Luận văn thạc sĩ Đài phát thanh truyền hình quảng ninh với vấn đề tuyên tuyên truyền phát triển kinh tế biển trên địa bàn tỉnh - Pdf 34

ĐÀI PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH QUẢNG NINH
VỚI VẤN ĐỀ TUYÊN TRUYỀN PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
(Khảo sát các chương trình Truyền hình từ tháng 6/2013 đến tháng
6/2014)

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

HÀ NỘI - 2014


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin
cậy và trung thực.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn “Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Ninh
với vấn đề tuyên truyền phát triển kinh tế biển trên địa bàn tỉnh”, tôi xin
được bày tỏ lòng biết ơn Tiến sĩ Phạm Tất Thắng, Phó Tổng biên tập Thường
trực Tạp chí Cộng Sản, người đã nhiệt tình truyền dạy kinh nghiệm, định
hướng và chỉ bảo cho tôi.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, các cô giáo là giảng viên Học viện
Báo chí và Tuyên truyền, đặc biệt là những thầy, cô giáo trực tiếp giảng dạy
tôi trong quá trình theo học. Các thầy, cô giáo đã truyền đạt tri thức, kinh

- Chương trình Phát thanh: Thêm một mùa “vàng trắng” ở Cô Tô, phát sóng
ngày 12/04/2014............................................................................................156
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GDP

: Tổng sản phẩm quốc nội

UNESSCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc
DOC

: Tuyên bố của các bên về ứng xử trên Biển Đông

COC

: Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông

UBND

: Ủy ban Nhân dân

NXB

: Nhà xuất bản



1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

sản phong phú, cũng là lợi thể để Quảng Ninh phát triển mạnh mẽ các hoạt
động ngư nghiệp, tạo kế sinh nhai ổn định cho ngư dân toàn tỉnh.
Với những tiềm năng kể trên, Quảng Ninh có vai trò vô cùng quan
trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và của vùng,
trong đó có chiến lược phát triển kinh tế ven biển và kinh tế biển. Xác định
được tiềm năng, lợi thế này, những năm qua, tỉnh Quảng Ninh đã dành nhiều
nguồn lực đầu tư cho phát triển kinh tế biển.
Đồng hành cùng sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, những
năm qua, Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Ninh đã có những đóng góp
quan trọng trong việc tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế biển trên địa bàn tỉnh. Có thể nói, đây
là mảng đề tài được Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Ninh đặc biệt quan
tâm và dành thời lượng đáng kể để tuyên truyền. Các tin, phóng sự, chuyên
mục, chuyên đề trên sóng phát thanh và truyền hình của Đài phát thanh Truyền hình Quảng Ninh ngày càng tăng về số lượng, phong phú, hấp dẫn về
nội dung và hình thức thể hiện, tập trung tuyên truyền về những thành tựu đạt
được, những mô hình hay, cách làm mới trong phát triển kinh tế biển của
chính quyền, người dân các địa phương.
Thông qua công tác tuyên truyền trên sóng phát thanh, truyền hình của
Đài, tiềm năng phát triển kinh tế biển của nhiều địa phương được khơi dậy
mạnh mẽ; các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế biển cũng được xây
dựng, bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn của từng địa bàn. Qua
tuyên truyền đã từng bước làm chuyển biến nhận thức của lãnh đạo các cấp,
các ngành và người dân về vị trí, vai trò, tiềm năng của kinh tế biển đối với sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc nâng cao nhận thức về vị trí, vai
trò, tầm quan trọng của kinh tế biển trong tình hình mới cũng như tuyên truyền


