ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––––––––
TRIỆU THỊ LIỄU
NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÒA AN
TỈNH CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
THÁI NGUYÊN - 2016
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––––––––
TRIỆU THỊ LIỄU
NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÒA AN
TỈNH CAO BẰNG
Chuyên ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 60 62 01 16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Hòa An, UBND huyện Hòa An, Phòng thống kê huyện Hòa An, các tổ chức hội
đoàn thể huyện Hòa An.
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND, hội phụ nữ, các ban ngành đoàn thể các
xã đặc biệt là 3 xã Nam Tuấn, Hà Trì, TT Nước Hai và 150 hộ dân đã nhiệt tình ủng
hộ và cung cấp cho tôi những thông tin cần thiết cho luận văn.
Trong quá trình thực hiện đề tài khó tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót.
Kính mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo, đồng nghiệp và bạn đọc
để luận văn được hoàn thiện hơn.
Thái Nguyên, ngày 26
tháng 10 năm 2016
Tác giả luận văn
Triệu Thị Liễu
iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN ....................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................ ii
MỤC LỤC ................................................................................................................. iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .........................................................................v
DANH MỤC CÁC BẢNG........................................................................................ vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ........................................................................................... vii
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ..........................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ...............................................................................2
2.2.3.2. Thời gian nghiên cứu ...................................................................................25
2.3. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................25
2.3.1. Phương pháp tiếp cận ......................................................................................25
2.3.2. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu ...............................................................25
2.3.3. Phương pháp thu thập số liệu ..........................................................................26
2.4. Các chỉ tiêu nghiên cứu ......................................................................................28
2.4.1. Nhóm các chỉ tiêu phản ánh tình hình kinh tế xã hội ......................................28
2.4.2. Nhóm các chỉ tiêu phản ánh tình hình lao động nữ trên địa bàn.....................28
2.4.3. Nhóm các chỉ tiêu phản ánh vị trí, vai trò của phụ nữ trong kinh tế hộ..........28
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ..................................................................29
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng ....................29
3.1.1. Điều kiện tự nhiên ...........................................................................................29
3.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội ..................................................................................32
3.2. Đánh giá thực trạng vai trò của phụ nữ trên địa bàn huyện ...............................40
3.2.1. Phân tích số lượng và cơ cấu lao động nữ trên địa bàn huyện Hòa An ..........40
3.2.2. Thực trạng vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế nông hộ tại các hộ nghiên
cứu .............................................................................................................................46
3.2.3. Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao vai trò của phụ nữ nông
thôn trong phát triển kinh tế ......................................................................................64
3.2.4. Những thuận lợi và khó khăn của việc nâng cao vai trò của phụ nữ ..............65
3.3. Quan điểm và một số giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn trong
phát triển kinh tế hộ trên địa bàn huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng .............................69
3.3.1. Quan điểm về việc nâng cao vai trò của phụ nữ .............................................69
3.3.2. Giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ
trên địa bàn huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng ..............................................................70
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................77
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................79
PHỤ LỤC .................................................................................................................81
Hội đồng nhân dân
UBND
Ủy ban nhân dân
TT
Thị trấn
ĐTN
Đoàn thanh niên
UV
Ủy Viên
BCH
Ban chấp hành
CTXH
Công tác xã hội
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.17. Thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình .....................................61
Bảng 3.18. Ý kiến thăm dò từ các hộ gia đình ở địa điểm nghiên cứu .....................62
vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1. Trình độ văn hóa trong độ tuổi của vùng nghiên cứu...........................60
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ người ốm được chăm sóc, chữa trị tại nhà ..................................61
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đời sống của mỗi cá nhân luôn được bắt đầu trước hết từ phạm vi gia đình và
trong suốt cuộc đời họ, gia đình là môi trường đóng vai trò hết sức quan trọng. Nếu
gia đình được coi là tế bào của xã hội thì người phụ nữ được coi là hạt nhân của tế
bào này. Vì vậy Phụ nữ có ảnh hưởng to lớn tới hạnh phúc và sự ổn định của gia
đình và sự phát triển của xã hội. Trong xã hội, phụ nữ có mặt trong hầu hết các công
việc và nắm giữ nhiều vị trí quan trọng. Bằng lao động sáng tạo của mình, người
phụ nữ đã góp phần làm giàu cho xã hội, làm phong phú cuộc sống con người.
