luật nước ta không tách riêng buôn lậu
nước; làm thất thoát tiền, vốn và tài nguyên quốc gia; hàng hoá nhập lậu tràn
vào thị trường trong nước sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất nội địa.
Nghiêm trọng hơn, buôn lậu còn có thể tác động đến cán cân thương mại,
thanh toán làm giảm hiệu quả của các chính sách ngoại thương, điều tiết vĩ
mô của Nhà nước.
Về an ninh, chính trị: buôn lậu kéo theo nhiều tệ nạn xã hội, gây mất trật tự
an ninh, làm gia tăng thêm các hoạt động phạm tội khác (như ma tuý, bạo lực.
…), đặc biệt buôn lậu còn liên quan đến các hoạt động xâm phạm chủ quyền an
ninh quốc gia, đưa người qua lại biên giới xuất nhập cảnh trái phép làm ảnh
hưởng đến sự ổn định chính trị nhất là tại các khu vực địa bàn biên giới. Hoạt
động buôn lậu cũng góp phần làm trầm trọng thêm tệ tham nhũng của đất nước.
Về văn hoá, xã hội: Buôn lậu là một trong những nguyên nhân du nhập
những sản phẩm văn hoá độc hại, không phù hợp với thuần phong mỹ tục của
dân tộc và một số tệ nạn xã hội từ nước ngoài vào trong nước. Tại các vùng
biên giới, hoạt động buôn lậu đã lôi kéo người dân từ trẻ em đến người lớn
17
tham gia vào đội ngũ vận chuyển thuê, ảnh hưởng đến sự nghiệp giáo dục,
nguồn lực lao động và việc thực hiện các chủ trương chính sách phát triển
kinh tế, văn hoá xã hội ở địa phương.
Đối với cộng đồng: nạn buôn lậu ma tuý, vũ khí đang là một vấn đề nan
giải của cộng đồng quốc tế. Buôn lậu ma tuý, vũ khí có liên quan chặt chẽ với
các hành động bạo lực, khủng bố trên thế giới gây mất ổn định và xâm phạm
tới cuộc sống bình yên của các cộng đồng dân cư. Buôn lậu động, thực vật
hoang dã quí hiếm là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các hoạt
động khai thác, phá hoại rừng, biển làm ảnh hưởng nghiêm trọng đối với môi
trường sống toàn cầu.
Lợi dụng sự phát triển, mở rộng các hình thức thương mại, vận chuyển
hàng hóa trên thế giới và chính sách mở cửa của các nước, hoạt động buôn lậu
địa. Ngăn chặn và xử lý nghiêm mọi hành vi buôn lậu, gian lận thương mại
hoặc tiếp tay, bao che cho bọn buôn lậu”. Hàng năm, Chính phủ đều ban hành
các văn bản chỉ đạo các ngành, các cấp tăng cường các biện pháp kiểm soát,
đấu tranh quyết liệt với hoạt động buôn lậu. Nhà nước ta cũng đã ký kết và
tham gia hợp tác quốc tế về đấu tranh chống buôn lậu ma tuý, động thực vật
hoang dã quí hiếm; kiểm soát chất phóng xạ, thực thi quyền sở hữu trí tuệ,
chống hàng giả.... đặc biệt là hợp tác chặt chẽ với các nước láng giềng và các
nước trong khu vực Đông Nam Á.
Có thể nói, ngày nay đấu tranh chống buôn lậu là hoạt động được tất cả các
quốc gia và cộng đồng quốc tế rất quan tâm trú trọng.Chống buôn lậu chính là
một trong những hành động đấu tranh trấn áp tội phạm, được thực hiện thông
qua các biện pháp nghiệp vụ tích cực nhằm kiểm soát, phát hiện, bắt giữ và xử lý
những hành vi buôn bán, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới.