4


báo, tạp chí, các chương trình hội thảo, như:
- PGS.TS Nguyễn Bá Diến, năm 2006, “Chính sách, pháp luật biển
của Việt Nam và chiến lược phát triển bền vững”, NXB Tư Pháp: Tác giả đã
đề cập một cách hệ thống, toàn diện chính sách pháp luật Việt Nam về biển
trong mối tương quan với yêu cầu của chiến lược phát triển bền vững và hội
nhập quốc tế; đặc biệt là vấn đề xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật
biển trong gian đoạn hiện nay.
- Báo cáo nghiên cứu khoa học: “Một số giải pháp phát triển kinh tế
dải ven biển Thanh - Nghệ - Tĩnh đến năm 2015” của tác giả Hoàng Phan Hải
Yến đăng trên Tạp chí Khoa học, số 4B, năm 2008 của Trường Đại học Vinh
đề cập: Xu thế tiến ra biển của các nước trên thế giới và khu vực đang phát
triển mạnh mẽ, đặt ra thách thức to lớn và cấp bách cho việc phát triển kinh tế
biển và ven biển của nước ta. Với vai trò là cầu nối giữa hai miền Bắc - Nam
tổ quốc, dải ven biển Thanh - Nghệ - Tĩnh cần phải có định hướng phát triển
tổng thể, dài hạn, đồng thời nghiên cứu, xây dựng các mô hình phát triển cụ
thể, phù hợp với từng tiểu vùng để tạo ra một vùng phát triển năng động nhất
và thực sự trở thành đầu tàu lôi kéo kinh tế của cả ba tỉnh Thanh Hoá, Nghệ
An, Hà Tĩnh cùng phát triển trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
- Tác giả Ngô Doãn Vịnh, Hà Nội (năm 2004) với đề tài: Cơ sở khoa
học cho việc phát triển kinh tế - xã hội ven biển Việt Nam, đề xuất các mô
hình phát triển cho một số khu vực trọng điểm đã cho rằng: Đặt kinh tế biển
trong tổng thể nền kinh tế cả nước, phát triển theo hướng mở cửa, hướng
mạnh về xuất khẩu, gắn phát triển kinh tế với phát triển xã hội và củng cố an
ninh, quốc phòng. Đề tài này cũng đề xuất các tuyến kinh tế ven biển như:
tuyến Móng Cái - Hạ Long - Hải Phòng - Đồ Sơn; tuyến Huế - Đà Nẵng Dung Quất; tuyến Vũng Tàu - Cần Giờ - TP. Hồ Chí Minh.


6

- Ngô Lực Tải, (năm 2012), Kinh tế biển Việt Nam trên đường phát

đến năm 2020”; Website Đảng Cộng sản Việt Nam, “Chiến lược phát triển
kinh tế biển”.
Liên quan đến vấn đề báo chí tuyên truyền về kinh tế biển và các ngành
liên quan, có một số công trình nghiên cứu khoa học đã nghiên cứu và đề cập
trên những góc độ khác nhau:
- Luận văn thạc sĩ báo chí học của tác giả Bùi Ngọc Toàn - Học viện
Báo chí và Tuyên truyền năm 2013 về đề tài: “Tuyên truyền phát triển kinh tế
biển trên các kênh truyền hình khu vực Bắc Trung Bộ”. Qua việc tổng kết lý
luận và thực tiễn, nghiên cứu này cũng rút ra một số nhận xét, đánh giá nhằm
ứng dụng vào việc xác định hướng đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền
phát triển kinh tế biển một cách hiệu quả nhất, đồng thời, rút ra những bài học
kinh nghiệm để tổ chức hoạt động tuyên truyền và phát huy năng lực sáng tạo
nghề báo ở các Đài Phát thanh và Truyền hình các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An,
Hà Tĩnh; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng,
hiệu quả và năng lực tổ chức sản xuất các chương trình phát thanh truyền hình
ở các đài địa phương.
- Cũng trong năm 2013, tác giả Vũ Mạnh Cường - Học viện Báo chí và
Tuyên truyền đã bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ báo chí học với đề tài:
“Vấn đề tuyên truyền xây dựng nông thôn mới trên báo chí Quảng Ninh”.
Luận văn đã đề cập trực tiếp đến vấn đề tuyên truyền xây dựng nông thôn mới
trên báo chí Quảng Ninh, chỉ ra vấn đề xây dựng nông thôn mới đã được báo
chí Quảng Ninh tuyên truyền như thế nào để từ đó rút ra những bài học kinh
nghiệm nhằm nâng cao chất lượng tuyên truyền về nông thôn mới thời gian
tới cũng như những vấn đề báo chí quan tâm.
- Mới đây, trong luận văn thạc sĩ báo chí học của tác giả Trần Thị Thu
Hiền, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, (năm 2014) có đề tài: “Báo in tuyên
truyền phát triển bền vững ngành thủy sản”. Trên cơ sở đánh giá thực trạng,


