Nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 48

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HÀ XUÂN MAI

NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÙ NINH,
TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HÀ XUÂN MAI

NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÙ NINH,
TỈNH PHÚ THỌ
Ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 8.62.01.15

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học:


Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình đã quan tâm,
động viên, đóng góp ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình hoàn thiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn!
Phú Thọ, tháng 01 năm 2018
Tác giả

Hà Xuân Mai


iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ i
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................ii
MỤC LỤC ................................................................................................................. iii
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .......................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ............................................................................... 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ................................................................ 3
3.1. Ý nghĩa khoa học ................................................................................................. 3
3.2. Ý nghĩa thực tiễn .................................................................................................. 3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...................................................................... 4
1.1. Một số vấn đề lý luận về phụ nữ và vai trò của phụ nữ nông thôn trong
phát triển kinh tế hộ .......................................................................................... 4
1.1.1. Phụ nữ và vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội ..................................... 4
1.1.2. Phụ nữ và vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ ................................ 10
1.1.3. Phụ nữ và vai trò của phụ nữ nông thôn ......................................................... 12
1.1.4. Một số vấn đề đặt ra với phụ nữ nông thôn .................................................... 15
1.2. Thực trạng vai trò của phụ nữ trên thế giới và ở Việt Nam ............................... 19
1.2.1. Khái quát về thực trạng vai trò của phụ nữ ở một số nước trên thế giới ........ 19

địa bàn huyện Phù Ninh ................................................................................. 48
3.2.1. Phân tích số lượng và cơ cấu lao động nữ trên địa bàn huyện Phù Ninh ....... 48
3.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn
trong phát triển kinh tế ................................................................................... 68
3.3. Quan điểm và một số giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn
trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ ........ 73
3.3.1. Quan điểm về việc nâng cao vai trò của phụ nữ ............................................. 73
3.3.2. Giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh
tế hộ trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ .......................................... 74
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................ 79
1. Kết luận ................................................................................................................. 79
2. Kiến nghị ............................................................................................................... 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 83
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 80


v

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1.

Tình hình sử dụng đất đai của huyện Phù Ninh năm 2016 ................. 38

Bảng 3.2.

Tình hình dân số và lao động huyện Phù Ninh ................................... 41

Bảng 3.4.

Tình hình phát triển nông nghiệp huyện Phù Ninh ............................. 44


Phân công lao động trong hoạt động lâm nghiệp trong các hộ ở
các điểm nghiên cứu ............................................................................ 58

Bảng 3.14.

Phân công lao động trong việc đưa ra quyết định lớn trong gia đình ....... 60

Bảng 3.15.

Nguồn tiếp cận thông tin của phụ nữ ở điểm nghiên cứu ................... 61

Bảng 3.16.

Tỷ lệ tham gia các lớp tập huấn .......................................................... 62

Bảng 3.17.

Đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất .......................... 63

Bảng 3.18.

Tình hình quản lý tài chính của hộ tại vùng nghiên cứu ..................... 64

Bảng 3.19.

Thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình ................................. 66

Bảng 3.20.


vị trí, vai trò của họ trong nên kinh tế, trong các quan hệ xã hội và trong đời sống
gia đình. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường phụ nữ phải “nặng gánh hai vai”, vừa
phải làm tốt công việc xã hội, vừa đảm nhiệm vai trò làm vợ, làm mẹ trong khi sức
khỏe lại hạn chế,… để cố gắng làm tốt, họ phải nỗ lực và hy sinh.


2

Qua quá trình công tác và nghiên cứu liên quan đến phụ nữ, chúng tôi nhận
thấy việc nghiên cứu về vai trò của phụ nữ nông thôn miền núi huyện Phù Ninh tỉnh
Phú Thọ trong việc phát triển kinh tế được đặt ra như một yêu cầu cấp bách. Nhiều
câu hỏi đặt ra cho bản thân, cho các cấp: Thực trạng vai trò của phụ nữ nông thôn
trong phát triển kinh tế hộ gia đình hiện nay ra sao? Những yếu tố nào tác động đến
việc nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ? Giải pháp
nào nhằm tháo gỡ những khó khăn trong quá trình nâng cao năng lực cho phụ nữ
nông thôn?
Vì vậy, nghiên cứu về vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ
gia đình tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ được đặt ra như một yêu cầu cấp bách đối
với tổ chức Hội phụ nữ.
Để nhận thức sâu sắc về những tiềm năng to lớn của phụ nữ, những cản trở sự
tiến bộ của phụ nữ trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế nông thôn, tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài “Nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển
kinh tế hộ trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ”.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Đề tài đi sâu nghiên cứu thực trạng vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát
triển kinh tế hộ gia đình, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của
phụ nữ nông thôn, góp phần nâng cao đời sống của các hộ gia đình, xây dựng nông
thôn mới và phát triển kinh tế xã hội bền vững, qua đó thúc đẩy sự phát triển nông
nghiệp nông thôn theo xu hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm góp

Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận


4

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số vấn đề lý luận về phụ nữ và vai trò của phụ nữ nông thôn trong
phát triển kinh tế hộ
1.1.1. Phụ nữ và vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội
1.1.1.1. Giới tính và giới
* Khái niệm Giới tính và Giới
Giới tính: là một khái niệm xuất phát từ môn sinh vật học, chỉ sự khác biệt
giữa nam và nữ về mặt sinh học. Con người sinh ra đã có những đặc điểm về giới
(bẩm sinh). Mọi người đàn ông hay đàn bà trên thế giới đều có những đặc điểm giới
tính giống nhau (tính đồng nhất), ví dụ mang thai là đặc điểm giới tính của phụ nữ
[Trần thị Quế, 2006].
Giới: Là một thuật ngữ xã hội học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quan hệ xã
hội giữa nam và nữ. Giới đề cập đến việc phân công lao động, phân chia nguồn lực
và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thể. Giới được hình thành do
học và giáo dục, không đồng nhất, khác nhau ở mỗi nước, mỗi địa phương, thay đổi
theo thời gian, theo quá trình phát triển kinh tế xã hội [Trần thị Quế, 2006].
Khái niệm về “Giới” được xuất hiện ban đầu là các nước nói tiếng anh, vào
khoảng những năm 60 của thế kỷ XX… Ở Việt Nam, khái niệm này mới xuất hiện
vào khoảng thập kỷ 80.
Giới là một thuật nữ xã hội học bắt nguồn từ nhân học, nói đến vai trò, trách
nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ. Giới đề cập đến vấn đề phân
công lao động, các kiểu phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một

tình cảm, mạnh bạo và năng động hơn trong công việc. Đặc trưng này cho phép họ
dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất, vào công việc xã hội, ít bị ràng buộc bởi con
cái và gia đình. Chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ
nữ và nam giới trong xã hội. Hơn nữa, nam giới và nữ giới lại có xuất phát điểm
không giống nhau để tiếp cận cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn với tính
chất và mức độ khác nhau để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận
thức, nắm bắt thông tin xã hội. Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, từ điều kiện và
cơ hội được học tập, tiếp cận việc làm và làm việc, từ vị trí trong gia đình, ngoài xã
hội khác nhau, từ tác động của định kiến xã hội, các hệ tư tưởng, phong tục tập quán
đối với mỗi giới cũng khác nhau. [Trần Thị Vân Anh, 2001]


6

* Nhu cầu lợi ích giới và bình đẳng giới
- Nhu cầu giới: là những nhu cầu xuất phát từ công việc và hoạt động hiện tại
của phụ nữ và nam giới. Nếu những nhu cầu này được đáp ứng thì sẽ giúp cho họ
làm tốt vai trò sẵn có của mình [Trần thị Quế,2006].
- Lợi ích giới (còn gọi là nhu cầu chiến lược): là những nhu cầu của phụ nữ và
nam giới xuất phát từ sự chênh lệch về địa vị xã hội của họ. Những lợi ích này khi được
đáp ứng sẽ thay đổi vị thế của phụ nữ theo hướng bình đẳng [Trần thị Quế, 2006].
- Bình đẳng giới: nam giới và nữ giới được coi trọng như nhau, cùng được
công nhận và có vị thế bình đẳng [Trần thị Quế, 2006].
Nam giới và phụ nữ được bình đẳng về:
+ Các điều kiện để phát huy đầy đủ tiềm năng
+ Các cơ hội để tham gia vào đóng góp, hưởng lợi trong quá trình phát triển.
+ Quyền tự do và chất lượng cuộc sống
* Vai trò của giới:
- Vai trò sản xuất: là những hoạt động do phụ nữ và nam giới thực hiện để
làm ra của cải vật chất hoặc tinh thần đem lại thu nhập hoặc để tự tiêu dùng. Ví dụ:

