TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOA KINH TẾ
===**===
BÁO CÁO THỰC TẬP TỔNG HỢP
TÌNH HÌNH PHÂN BỐ VỐN TRONG PHÁT TRIỂN
KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ EAWER
HUYỆN BUÔN ĐÔN, TỈNH ĐẮK LẮK
Người thực hiện : Nguyễn Văn Quang
Ngành : Kinh Tế Nông Lâm
Khoá : 2007 - 2011
Đắk Lắk, tháng 11 năm 2010
i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOA KINH TẾ
===**===
BÁO CÁO THỰC TẬP TỔNG HỢP
TÌNH HÌNH PHÂN BỐ VỐN TRONG PHÁT TRIỂN
KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ EAWER
HUYỆN BUÔN ĐÔN, TỈNH ĐẮK LẮK
Người hướng dẫn : TS Tuyết Hoa NiêKđăm
CN Y Trung NiêKđăm
CN Phạm Văn Trường
Người thực hiện : Nguyễn Văn Quang
Ngành : Kinh Tế Nông Lâm
Khoá : 2007 - 2011
Đắk Lắk, tháng 11 năm 2010
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài báo cáo thực tập nghề nghiệp này em xin chân thành gửi
lời cảm ơn tới:
Cô Tuyết Hoa NiêKđăm, Thầy Phạm Văn Trường, Thầy Y Trung NiêKđăm
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
Bảng 01: Tiêu chuẩn phân loại hộ 11
Bảng 02: Hiện trạng và cơ cấu đất đai của xã Eawer 16
Bảng 03: Tình hình triển khai vay vốn xã Eawer tới 30/10/2010 20
Bảng 04: Cơ cấu dân cư theo thành phần dân tộc 21
Bảng 05: Cơ cấu cây trồng của xã năm 2009 22
Bảng 06: Cơ cấu vật nuôi của xã năm 2010 23
Bảng 07: Tình hình sử dụng đất của nông hộ 25
Bảng 08: Phân loại nông hộ 26
Bảng 09: Số liệu tình hình nhân khẩu và lao động 26
Bảng 10: Trình độ văn hóa phân theo nhóm hộ 26
Bảng 11: Tình hình trang bị phương tiện sản xuất của các nhóm hộ 28
Bảng 12: Lịch mùa vụ cây ngắn ngày 29
Bảng 13: Kết quả sản xuất nông nghiệp trên địa bàn điều tra 30
Bảng 14: Thu nhập bình quân nhân khẩu/năm 31
Bảng 15: Tình hình chi tiêu của nông hộ năm 2009 33
Bảng 16: Cơ cấu chi tiêu của nông hộ năm 2009 33
Bảng 17: Tình hình vay vốn của các nông hộ tại thôn,buôn điều tra 34
Bảng 18: Hiệu quả sử dụng vốn của nông hộ 37
Hình 01: Lược đồ tự nhiên xã Eawer, huyện Buôn Đôn 13
Hình 02: Cơ cấu dân cư xã Eawer 21
v
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ v
MỤC LỤC vi
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
0$<I
PHẦN IV: KẾT LUẬN 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
vii
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngay từ khi biết sử dụng các loại cây trồng vật nuôi để phục vụ cho những
nhu cầu cơ bản của con người, thì ngay lúc đó con người đã nhận thức được
vai trò của cây trồng vật nuôi trong việc đảm bảo những yếu tố cần thiết cho
sự sống. Nông nghiệp không chỉ đáp ứng nhu cầu về lương thực thực phẩm
phục vụ cho nhu cầu sinh sống của con người mà còn là một trong hai ngành
kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh tế, đóng góp một phần lớn vào trong cơ
cấu GDP và GNP của một quốc gia, nhất là đối với các nước xuất phát điểm
thấp từ ngành nông nghiệp như Việt Nam. Ngoài ra, các sản phẩm nông
nghiệp còn là nguồn nguyên liệu phục vụ cho các ngành công nghiệp chế biến
thực phẩm, đảm bảo an ninh lương thực từ đó tạo điều kiện thuận lợi để thực
hiện được các mục tiêu khác về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng…