8

9

Truyền hình Quảng Ninh (khảo sát các chương trình phát thanh và truyền
hình), luận văn đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng
công tác tuyên truyền phát triển kinh tế biển trên Đài Phát thanh - Truyền
hình Quảng Ninh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Căn cứ vào mục đích nghiên cứu, học viên xác định những nhiệm vụ
nghiên cứu sau:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn của báo chí tuyên truyền
về phát triển kinh tế biển.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng tuyên truyền phát triển kinh tế biển của
Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Ninh.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao chất lượng
tuyên truyền phát triển kinh tế biển trên Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Ninh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tuyên truyền phát triển kinh tế biển của các kênh truyền hình và phát
thanh , Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Ninh.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Nội dung tin, phóng sự, chuyên đề, phỏng vấn, tọa đàm về phát triển
kinh tế biển trên Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Ninh (bao gồm cả phát
thanh và truyền hình).
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi khảo sát: Các tin, phóng sự, chuyên đề, phỏng vấn, tọa đàm về
phát triển kinh tế biển trong chương trình thời sự, chuyên đề, chuyên mục trên
kênh truyền hình của Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Ninh. Ngoài ra, luận
văn có khảo sát thêm các chương trình phát thanh về đề tài này để so sánh.



11

thống kê, tác giả xây dựng nội dung điều tra xã hội học bằng bảng hỏi để phục
vụ công tác nghiên cứu.
* Phương pháp điều tra xã hội học:
Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi nhằm khảo sát ý kiến đánh giá của
công chúng đối với các nội dung tuyên truyền phát triển kinh tế biển trên Đài
Phát thanh - Truyền hình Quảng Ninh, đồng thời đánh giá nhận thức của công
chúng về vấn đề này. Tác giả luận văn đã sử dụng 300 bảng hỏi với các đối
tượng khác nhau để thực hiện việc khảo sát ý kiến đánh giá của công chúng.
Cụ thể, những đối tượng đó là lãnh đạo, cán bộ quản lý và người dân 2 địa
phương có biển tại Quảng Ninh là huyện Cô Tô và huyện Vân Đồn; lãnh đạo,
cán bộ quản lý cơ quan báo chí và một số sở, ngành có liên quan đến lĩnh vực
kinh tế biển Quảng Ninh. Kết quả điều tra xã hội học bằng bảng hỏi là cơ sở
để tác giả thực hiện các phỏng vấn sâu về hiệu quả tuyên truyền phát triển
kinh tế biển trên Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Ninh.
* Phương pháp chuyên gia:
Phương pháp này nhằm trao đổi, phỏng vấn với các chuyên gia, nhà
quản lý để lấy ý kiến về quan điểm tuyên truyền phát triển kinh tế biển trên
Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Ninh hiện nay cũng như đánh giá hiệu
quả, tác động và những giải pháp tuyên truyền kinh tế biển.
6. Đóng góp mới về khoa học của đề tài
Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên đề cập một cách cụ thể đến việc tổ
chức các hoạt động tuyên truyền về nội dung phát triển kinh tế biển ở Đài Phát
thanh - Truyền hình Quảng Ninh. Mặc dù đối tượng và phạm vi nghiên cứu chỉ
tập trung vào một lĩnh vực tuyên truyền cụ thể của Đài Phát thanh - Truyền hình
Quảng Ninh, nhưng đây lại là lĩnh vực có tầm quan trọng chiến lược đối với
Quảng Ninh nói riêng và là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà
nước. Hy vọng, những kết quả nghiên cứu của công trình sẽ góp phần làm phong