mạch là Ester Boserup với cuốn “vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế” (1970)
được coi là người đầu tiên đặt vấn đề về cách nhìn nhận vai trò của người phụ nữ.
Điểm hạn chế của cách tiếp cận này là coi phụ nữ như một nhóm đặc thù và những
giải pháp được đưa ra cũng là những giải pháp đặc thù [Nguyễn Đình Cừ, 2007].
1.1.1.2. Vị trí, vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội
+ Vai trò: là một tập hợp các mong đợi, các quyền và những nghĩa vụ được
gán cho một địa vị cụ thể mà địa vị là một sự xác định vị trí xã hội trong một cơ cấu
xã hội.
+ Xã hội: xã hội là một tập thể hay một nhóm những người được phân biệt
với các nhóm người khác bằng các lợi ích, mối quan hệ đặc trưng, chia sẻ cùng một
thể chế và có cùng văn hóa.
+ Phát triển xã hội: Phát triển xã hội có nội hàm rộng nhất bao gồm phát triển
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm chuyển xã hội từ trạng thái này sang
trạng thái khác theo hướng xây dựng xã hội phát triển dân chủ, văn minh, tiến bộ,
đảm bảo cuộc sống văn minh vật chất và tinh thần của con người, tất cả vì hạnh
phúc của con người. Theo đó, tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội từ chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội đều phải được tôn trọng, quản lý phát triển nhằm bảo đảm
quyền con người, bảo đảm tự do và công bằng, thoả mãn nhu cầu nâng cao đời sống
vật chất, tinh thần của mọi thành viên trong xã hội.


8

+ Vai trò giới là những quan niệm văn hóa xã hội được thống nhất tại địa
phương về chức năng tác dụng của phụ nữ và nam giới, mà tại địa phương đó được
coi là thông thường và phù hợp.
Vai trò giới có thể thay đổi được theo thời gian, cùng với sự phát triển của xã
hội, nhanh hay chậm tùy và sự tác động tích cực của mỗi giới, mỗi cá nhân.
Vai trò các thành viên trong gia đình phụ thuộc lẫn nhau. Vai trò sản xuất
của nam giới thường đưa vào vai trò tái sản xuất của phụ nữ. Thường nam giới có

chứng về mang thai, sinh đẻ… [Đỗ Thị Bình, 2003].
Ở Việt Nam ngày nay, phụ nữ chiếm hơn 50% dân số và gần 50% lực lượng
lao động xã hội, vai trò của phụ nữ đã được quan tâm nhiều hơn. Ngày càng có
nhiều phụ nữ đảm nhiệm các vị trí quan trọng trong hệ thống các cơ quan lãnh
đạo Đảng, nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề
nghiệp. Trong bộ chính trị hiện có 3 nữ Ủy viên; trong ban bí thư có 2 thành viên
nữ; trong Ban chấp hành Trung ương hiện có 9 Ủy viên là nữ. Việt Nam có Chủ
tịch quốc hội là nữ, Trưởng Ban pháp chế quốc hội là nữ. Trong Chính phủ hiện
có 2 nữ Bộ trưởng. Tỷ lệ nữ đại biểu quốc hội nhiệm kỳ 2011 - 2016 là 24,4%
(cao thứ 2 trong khu vực và thứ 43 trên thế giới). Tỷ lệ nữ đại biểu HĐND cấp
tỉnh là 25,2%, cấp huyện là 24,6%, cấp xã là 21,7% [18].
Về dân số, lao động và kinh tế, nữ giới cũng chiếm tỷ lệ cao và có vai trò rất
quan trọng về kinh tế. Trong tổng lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên, nữ giới
chiếm 48,5%. Trong tổng số lao động làm việc ở các doanh nghiệp của cả nước, nữ
giới chiếm 42,1%. Tỷ lệ nữ làm việc trong một số ngành chiếm tỷ trọng lớn, như
dệt may trên 70%, nông lâm thủy sản 53,7%, thương mại… Tỷ lệ nữ tham gia quản
lý, điều hành doanh nghiệp là hơn 20%, khá cao so với khu vực và trên thế giới;
những doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ thường có sự phát triển toàn diện, bền vững
hơn và tham gia tốt hơn trong công tác xã hội. Thu nhập bình quân đầu người một
tháng của hộ gia đình do nữ làm chủ hộ cao hơn 22,4% so với con số tương ứng của
hộ do nam giới làm chủ hộ [18].
Về giáo dục đào tạo, nữ giới có nhiều đóng góp to lớn. Giáo viên, một chủ
thể quan trọng của lĩnh vực này thì nữ giới chiếm tỷ lệ khá cao: chiếm tỷ lệ gần như
tuyệt đối ở hệ mẫu giáo; chiếm 70,9% bậc phổ thông; chiếm 48,9% giảng viên đại
học, cao đẳng; 41,2% giảng viên trung cấp chuyên nghiệp. Tỷ lệ nữ học sinh phổ
thong đạt 49,4%; nữ sinh viên đại học, cao đẳng đạt 49.4%, trung cấp chuyên
nghiệp đạt 53,7% [18].