Đánh giá được vai trò quan trọng của ngành nông nghiệp đối với sự
nghiệp phát triển đất nước nên trong định hướng phát triển kinh tế xã hội tới
năm 2020 thì ngành nông nghiệp được đề cao và những định hướng của Nhà
Nước đều nhằm hướng tới một nền nông nghiệp phát triển hoàn thiện, và hiện
đại phù hợp với thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
Để có thể phát triển ngành sản xuất đòi hỏi những yếu tố nguồn lực cơ
bản như lao động, tài nguyên thiên nhiên, điều kiện tự nhiên và xã hội, ngoài
các yếu tố đó còn có một nguồn lực vô cùng quan trọng và có ảnh hưởng lớn
tới quá trình sản xuất nông nghiệp đó là nguồn vốn, nguồn vốn là một trong
những yếu tố góp phần quyết định việc sản xuất có được suôn sẻ hay không,
việc thiếu vốn sẽ làm cho việc sản xuất bị chậm lại, thậm chí ngưng hoạt
động sản xuất. Trong sản xuất nông nghiệp, vốn được lấy từ nhiều nguồn
khác nhau, như vay vốn từ các tổ chức tín dụng chính thống như vay từ các
- Nghiên cứu về vốn sử dụng trong nông nghiệp.
- Tình hình sử dụng vốn, số vốn và hiệu quả của việc phân bổ nguồn vốn.
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả của việc sử dụng
nguồn vốn.
1.3.2 Thời gian nghiên cứu.
- Đề tài được tiến hành nghiên cứu trong thời gian 4 tuần, từ ngày
15/10/2010 đến 15/11/2010.
- Số liệu thu thập được lấy trong phạm vi 3 năm: 2008, 2009, 2010.
1.3.3 Không gian nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu 60 hộ sản xuất tại thôn 4 và buôn Tul A, Huyện
Buôn Đôn, Tỉnh Đắk Lắk.
2
PHẦN II: CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm hộ
Có nhiều khái niệm khác nhau về hộ, tổng quát chung lại có các khái niệm
như sau:
Hộ là những người sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có
cùng chung ngân quỹ. (Weberstef, tự điển, 1990).
Hộ là những người cùng chung một huyết tộc, có quan hệ mật thiết với
nhau trong quá trình sáng tạo ra sản phẩm để bảo tồn chính bản thân và cộng
đồng.(Raul,1989).
Hộ là đơn vị cơ bản liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng và
các hoạt động sản xuất khác. (Martin,1988).
Hộ là đơn vị đảm bảo quá trình tái sản xuất sức lao động trực tiếp thông
qua quá trình tổ chức nguồn thu nhập nhằm chi tiêu cho cá nhân và đầu tư
cho sản xuất.
Mặc dù có những khái niệm khác nhau về hộ nhưng đều có những đặc điểm
chung như sau:
với sự bền vững vốn có.
+ Lao động gia đình, đất đai được sử dụng nối tiếp qua nhiều thế hệ, với tài
sản vốn sản xuất chủ yếu của gia đình, quan hệ gia tộc, quan hệ huyết thống, kinh
tế nông hộ không thay đổi về bản chất và không bị biến dạng ngay cả khi nó
được gắn với khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất hiện đại và gắn với thị
trường để phát triển.
+ Kinh tế nông hộ có khả năng tồn tại và phát triển tất cả các nước kể cả
các nước đang phát triển và các nước phát triển.
2.1.3 Khái niệm về vốn
- Vốn sản xuất là giá trị của những tài sản được sử dụng làm phương tiện
trực tiếp phục vụ quá trình sản xuất và dịch vụ, bao gồm tài sản cố định và tài sản
lưu động.
- Vốn đầu tư là toàn bộ các chi phí nhằm duy trì hoặc gia tăng mức vốn sản
xuất.