Ở Việt Nam, Đảng và nhà nước ta ngày càng quan tâm phát huy vai trò của
phụ nữ trong xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia vào tất cả các lĩnh
vực. Họ tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh
quốc phòng và càng ngày càng thể hiện vị trí vai trò của mình trong xã hội. Trong
suốt chặng đường đấu tranh dựng nước, giữ nước, lịch sử Việt Nam đã ghi nhận
những cống hiến to lớn của phụ nữ. Trong công cuộc đổi mới đất nước của Đảng,
họ luôn giữ gìn, phát huy và nêu cao tinh thần yêu nước, đoàn kết, năng động, sáng
triển kinh tế nông thôn miền núi trên địa bàn huyện Hòa An.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Đóng góp vào hệ thống lý luận về vai trò của phụ nữ trong sự phát triển kinh
tế xã hội nói chung và vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ. Có
thể là một tài liệu tham khảo bổ ích cho việc nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong
tương lai.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đánh giá thực trạng vị trí, vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh
tế hộ trên địa bàn huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.
Góp phần nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ
nói chung và trên địa bàn huyện Hòa An nói riêng.
Góp phần tham vấn cho các cấp chính quyền, đoàn thể, các tổ chức xã hội
trong việc xây dựng các chính sách phát triển kinh tế xã hội, phát huy vai trò của
phụ nữ nông thôn, vì sự tiến bộ của phụ nữ và phát triển kinh tế hộ trên địa bàn
huyện Hòa An cũng như các địa bàn có điều kiện tương tự.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số vấn đề lý luận về phụ nữ và vai trò của phụ nữ nông thôn trong
phát triển kinh tế hộ
1.1.1. Phụ nữ và vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội
1.1.1.1. Giới tính và giới
* Khái niệm Giới tính và Giới
Giới tính: là một khái niệm xuất phát từ môn sinh vật học, chỉ sự khác biệt
giữa nam và nữ về mặt sinh học. Con người sinh ra đã có những đặc điểm về giới
(bẩm sinh). Mọi người đàn ông hay đàn bà trên thế giới đều có những đặc điểm giới
hay gái. Đó là sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của ông bà, bố mẹ, anh, chị.
Đứa trẻ được dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính của mình.
- Trong nhà trường, các thầy cô giáo cũng định hướng theo sự khác biệt về
giới cho học sinh. Học sinh nam được hướng theo các ngành kỹ thuật, điện tử, các
ngành cần có thể lực tốt. Học sinh nữ được hướng theo các ngành như may, thêu,
trang điểm, các ngành cần sự khéo léo, tỷ mỷ. [12]
+ Sự khác biệt về giới:
- Phụ nữ được xem là phái yếu, vì họ sống thiên hơn về tình cảm, họ là thành
phần quan trọng tạo nên sự yên ấm trong gia đình. Thiên chức của phụ nữ là làm vợ,
làm mẹ, nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới và cũng từ đấy mối quan
tâm của họ cũng có phần khác nam giới.
- Nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình. Họ cứng rắn hơn về
tình cảm, mạnh bạo và năng động hơn trong công việc. Đặc trưng này cho phép họ
dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất, vào công việc xã hội, ít bị ràng buộc bởi con
cái và gia đình. Chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ
nữ và nam giới trong xã hội. Hơn nữa, nam giới và nữ giới lại có xuất phát điểm
không giống nhau để tiếp cận cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn với tính
chất và mức độ khác nhau để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận
thức, nắm bắt thông tin xã hội. Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, từ điều kiện và
cơ hội được học tập, tiếp cận việc làm và làm việc, từ vị trí trong gia đình, ngoài xã
hội khác nhau, từ tác động của định kiến xã hội, các hệ tư tưởng, phong tục tập quán
đối với mỗi giới cũng khác nhau.[12]
* Nhu cầu lợi ích giới và bình đẳng giới
5
- Nhu cầu giới: là những nhu cầu xuất phát từ công việc và hoạt động hiện tại
của phụ nữ và nam giới. Nếu những nhu cầu này được đáp ứng thì sẽ giúp cho họ
làm tốt vai trò sẵn có của mình [1].
thấp và giá trị công việc bị đánh giá thấp.
Phân công lao động theo giới truyền thống đã tạo ra bất bình đẳng giới, hạn chế
sự phát huy tiềm năng của phụ nữ và ảnh hưởng tới sự tham gia của phụ nữ vào quá
trình phát triển của đất nước và xây dựng hạnh phúc gia đình. Vì vậy, một trong những
yếu tố tạo nên bình đẳng giới là thay đổi phân công lao động theo giới truyền thống.
* Quan điểm về giới:
Quan điểm giới khẳng định và đánh giá cao vai trò của phụ nữ. Quan điểm
này cho rằng để đạt đến bình đẳng nam nữ cần thay đổi cơ chế phân công lao động
hiện đang quá nhấn mạnh đến mức khác biệt giữa phụ nữ và nam giới.