10



11

+ Hộ nông dân: là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp, theo nghĩa rộng
hơn bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn
[Quyền Đình Hà (2004)].
+ Kinh tế hộ nông dân: là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã
hội, trong đó các nguồn lực như đất đai, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của
chung để tiến hành sản xuất. Mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là
tùy thuộc vào chủ hộ, được nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển
[Quyền Đình Hà (2004)].
+ Nông thôn: Nông thôn là phần lãnh thổ của một nhà nước hay một đơn vị
hành chính năm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã
hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp
[Quyền Đình Hà (2004)].
1.1.2.2. Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ
Có thể nói người phụ nữ trong giai đoạn hiện nay trở thành một chủ thể quan
trọng trong đời sống các gia đình. Họ cũng là người lao động trong lĩnh vực buôn
bán dịch vụ góp phần tạo nên nguồn thu tiền mặt cho gia đình. Cùng với chồng,
người vợ cũng trở thành người tạo ra nguồn thu nhập chính. Ở nông thôn khi mà
người chồng đi làm thuê xa kiếm tiền cho gia đình thì người vợ trở thành người lao
động chính, họ là chủ thể chính phát triển kinh tế hộ nông dân ở nông thôn. Ở thành
phố, phụ nữ là lực lượng chính phát triển buôn bán - dịch vụ. Và khi là người làm
trong các công sở thì lương tháng của họ cũng như lương của đồng nghiệp nam.
Hiện nay thật khó khẳng định một cách chung chung rằng người đóng vai trò quan
trọng nhất trong gia đình là người chồng hay người vợ.
Hiện nay có nhiều chương trình hành động thiết thực, vận động phụ nữ cả
nước tham gia tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo. Qua các phong trào thi
đua với sự tham gia chủ động tích cực của chính bản thân các chị em phụ nữ như

lực, trí lực dồi dào và ngày càng phát triển. Vai trò của phụ nữ trong sự phát triển
kinh tế nông thôn thể hiện như sau:
- Trong lao động sản xuất: Phụ nữ là người làm ra phần lớn lương thực, thực
phẩm tiêu dùng cho gia đình. Đặc biệt các hộ nghèo sinh sống chủ yếu dựa vào kết
quả làm việc của phụ nữ.


13

- Ngoài làm việc tham gia vào lao động sản xuất đóng góp thu nhập cho gia
đình, phụ nữ còn đảm nhận chức năng người vợ, người mẹ. Họ phải làm hầu hết các
công việc nội trợ chăm sóc con cái, các công việc này rất quan trọng đối với sự tồn
tại, phát triển của gia đình và xã hội.
- Trong sinh hoạt cộng đồng: phụ nữ tham gia hầu hết các hoạt động cộng
đồng tại xóm, thôn bản.
Như vậy, phụ nữ đã khẳng định vai trò và vị trí của họ trong gia đình, trong
mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, trong bước tiến của nhân loại. Phụ nữ
cùng lúc phải thực hiện nhiều vai trò, cho nên họ cần được chia sẻ, thông cảm cả về
hành động lẫn tinh thần, gia đình và xã hội cũng cần có những trợ giúp để họ thực
hiện tốt hơn vai trò của mình
1.1.3.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế
nông thôn
* Quan niệm về giới, những phong tục tập quán ở Việt Nam và một số nước
Á Đông: Phụ nữ trước hết phải lo việc gia đình, con cái. Dù làm bất kỳ công việc gì,
thì việc nội trợ vẫn là trách nhiệm của họ, đây là một quan niệm ngự trị ở nước ta từ
nhiều năm nay. Sự tồn tại những hủ tục lạc hậu, trong nam kinh nữ đã kìm hãm tài
năng sáng tạo của phụ nữ, hạn chế sự cống hiến của họ cho xã hội và cho gia đình.
Việc mang thai, sinh đẻ, nuôi dưỡng con nhỏ và làm nội trợ gia đình đè nặng lên đôi
vai người phụ nữ. Đây là trở ngại lớn cho họ tập trung sức lực, thời gian, trí tuệ vào
sản xuất và các hoạt động chính trị, xã hội. Vì vậy nhiều chị em trở nên không mạnh