4
- Đầu tư là hoạt động kinh tế, trong đó người ta sử dụng các tài nguyên để
tiến hành các hoạt động nhằm tái sản xuất giản đơn, hoặc mở rộng tài sản cố định
và các tài sản khác để phục vụ cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh… Nhằm
thu được kết quả nhiều hơn trong tương lai so với giá trị các tài nguyên đã bỏ ra.
* Các tài nguyên bỏ ra là vốn, nhân lực, máy móc,công nghệ,…
* Kết quả đầu tư là năng lực sản xuất mới tăng thêm, tài sản cố định mới
đưa vào sử dụng, số lượng và chất lượng nhân lực tăng thêm, tiềm lực khoa học,
công nghệ được tích lũy,…
* Nếu xét mức độ chi phối, tham gia của người đầu tư vào quá trình đầu tư
người ta phân ra đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
* Nếu xét theo tính chất, người ta phân ra đầu tư phát triển, đầu tư thương
mại, đầu tư tài chính.
Trong nền kinh tế, vốn là một loại hàng hóa và là một trong những nguồn lực
quan trọng trong đầu vào của quá trình sản xuất, nguồn vốn càng nhiều thì quá
trình sản xuất của cải và lưu thông hàng hoá ngày càng thuận lợi hơn, và như vậy
trong một thời gian ngắn, sau một chu kỳ sản xuất nó mất đi hoàn toàn hình thái
ban đầu và chuyển toàn bộ vào giá trị sản phẩm sản xuất ra. Tài sản lưu động
trong nông nghiệp bao gồm: Phân bón, thuốc trừ sâu-dịch bệnh, thức ăn gia súc,
nguyên vật liệu
2.1.4.2 Đặc điểm của vốn sản xuất trong nông nghiệp
Vốn sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm cần lưu ý sau:
- Do đặc điểm của tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp, nhu cầu của vốn
cũng mang tính thời vụ.
- Đầu tư vốn trong nông nghiệp chứa đựng nhiều rủi ro vì kết quả sản xuất
nông nghiệp còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên.
- Do chu kỳ sản xuất của nông nghiệp dài nên vốn dùng trong nông nghiệp
có mức lưu chuyển chậm.
- Trong nông nghiệp, một phần vốn do chính doanh nghiệp hoặc nông hộ
sản xuất ra (hạt giống, phân bón, con giống…) được dùng vào quá trình sản xuất
khác của nông hộ. Các loại vốn này thường không được tính toán vào trong chi
phí sản xuất và không trao đổi trên thị trường. Do đó, việc tính toán nó phải dựa
theo giá trị cơ hội của các sản phẩm đó.
2.1.4.3 Nguồn vốn trong sản xuất nông nghiệp
- Vốn trong nông nghiệp được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau:
+ Vốn tích lũy từ bản thân khu vực nông nghiệp: Là vốn tự do, do nông dân
tiết kiệm được và sử dụng đầu tư vào tái sản xuất mở rộng. Mức độ tích lũy vốn
thường được đánh giá bởi tỷ lệ tiết kiệm so với thu nhập hoặc tỷ lệ tiết kiệm so
với GDP.
+ Vốn đầu tư của ngân sách: Là vốn đầu tư cho nông nghiệp từ nguồn ngân
sách của nhà nước. Vốn này được dùng vào khai hoang và xây dựng vùng kinh tế
6
mới, nông trường quốc doanh, trạm, trại kỹ thuật nông nghiệp, thủy lợi, nghiên
cứu khoa học, chương trình giải quyết việc làm ở nông thôn.
+ Vốn từ tín dụng nông thôn: Là vốn đầu tư cho nông nghiệp của nông hộ,
trang trại và các doanh nghiệp nông nghiệp vay từ hệ thống định chế tài chính tài
- Vốn trong nông nghiệp giúp cho quá trình lưu thông hàng hóa và các sản
phẩm nông nghiệp, vốn có vai trò to lớn trong việc thực hiện các hoạt động giao
dịch, marketing, quảng cáo các sản phẩm nông nghiệp ra ngoài thị trường.