1.1.1.2. Khái niệm đấu tranh phòng chống buôn lậu của lực lượng
Hải quan
Lịch sử hình thành và phát triển của Hải quan đã cho thấy lực lượng Hải
quan ra đời từ rất sớm. Vào thời kỳ cổ đại, khi hoạt động thương mại buôn
19
bán, trao đổi hàng hoá dần dần vượt ra ngoài giới hạn các vùng địa phương,
rồi vượt ra ngoài cả giới hạn các quốc gia. Nhà nước trong thời cổ đại đã đặt
ra những khoản thu đánh vào các thương đoàn và hàng hoá qua lại buôn bán
trên lãnh thổ của họ. Khoản thu này chính là hình thức đầu tiên của thuế hải
quan. Hoạt động hải quan ban đầu phát triển nhất ở Hy lạp cổ đại, thuế hải
quan được quy định đối với hàng hoá nhập khẩu bằng 1/10 trị giá hàng, thậm
chí tồn tại cả thuế hải quan đối với xuất khẩu nô lệ. Trong thời kỳ này cũng đã
xuất hiện chính sách ưu đãi thuế quan đối với một số mặt hàng và vùng lãnh
thổ. Nhà nước Hy lạp cổ đại đã miễn thuế đối với vũ khí, trang bị quân sự.
Các đồng minh của Hy Lạp thì chỉ phải trả 1/100 trị giá hàng trong khi các
hoá xuất, nhập khẩu, phòng, chống buôn lậu và nghiêm trị xử phạt buôn lậu
bằng các chế tài hình luật.
Ngày nay thế giới đang diễn ra quá trình toàn cầu hoá rất mạnh mẽ, hoạt
động giao lưu buôn bán, thương mại giữa các nước đã thực sự mở rộng. Các
quốc gia trên thế giới có những mục tiêu và sự quan tâm khác nhau đối với
việc kiểm soát thương mại, xuất nhập khẩu. Một số nước phát triển, nhiệm vụ
thu thuế hải quan không còn là nhiệm vụ hàng đầu nữa mà đã chuyển dần
sang những nhiệm vụ đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu, chính sách khác
về thương mại như chính sách bảo hộ sản xuất và tiêu dùng nội địa, ngăn chặn
hàng giả và một số loại hàng hoá đặc biệt khác. Hiện nay, Hải quan Mỹ ưu
tiên hàng đầu là chống khủng bố, kiểm soát phát hiện người, phương tiện và
hàng hoá có nghi ngờ liên quan đến các hoạt động khủng bố. Hải quan Mỹ
cũng dành sự quan tâm đặc biệt đến việc kiểm soát ngăn chặn hoạt động xuất
lậu những sản phẩm công nghệ cao sang các nước thù địch [37, tr.20].
Trong điều kiện mới, tuy nhiệm vụ cụ thể và mục tiêu hoạt động của lực
lượng Hải quan các nước có sự điều chỉnh khác nhau nhưng về cơ bản lực
lượng Hải quan trên thế giới vẫn có những nhiệm vụ và chức năng chính sau:
21
a. Kiểm tra, giám sát hàng hoá xuất, nhập khẩu, phương tiện
vận tải và hành khách xuất, nhập cảnh, bảo đảm cho các hoạt động
này diễn ra đúng pháp luật.
b. Thu thuế xuất, nhập khẩu và các loại thuế và lệ phí khác do
pháp luật quy định; thực hiện chính sách thuế của Nhà nước trong
quan hệ kinh tế với nước ngoài.
c. Điều tra, xử lý các hành vi buôn lậu hoặc vận chuyển trái
phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới; các hành vi vi phạm pháp luật
về hải quan khác.
d. Thực hiện thống kê nhà nước về hải quan [37, tr.23].
vụ Quốc hội ban hành ngày 20/2/1990 và văn bản pháp lý cao nhất là Luật
Hải quan được Quốc hội khoá X thông qua ngày 12/07/2001, đấu tranh chống
buôn lậu luôn luôn được quy định là một chức năng cơ bản, quan trọng nhất
của lực lượng Hải quan Việt Nam. Những văn bản pháp luật ấy là cơ sở pháp
lý vững chắc để ngành Hải quan tổ chức ra lực lượng và triển khai các hoạt
động đấu tranh chống buôn lậu.