Anh, (2001)].
* Yếu tố sức khỏe: Với phụ nữ nông thôn vừa phải lao động nặng vừa phải
thực hiện thiên chức của mình là phải mang thai, sinh con và cho con bú, cùng với
điều kiện sinh hoạt thấp kém đã làm cho sức khỏe của họ bị giảm sút. Điều này
không những ảnh hưởng đến khả năng lao động và còn làm vai trò của phụ nữ trong
gia đình cũng như trong việc phát triển kinh tế gia đình trở nên thấp hơn.
* Khả năng tiếp cận thông tin: Do phụ nữ phải đảm nhận một khối lượng
công việc lớn nên cơ hội để họ giao tiếp rộng rãi, tham gia hoạt động cộng đồng để
nắm bắt thông tin rất hiếm. Ở nhiều vùng nông thôn hẻo lánh người dân còn chưa
được tiếp xúc thường xuyên, liên tục với báo chí và các hình thức truyền tải thông
tin khác.
* Yếu tố do bản thân người phụ nữ: đó chính là nguyên nhân do phụ nữ gây
ra, đó chính là quan niệm lệch lạc về giới, nhiều vùng nông thôn ngay cả phụ nữ


15

cũng có cái nhìn không đúng về vấn đề đó. Họ cũng cho rằng, những công việc nội
trợ, chăm sóc gia đình, con cái, v.v., là việc của phụ nữ. Trong khi họ lên tiếng đòi
quyền bình đẳng thì họ vô tình ràng buộc thêm trách nhiệm cho mình. Vậy nên,
toàn bộ công việc gia đình, sản xuất càng đè nặng lên đôi vai phụ nữ khiến họ mệt
mỏi cả về thể xác lẫn tinh thần. Ta có thể khẳng định rằng, phụ nữ có vai trò đặc
biệt quan trọng trong phát triển của nhân loại. Song có nhiều nguyên nhân gây cản
trở sự tiến bộ của họ trong cuộc sống.
1.1.4. Một số vấn đề đặt ra với phụ nữ nông thôn
1.1.4.1. Về chuyên môn kỹ thuật
Quá trình chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thị trường trong những năm gần
đây đã thực sự giải phóng lao động và đặc biệt là lao động nữ ở nông thôn thoát ra
khỏi những ràng buộc của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, nhưng chưa thực sự giải
phóng họ khỏi những ràng buộc của thể chế và tập quán của nền kinh tế truyền

Việt Nam, phụ nữ và nam giới có quyền bình đẳng về tài sản, điều đó thể hiện qua
Hiến pháp và những bộ luật liên quan đến quyền sở hữu như Luật đất đai (1993,
2003), Bộ luật dân sự (1995), Luật hôn nhân và gia đình (2000). Tuy nhiên, trong
quá trình thực hiện có lúc, có nơi chưa đảm bảo theo đúng quy định. Ví dụ: việc
thực hiện quyền sử dụng đất đã được quy định trong luật đất đai; luật này quy định
hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng,
cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất. Trong giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất phải ghi đầy đủ tên của cả vợ chồng. Nhưng trong thực tế, hầu như các
giấy chứng nhận quyền sử dụng chỉ ghi tên một người (chủ yếu là người chồng). Vì
thế từ vị trí đồng sử dụng với người chồng, người vợ đã rơi xuống vị trí người thừa
hành, không có quyền quyết định. Người chủ hộ (nam giới) có quyền lực pháp lý và
kinh tế hơn các thành viên khác trong gia đình. Việc không đứng tên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đã hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng và một số quyền hạn
khác của phụ nữ như chuyển nhượng, thừa kế. Việc không có quyền tương đương
với nam giới đối với đất đai - một tài sản chủ chốt, một tư liệu sản xuất quan trọng
của hộ gia đình nông thôn, ảnh hưởng rất lớn đến địa vị kinh tế và xã hội của phụ
nữ so với nam giới. Cho dù pháp luật quy định về quyền thừa kế như nhau của con
trai và con gái, nhưng theo truyền thống thì chủ yếu người con trai trong gia đình có
quyền thừa kế nhà cửa, đất đai. Nhiều nghiên cứu cho thấy phụ nữ chỉ có quyền sử
dụng đất trong mối liên hệ với đàn ông. Khi còn nhỏ, người con gái có phần đất