- Vốn giúp cho nông hộ phát triển và mở rộng quy mô sản xuất của gia đình
Sản xuất nông nghiệp của các nông hộ được tiến hành ngoài trời, trên một địa
bàn rộng lớn và chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện tự nhiên nên rủi ro trong nông
nghiệp rất lớn, ngoài ra vì thời gian thu hồi vốn trong nông nghiệp rất chậm, phụ
thuộc vào đặc điểm sinh lý của cây trồng và vật nuôi, nên với những cây trồng vật
nuôi khác nhau thì phương thức sử dụng và hiệu quả sử dụng vốn cũng khác nhau,
thậm chí có thể mất trắng nếu gặp thiên tai, lũ lụt, hạn hán hay dịch họa…
Do những đặc điểm của nguồn vốn trong nông nghiệp bị chi phối nhiều bởi
điều kiện tự nhiên và điều kiện khách quan, nên việc sử dụng nguồn vốn sao cho
có hiệu quả và tránh được những tổn thất do điều kiện tự nhiên mang lại là một
vấn đề cần giải quyết.
2.1.5 Tín dụng và tín dụng nông thôn
2.1.5.1 Tín dụng
Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế
hàng hóa. Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội. Quan hệ
tín dụng được phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan
rã. Khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, cũng là đồng thời xuất hiện
quan hệ trao đổi hàng hóa, thời kỳ này tín dụng được thực hiện dưới hình thức
vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa. Về sau tín dụng đã chuyển sang hình thức
vay mượn bằng tiền tệ.
Theo ngôn ngữ đơn giản hơn chúng ta có thể hiểu tín dụng có nghĩa là sự
vay mượn, là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị dưới
hình thức hiện vật hay tiền tệ từ người sở hữu sang người sử dụng, sau đó một
thời gian giới hạn thì hoàn trả với lượng giá trị lớn hơn.
8
Thực chất, tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình
tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời
9
+ Tín dụng tiêu dùng là hình thức cấp phát tín dụng cho cá nhân để đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng như mua sắm nhà cửa, xe cộ, các loại hàng hóa bền chắc, và cả
những nhu cầu thường ngày.
+ Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa là hình thức cấp phát tín dụng
cho các doanh nghiệp hay các chủ thể kinh tế khác để tiến hành sản xuất và lưu
thông hàng hóa.
- Căn cứ vào chủ thể trong quan hệ tín dụng thì tín dung được chia thành 3
loại, đó là tín dụng thương mại, tín dụng nhà nước và tín dụng ngân hàng.
Tín dụng nông thôn là bao gồm toàn bộ các hoạt động tín dụng trong lĩnh
vực nông nghiệp nông thôn, phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông thôn, nhằm giúp người dân trong khu vực nông thôn phát triển mọi mặt của
đời sống xã hội.
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin
* Đối với số liệu thứ cấp:
- Các thông tin số liệu thứ cấp thu thập bao gồm:
+ Các báo cáo tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của các xã do
các báo cáo viên trình bày, bao gồm các tài liệu về tài nguyên thiên nhiên, dân
số, lao động, văn hóa, giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng.
+ Các báo cáo về thực trạng phát triển kinh tế xã hội và chiến lược phát
triển kinh tế xã hội của xã đến năm 2010.
+Báo cáo về tình hình xóa đói giảm nghèo.
+ Các báo cáo về tình hình thực hiện tín dụng của các tổ chức tín dụng trên
địa bàn xã.
+ Các tài liệu có liên quan khác.
* Đối với số liệu sơ cấp:
- Điều tra tại hộ gia đình tại các thôn buôn về các điều kiện và đặc điểm
chung của các hộ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn.
+ Các hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu trên địa bàn xã.
Hộ khá > 300,000
2.2.4 Phương pháp phân tích
- Sử dụng Phương pháp thống kê kinh tế
Điều tra thu thập tài liệu
Tổng hợp và hệ thống hóa tài liệu trên cơ sở phân tổ thống kê
- Phân tích số liệu dựa trên những số liệu sơ cấp và thứ cấp đã điều tra và
thu thập trong thực tế khảo sát. Phân tích mức độ của hiện tượng, phân tích tình
hình biến động và mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau của các hiện tượng.