Trên thế giới, hoạt động đấu tranh chống buôn lậu của lực lượng Hải
quan luôn được đảm bảo bởi những điều kiện cần thiết về pháp luật, tài chính,
cơ sở vật chất, trang thiết bị, tổ chức và con người như: được trang bị phương
tiện kỹ thuật hiện đại, được thực thi một số quyền hạn khám xét, bắt giữ...,
được pháp luật bảo vệ khi thi hành công vụ, được trả lương cao, được đào tạo
bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu.... Một số nước phát triển như Mỹ, Pháp, đội
ngũ chống buôn lậu của Hải quan được đào tạo rất bài bản và chuyên nghiệp
tại các Học viện [36]. Ngoài kiến thức pháp luật và kiến thức thương mại,
buôn bán quốc tế, nhân viên chống buôn lậu hải quan còn được đào tạo các kỹ
thuật nghiệp vụ khám xét, bắt giữ, điều tra thu thập thông tin, sử dụng phương
tiện máy móc kỹ thuật, sử dụng vũ khí công cụ hỗ trợ...
Ở nước ta, lực lượng chống buôn lậu của Hải quan cũng được đảm bảo
điều kiện hoạt động tương đối tốt. Hàng năm Nhà nước đều có sự bổ sung,
trang bị thêm nhiều phương tiện kỹ thuật cho lực lượng này, nhất là những
23
loại thiết bị kỹ thuật máy móc hiện đại. Công chức chống buôn lậu hải quan
thường xuyên được tập huấn về kỹ thuật nghiệp vụ như: Nghiệp vụ điều tra
thu thập thông tin, nghiệp vụ khám xét phương tiện vận tải, sử dụng chó
nghiệp vụ, sử dụng các thiết bị phát hiện buôn lậu ma tuý... Ngoài ra, còn
được học võ thuật, sử dụng vũ khí công cụ hỗ trợ khi cần thiết. Lực lượng
chống buôn lậu Hải quan khi thi hành công vụ được trang bị các loại phương
tiện bảo hộ như áo chống đâm, chống đạn và được pháp luật bảo vệ. Pháp luật
hợp và bổ sung hỗ trợ cho nhau nhằm góp phần ngăn chặn hoạt động buôn lậu
trên phạm vi địa bàn cả nước.
Là cơ quan duy nhất tiến hành thủ tục hải quan cho hàng hoá xuất nhập
khẩu, người và phương tiện vận tải xuất nhập cảnh; thực hiện kiểm tra, giám
sát, kiểm soát hàng hoá xuất, nhập khẩu tại cửa khẩu; đảm bảo thực thi những
chính sách thuế, chính sách thương mại và các cam kết ngoại thương của Nhà
nước, hoạt động đấu tranh chống buôn lậu của lực lượng Hải quan có một số
đặc điểm chính như sau:
1.1.2.1. Về chủ thể: Công tác đấu tranh chống buôn lậu có vai trò rất lớn
đối với toàn bộ hoạt động của Hải quan. Chỉ có tích cực đấu tranh chống buôn
lậu mới đảm bảo cho công tác quản lý của Hải quan được tiến hành thuận lợi,
đúng pháp luật, hoàn thành được nhiệm vụ thực thi các chính sách thuế,
thương mại và các cam kết ngoại thương của Nhà nước.
Chính từ tính chất và vai trò quan trọng đó mà hầu hết Hải quan trên thế
giới đều tổ chức ra lực lượng chuyên trách tiến hành công tác này. Thành lập
lực lượng chuyên trách là điểm khác biệt lớn nhất giữa đấu tranh chống buôn
lậu của Hải quan với các cơ quan khác.
Lực lượng chuyên trách chống buôn lậu của Hải quan thường được tổ
chức tại tất cả các cấp. Ở nhiều quốc gia, lực lượng này còn được tổ chức
thống nhất theo hệ thống dọc từ cấp Trung ương đến đơn vị cơ sở, hoạt động
giống như hệ thống các cơ quan cảnh sát (Hải quan Trung Quốc) [35, tr.38].
Hải quan Việt Nam cũng tổ chức ra lực lượng chuyên trách đấu tranh
chống buôn lậu và thường được gọi là lực lượng kiểm soát Hải quan. Ngày
25
19/04/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 65/2004/QĐ-TTg
chính thức ban hành quy chế hoạt động của lực lượng hải quan chuyên
trách phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới.
Lực lượng kiểm soát Hải quan Việt Nam được thành lập ở tất cả các cấp.