Vào những năm 1970 người ta đã tìm cách đưa các vấn đề của phụ nữ vào
các chính sách phát triển nhưng nhìn chung, các nghiên cứu cũng như các nhà làm
chính sách đã không thấy hết được vai trò kinh tế to lớn của phụ nữ. Nhà kinh tế
người Đan mạch là Ester Boserup với cuốn “vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh
tế” (1970) được coi là người đầu tiên đặt vấn đề về cách nhìn nhận vai trò của người
phụ nữ. Điểm hạn chế của cách tiếp cận này là coi phụ nữ như một nhóm đặc thù và
những giải pháp được đưa ra cũng là những giải pháp đặc thù.
1.1.1.2. Vị trí, vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội
+ Vai trò: là một tập hợp các mong đợi, các quyền và những nghĩa vụ được
gán cho một địa vị cụ thể mà địa vị là một sự xác định vị trí xã hội trong một cơ cấu
xã hội [19].
+ Xã hội: xã hội là một tập thể hay một nhóm những người được phân biệt
với các nhóm người khác bằng các lợi ích, mối quan hệ đặc trưng, chia sẻ cùng một
thể chế và có cùng văn hóa.
+ Phát triển xã hội: Phát triển xã hội có nội hàm rộng nhất bao gồm phát triển
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm chuyển xã hội từ trạng thái này sang
trạng thái khác theo hướng xây dựng xã hội phát triển dân chủ, văn minh, tiến bộ,
đảm bảo cuộc sống văn minh vật chất và tinh thần của con người, tất cả vì hạnh
7
8
Theo kết quả của những nghiên cứu trước phụ nữ là người tạo ra phần lớn
lương thực tiêu dùng cho gia đình. 1/4 số hộ gia đình trên thế giới do nữ làm chủ hộ
và nhiều hộ gia đình khác phải phụ thuộc vào thu nhập của lao động nữ. Tuy vậy sự
bất bình đẳng vẫn còn tồn tại ở rất nhiều nước trên thế giới. Đặc biệt là ở vùng nông
thôn, phụ nữ bị hạn chế về mọi mặt, đời sống, điều kiện sống và làm việc tồi tàn,
địa vị trong xã hội thấp. Trong số hơn 1,3 tỷ người trên thế giới ở trong tình trạng
nghèo khổ thì có đến 70% là nữ. Có ít nhất 1/2 triệu phụ nữ tử vong do các biến
chứng về mang thai, sinh đẻ… [3].
Ở Việt Nam ngày nay, phụ nữ chiếm hơn 50% dân số và gần 50% lực lượng
lao động xã hội, vai trò của phụ nữ đã được quan tâm nhiều hơn. Ngày càng có
nhiều phụ nữ đảm nhiệm các vị trí quan trọng trong hệ thống các cơ quan lãnh
đạo Đảng, nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề
nghiệp. Trong bộ chính trị hiện có 2 nữ Ủy viên Bộ chính trị. Trong ban bí thư
có 2 thành viên nữ. Trong Ban chấp hành Trung ương hiện có 9 Ủy viên là nữ.
Nhiều khóa, Việt Nam có Phó chủ tịch quốc hội là nữ, 1 Trưởng Ban công tác
Đại biểu quốc hội là nữ. Trong Chính phủ hiện có 2 nữ Bộ trưởng. Tỷ lệ nữ đại
biểu quốc hội nhiệm kỳ nhiệm kỳ 2011 - 2016 là 24,4% (cao thứ 2 trong khu vực
và thứ 43 trên thế giới). Tỷ lệ nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh là 25,2%, cấp huyện là
24,6%, cấp xã là 21,7% [21].
Về dân số, lao động và kinh tế, nữ giới cũng chiếm tỷ lệ cao và có vai trò rất
quan trọng về kinh tế. Trong tổng lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên, nữ giới
chiếm 48,5%. Trong tổng số lao động làm việc ở các doanh nghiệp của cả nước, nữ
giới chiếm 42,1%. Tỷ lệ nữ làm việc trong một số ngành chiếm tỷ trọng lớn, như
dệt may trên 70%, nông lâm thủy sản 53,7%, thương mại… Tỷ lệ nữ tham gia quản
lý, điều hành doanh nghiệp là hơn 20%, khá cao so với khu vực và trên thế giới;
những doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ thường có sự phát triển toàn diện, bền vững
kiến trọng nam kinh nữ. Việc thực hiện trong thực tế còn có khoảng cách với quy
định pháp luật. Định kiến giới còn khá phổ biến trong mọi đối tượng, trên nhiều mặt.