11
2.2.5 Các chỉ tiêu phân tích
Phân tích các hệ thống số liệu tính toán như số tương đối, số tuyệt đối, số
bình quân và các loại bảng biểu, biểu đồ… Các chỉ tiêu sử dụng trong quá trình
tính toán bao gồm:
Doanh thu = Σ Sản lượng * giá bán
Năng suất bình quân = Σ sản lượng /Σ diện tích
Thu nhập bình quân / khẩu = Σ thu nhập /Σ số khẩu.
Thu nhập thuần = Σ thu nhập – Σ chi phí sản xuất.
Thu nhập bình quân/khẩu = Σ thu/Σ số khẩu.
Cơ cấu chi tiêu/khẩu = Mức chi tiêu/Σ chi tiêu*100%.
Cơ cấu thu nhập/ khẩu = Mức thu nhập/Σ thu nhập*100%
Σ Chi tiêu = Σ chi trồng trọt + Σ chi chăn nuôi + Σ chi tiêu dùng.
Σ Thu nhập = Σ Thu từ trồng trọt + Σ thu từ chăn nuôi + Σ thu khác.
Σ Tiết kiệm = Σ thu nhập – Σ chi tiêu.
12
PHẦN III
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
Hình 01: Lược đồ tự nhiên xã Eawer, huyện Buôn Đôn
Xã Eawer có ranh giới được xác định theo chỉ thị 364/CT-TTg ngày 01
Nhiệt độ trung bình hàng năm: 24.6
0
C.
Độ ẩm trung bình hàng năm: 81%.
Lượng mưa phân bố không đồng đều, chủ yếu tập trung vào các tháng từ
tháng 4 đến tháng 10 trong năm còn lại là các tháng mùa khô. Với lượng mưa
trung bình năm là khoảng 1614.4mm. Số ngày mưa trung bình 125 ngày/ năm.
Chế độ gió hàng năm thổi theo 2 hướng chính:
Gió Đông Bắc thổi vào các tháng mùa khô với vận tốc trung bình 2m/s, tốc
độ gió lớn nhất có thể đạt lên tới 18m/s.
Gió Tây Nam thổi vào các tháng mùa mưa với vận tốc trung bình 2m/s, tốc độ
gió lớn nhất có thể đạt 14m/s. Vì vậy tốc độ gió trung bình của cả năm đạt 5m/s.
14
Sương mù thường có vào ban đêm với tần suất xuất hiện thấp không gây
ảnh hưởng nhiều tới năng suất và sản lượng cây trồng của toàn địa phương.
3.1.1.3 Tài nguyên đất
Địa bàn xã Eawer có thành phần đất đai tương đối phức tạp và kém màu
mỡ, đa phần là đất cát và đất xám bạc màu không thích hợp cho việc trồng các
loại cây công nghiệp dài ngày, do vậy cây trồng chủ đạo trên địa bàn chủ yếu là
các loại hoa màu và rau củ. Cụ thể có các thành phần đất chủ yếu sau:
Đất đỏ vàng trên đá sét hiếm gồm 2,319 ha chiếm 28.7% tổng diện tích tự
nhiên, phân bổ ở khu vực phía Bắc của xã, đất có thành phần cơ giới trung bình
đến nặng, độ PH từ 4.5-5.1, lượng mùn và lượng đạm tổng số đạt trung bình đến
khá. Lân và kali tổng số khá, lân dễ tiêu thì lại nghèo với dung tích hấp thu thấp.
Đây là loại đất tốt, thích hợp để trồng các loại cây công nghiệp lâu năm và cây ăn
quả cho năng suất, chất lượng cao.