17

được giao trong gia đình bố mẹ đẻ, khi lấy chồng, hầu như không thể mang theo
quyền sử dụng phần đất, trừ khi họ lấy chồng cùng làng. Sau khi kết hôn, người vợ
về cư trú bên bố mẹ chồng và khi ra ở riêng có thể được gia đình bố mẹ chồng chia
sẽ một phần đất canh tác. Song, nếu như cuộc sống hôn nhân này bị đổ vỡ thì hầu
như khó đảm bảo quyền sử dụng đất đai của người phụ nữ sau khi li dị. Người phụ
nữ góa cũng gặp không ít rắc rối về việc được đứng tên trong giấy chứng nhận

chính sách lớn của Đảng và nhà nước đã tạo điều kiện cho phụ nữ việt Nam phát
triển. Theo đánh giá tổng quan, nếu mức độ ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn
cầu là thấp, khả năng đến cuối năm 2010, lao động nữ sẽ đạt và vượt chỉ tiêu 50%
lực lượng lao động của cả nước. Tuy nhiên, vấn đề quan tâm hiện nay là chất lượng
công việc của lao động nữ vì chủ yếu các chị em vẫn chiếm số đông ở những lĩnh
vực không đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật cao, có thu nhập thấp và việc làm bấp bênh,
độ rủi ro cao. Trong các ngành nghề đã có sự chuyển dịch lớn về cơ cấu lao động,
những vẫn thể hiện sự bất bình đẳng về giới, thể hiện qua tỷ lệ lao động nữ trong
khu vực nông - lâm - ngư nghiệp dù có chiều hướng giảm nhưng xét về cơ cấu giới
thì vẫn còn rất cao. Nhiều nghiên cứu hiện nay về vai trò của nam và nữ trong kinh
tế thị trường phản ánh thực tế là ở cả 2 khu vực lao động được trả lương và không
được trả lương, phụ nữ đều có thu nhập thấp hơn nam giới. Mặc dù pháp luật quy
định “Công việc như nhau, tiền công ngang nhau” nhưng phụ nữ thường làm lao
động giản đơn nên tiền công trung bình trả lương cho lao động nữ chỉ bằng 72% so
với nam giới. Nguyên nhân chủ yếu là do lao động nữ tập trung vào khu vực ngành
nghề không đòi hỏi tay nghề, kỹ thuật cao, năng suất lao động thấp và bị trả lương.
Trừ khu vực dịch vụ và may mặc, còn ở hầu hết các ngành khác lương của phụ nữ
thấp hơn lương của nam giới do không làm quản lý. Trong công việc tiền công bình
quân của phụ nữ chỉ bằng 62% tiền lương của nam giới. Trong khu vực không trả
lương phụ nữ làm việc nhiều hơn nam giới. Việc phân công lao động trong nội bộ
gia đình ở nông thôn đang đặt gánh nặng lên vai người phụ nữ. Ngoài công việc sản
xuất trên đồng ruộng phụ nữ còn chăn nuôi và các công việc khác thuộc về gia đình
và phục vụ gia đình.
* Vấn đề ra quyết định
Tìm hiểu vấn đề ai là người có tiếng nói quyết định đối với những vấn đề
quan trọng của gia đình như mua sắm tài sản đắt tiền, xây dựng nhà cửa, những
khoản chi lớn liên quan đến thành quả lao động của gia đình ta thấy có nhiều bất
cập. Phụ nữ được tham gia ý kiến và bàn bạc chung với tư cách là người giữ tiền
của gia đình “tay hòm chìa khóa” trong những quyết định quan trọng nhưng trên
thực tế họ không có quyền quyết định việc chi tiêu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status