13

mình trong hoạt động tuyên truyền phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã
hội tại địa phương.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể ứng dụng vào thực tiễn công tác
tuyên truyền ở Đài Phát thanh và Truyền hình Quảng Ninh cũng như ở một số
cơ quan báo chí của các địa phương ven biển nhằm nâng cao chất lượng nội
dung, hình thức thể hiện của các thể loại báo chí tuyên truyền phát triển kinh
tế biển.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội
dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Các vấn đề lý luận chung về tuyên truyền phát triển kinh tế biển
Chương 2: Thực trạng tuyên truyền phát triển kinh tế biển trên Đài Phát
thanh - Truyền hình Quảng Ninh
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng tuyên truyền
phát triển kinh tế biển trên Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Ninh


14

Chương 1
CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TUYÊN TRUYỀN
PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN
1.1. Những vấn đề cơ bản về phát triển kinh tế biển ở Quảng Ninh
1.1.1. Khái niệm phát triển kinh tế biển
* Kinh tế biển
Hiện tại, trên diễn đàn quốc tế, các nước vẫn chưa hoàn toàn thống nhất
chung về khái niệm kinh tế biển. Mỗi quốc gia có biển lại có cách nhìn riêng,

cả các ngành, lĩnh vực, hoạt động khác nhau trong sự vận động, biến đổi từ
con số không đến con số có thể đếm được; từ con số có sự xác định còn nhỏ
đến con số lớn hơn theo hướng cấp số cộng, cấp số nhân.
Từ những cơ sở trên, theo quan điểm của tác giả luận văn, phát triển
kinh tế biển là một quá trình vận động, biến đổi từ nhỏ đến lớn, theo chiều
hướng từ thấp đến cao và từ quy mô lớn rồi lại lớn hơn nữa của các hoạt động
kinh tế diễn ra trên biển và các hoạt động kinh tế diễn ra trên đất liền nhưng
có liên quan trực tiếp đến hoạt động khai thác các nguồn lợi kinh tế từ biển
trong một chu kỳ hay một giai đoạn nhất định của thực tiễn.
1.1.2. Đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh
tế biển
Với cơ cấu ngành, nghề đa dạng, trong đó có nhiều ngành, nghề then
chốt như khai thác dầu khí, hải sản, hàng hải, kinh tế biển có vai trò đặc biệt
quan trọng, đóng góp cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của Việt Nam.
Trong mấy thập kỷ gần đây, Ðảng và Nhà nước ta đã đề ra những chủ trương,
chính sách, biện pháp quan trọng nhằm quản lý, bảo vệ, khai thác biển.
Có ý nghĩa quan trọng đối với các hoạt động kinh tế biển phải kể đến
Nghị quyết 03-NQ/TW ngày 6/5/1993 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ
phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt. Trong đó khẳng định rằng,
phải đẩy mạnh phát triển kinh tế biển đi đôi với tăng cường khả năng bảo vệ
chủ quyền và lợi ích quốc gia. Song song với nhiệm vụ đó là bảo vệ tài


16

nguyên và môi trường sinh thái biển, phấn đấu trở thành một nước mạnh về
biển vào năm 2020. Sau Nghị quyết này, Thủ tướng Chính phủ đã có các chỉ
thị triển khai thực hiện, như Chỉ thị 399 ngày 5/8/1993 về một số nhiệm vụ
phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt và Chỉ thị 171/TTg năm
1995 triển khai Nghị quyết 03-NQ/TW.