- Đất vàng nhạt trên đá cát: Gồm 5,461 ha, chiếm 67.6% tổng diện tích tự nhiên,
phân bố ở phía nam của xã. Đất có thành phần cơ giới nhẹ pH = 4.0 – 4.8, nghèo mùn
và các chất dinh dưỡng dễ tiêu, hàm lượng kali khá, hàm lượng nhôm di động lớn,
bazơ thấp. Đất này có thể trồng cây công nghiệp lâu năm cho năng suất cao.
5.1 Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp 7.9 1.31 7.9 1.29
5.2 Đất quốc phòng, an ninh 7 1.16 7 1.14
5.3 Đất để sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp 5.79 0.96 5.79 0.94
5.4 Đất có mục đích công cộng 583.42 96.58 592.73 96.63
6 Đất nghĩa trang nghĩa địa 16.4 0.20 18.9 0.23
7 Đất sông suối và mặt đất chuyên dùng 313.61 3.77 313.61 3.89
8 Đất chưa sử dụng 680.48 8.18 377.78 4.69
9 Tổng 8,323.24 100 8,052 100
(Nguồn: Báo cáo của xã Eawer năm 2010)
16
3.1.1.4 Thủy văn, nguồn nước.
Khả năng tập trung nước tương đối nhanh do đặc trưng dòng chảy của hệ
thống sông ngòi ở đây cao nhất gấp 50 lần bình thường, lúc nhỏ nhất lưu lượng
dòng chảy trung bình của lưu vực lớn hơn 251m
2
/s.
Mùa khô xuất hiện từ tháng 7 đến tháng 11, các tháng xuất hiện lũ là tháng
9, 10. Mùa cạn từ tháng 12 đến hết tháng 5 năm sau.
Trên địa bàn xã có con sông SêRêPôk chảy dọc theo rìa phía nam của xã
với chiều dài sông chạy dọc theo diện tích đất đai của xã là 8Km. Sông chạy trải
dài suốt chiều dài của xã cung cấp lượng nước dồi dào cho sản xuất nông nghiệp
của các vùng sản xuất nông nghiệp ven sông, với lưu lượng nước sông lớn vừa
cung cấp thêm cho người dân sống quanh vùng lượng thủy sản tươi sống và còn
phục vụ cho công trình thủy điện SêRêPôk 4 và SêRêPôk 4A.
Với hệ thống suối chằng chịt bao gồm 5 con suối chạy rải rác theo chiều dài
của địa phương nên cung cấp nước tưới và nguồn thực phẩm cho các hộ dân sống
lân cận.
+ Nguồn nước ngầm: Cho đến nay vẫn chưa được khảo sát. Tuy nhiên qua
một số giếng của người dân trên địa bàn cho thấy nguồn nước ngầm ở đây khá
phong phú.
Từ năm 1999 điện lưới đã được kéo về xã, đến nay đã có 1,760 hộ dùng
điện, chiếm 97% tổng số hộ còn lại của 3 thôn chưa có điện là thôn Nà Ven, Ebhi
và thôn 9.
Trường học
Tổng số trường học trên địa bàn xã có 5 trường (gồm 1 trường THCS Hồ
Tùng Mậu, 2 trường Tiểu học Lương Thế Vinh và Nguyễn Du, 2 trường Mầm
non Hoa Sen và Hoa Anh Đào), và 3 phân hiệu ở các thôn xa trung tâm huyện.
Hầu hết các phòng học đã được kiên cố hóa đáp ứng nhu cầu học tập của con em
trong xã. Trong 5 trường học nói trên đã có 3 trường được công nhận trường đạt
chuẩn quốc gia. Với hơn 160 giáo viên, 2,915 học sinh và có 253 cháu đang theo
học lớp mầm non. Hiện nay đã đảm bảo đủ số lượng cán bộ và trang thiết bị phục
vụ cho giảng dạy, không còn tình trạng học 3 ca nữa.
Y tế
Là xã vùng III khó khăn, năm 2008 đến nay được Nhà nước cấp thẻ khám
chữa bệnh 139 cho toàn dân, nên 100% người dân được tham gia khám chữa
bệnh miễn phí tại các cơ sở y tế.
18