tương tác với các vùng và trong xu thế hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới.
Việc thực hiện những chủ trương, chính sách nêu trên đã đạt được một
số thành tựu quan trọng. Ðến nay, kinh tế biển và vùng ven biển đóng góp gần
50% GDP của cả nước (trong đó riêng kinh tế trên biển chiếm hơn 20%
GDP), với quy mô tăng khá nhanh, cơ cấu ngành nghề chuyển dịch theo
hướng phục vụ xuất khẩu đem về một lượng ngoại tệ lớn cho sự nghiệp công
nghiệp hóa, hình thành một số trung tâm phát triển để hướng ra biển...
Tuy nhiên, xét cả về mặt chủ quan và khách quan, thực tế hiện nay cho
thấy, trong việc khai thác lợi thế từ biển còn không ít hạn chế, khó khăn và
yếu kém. Quy mô kinh tế biển và vùng ven biển nước ta vẫn chưa tương xứng
với tiềm năng, giá trị tổng sản phẩm hằng năm còn nhỏ bé, chỉ bằng 1/20 của
Trung Quốc, 1/94 của Nhật Bản, 1/7 của Hàn Quốc và 1/260 kinh tế biển của
thế giới. Những năm qua, do chưa có chiến lược tổng thể nên các ngành, các
địa phương thiếu căn cứ để quy hoạch. Tính đồng bộ của các chủ trương,
chính sách ở tầm vĩ mô, nhận thức về vai trò, vị trí của biển, sự quan tâm phát
triển các lĩnh vực liên quan đến biển của một số cấp ủy đảng, chính quyền các
cấp, các ngành, cả Trung ương và địa phương còn nhiều hạn chế. Cho đến
trước kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XII cũng chưa có cơ quan chuyên trách
giúp Chính phủ quản lý, điều hành chung, dẫn đến những hoạt động đầu tư
manh mún, chưa đồng bộ, hiệu quả thấp, kinh tế biển phát triển chậm, thiếu
bền vững và cơ cấu chưa hợp lý. Thực tế trên đặt ra yêu cầu cấp bách là Đảng
và Nhà nước ta cần nâng các quan điểm chỉ đạo nêu trên lên tầm của một văn
bản chiến lược.
Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa X đã thông
qua Nghị quyết về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 (Nghị quyết 09-


18

NQ/TW ngày 9/2/2007), nhằm đáp ứng yêu cầu nêu trên. Theo quan điểm chỉ

km2 mặt nước biển, với trên 40.000 ha bãi triều, 20.000 ha eo vịnh và hàng
chục vạn ha vũng nông ven bờ thuộc vịnh Hạ Long. Tỉnh có 10/14 huyện, thị
xã, thành phố tiếp giáp biển, trong đó có 2 huyện đảo là Vân Đồn và Cô Tô.
Tổng diện tích các địa phương ven biển và vùng biển đảo chiếm 72% tổng
diện tích, 72,5% dân số và trên 75% GDP của tỉnh. Bờ biển Quảng Ninh dài
hơn 250 km với hàng chục ngàn ha bãi triều ven biển, có 2.078 đảo, chiếm
2/3 số đảo ven biển Việt Nam (trong đó có 22 đảo có dân sinh sống). Biển
Quảng Ninh nằm trong vùng vịnh Bắc Bộ của nước ta với nguồn lợi hải sản
phong phú, gồm: 400 loài cá, 500 loài động vật biển, 160 loài san hô, 140 loài
rong biển…, thuận lợi cho ngư nghiệp phát triển với các loại hình nuôi trồng,
đánh bắt, chế biến, kinh doanh hải sản.
Quảng Ninh cũng đồng thời sở hữu hệ thống cảng biển, cảng nước sâu
có năng lực bốc xếp cho tàu hàng vạn tấn, tạo nhiều thuận lợi cho ngành vận


20

tải đường biển giữa nước ta với các nước trên thế giới. Trên địa bàn tỉnh có
hiện 5 cảng biển, gồm: Cảng Cái Lân, Cảng Vạn Gia, Cảng Cửa Ông, Cảng
Hòn Nét và Cảng Mũi Chùa. Bằng việc chủ động khai thác tiềm năng, lợi thế
và huy động mọi nguồn lực đầu tư, những năm qua, Quảng Ninh đã từng
bước nâng cấp hệ thống cảng biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong 5 cảng biển thì hiện có 4 cảng biển là Vạn Gia, Mũi Chùa, Cẩm Phả,
Cái Lân đang khai thác với 21 cầu cảng, có tổng chiều dài 3.451 mét, trong đó
14 cầu chuyên dụng cho: Than, xi măng, xăng dầu, khách, đóng tàu còn lại 7
cầu bốc dỡ hàng hoá tổng hợp. Theo đánh giá của các chuyên gia, nhờ có
vùng nước sâu, ít bị bồi lắng, hệ thống cảng biển của Quảng Ninh có những
ưu thế vượt trội so với những địa phương khác.
Tiềm năng kinh tế biển Quảng Ninh còn được thể hiện ở lợi thế sở hữu
nhiều cảnh quan, với những nét độc đáo, riêng biệt, tạo nên thương hiệu du


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status