Tỷ số giới tính của trẻ em mới sinh (số bé trai/100 bé gái) đã tăng lên nhanh (từ
105,5 năm 2005 lên 111,2 năm 2010, lên 111,9 năm 2011; ở khu vực thành thị, ở
một số vùng cao còn hơn) gây ra nguy cơ mất cân bằng giới tính. Bạo lực gia đình,
tệ mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em, lấy chồng người nước ngoài diễn ra phức tạp.
10
Tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý còn thấp. Ở nhiều vùng nông thôn, miền núi,
vùng sâu vùng xa, phụ nữ còn bị ràng buộc bởi phong tục tập quán lạc hậu, tỷ lệ
phụ nữ nghèo, phụ nữ mù chữ còn cao [21].
1.1.2. Phụ nữ và vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ
1.1.2.1. Một số khái niệm:
+ Phát triển: là quá trình thay đổi toàn diện nền kinh tế, bao gồm sự tăng
thêm về quy mô sản lượng cải thiện về cơ cấu hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao
chất lượng cuộc sống [4].
+ Phát triển kinh tế: là quá trình lớn lên, tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế.
Nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu,
thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống [4].
+ Hộ: là một nhóm người cùng huyết tộc hay không cùng huyết tộc, họ cùng
sống chung hay không cùng sống chung dưới một mái nhà, có chung một nguồn thu
nhập và ăn chung, cùng tiến hành sản xuất chung [2].
+ Hộ nông dân: là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp, theo nghĩa rộng
hơn bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn [11].
+ Kinh tế hộ nông dân: là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã
hội, trong đó các nguồn lực như đất đai, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của
chung để tiến hành sản xuất. Mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là
tùy thuộc vào chủ hộ, được nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển [2].
và phụ nữ cả nước.
Trong thực tế phụ nữ Việt Nam đang có mặt ở hầu hết các cơ quan quản lý
hành chính, sự nghiệp và doanh nghiệp. Phụ nữ chiếm 50,3% số người làm công ăn
lương và 32,4% các chủ doanh nghiệp.
Trong khi các gia đình do phụ nữ làm chủ hộ ở Việt Nam nói chung sung túc
hơn các gia đình do nam giới làm chủ hộ, vẫn có những nhóm gia đình nhỏ và phụ
nữ làm chủ hộ lại rất nghèo và có nguy cơ bị tổn thương cao. Các số liệu nghiên cứu
đã cho thấy vai trò và khả năng của phụ nữ trong nền kinh tế cũng như trong gia
đình, phụ nữ hoàn toàn có khả năng làm việc và tổ chức không chỉ trong việc chăm
sóc gia đình mà còn cả những công việc làm ăn kinh tế tạo thu nhập cho gia đình
hoặc những công việc khác ngoài xã hội.
12
1.1.3. Phụ nữ và vai trò của phụ nữ nông thôn
1.1.3.1. Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn
Hiện nay, phụ nữ nông thôn đã nhận thức và phát huy vai trò của mình trong
sản xuất nông nghiệp, các ngành kinh tế phi nông nghiệp, các hoạt động xã hội và
cộng đồng nông thôn. Phát triển kinh tế thị trường đã đem lại nhiều cơ hội hơn cho
phụ nữ. Phụ nữ luôn là người đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng sản
xuất và tái sản xuất. Sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã đem lại cho xã hội nguồn nhân
lực, trí lực dồi dào và ngày càng phát triển. Vai trò của phụ nữ trong sự phát triển
kinh tế nông thôn thể hiện như sau:
- Trong lao động sản xuất: Phụ nữ là người làm ra phần lớn lương thực, thực
phẩm tiêu dùng cho gia đình. Đặc biệt các hộ nghèo sinh sống chủ yếu dựa vào kết
quả làm việc của phụ nữ.
- Ngoài làm việc tham gia vào lao động sản xuất đóng góp thu nhập cho gia
đình, phụ nữ còn đảm nhận chức năng người vợ, người mẹ. Họ phải làm hầu hết các
công việc nội trợ chăm sóc con cái, các công việc này rất quan trọng đối với sự tồn
Ngoài thời gian lao động sản xuất, người phụ nữ dường như ít có thời gian dành cho
nghỉ ngơi hoặc hưởng thụ văn hóa tình thần, học hỏi nâng cao hiểu biết kiến thức xã
hội mà họ phải giành phần lớn thời gian còn lại cho công việc gia đình. Do vậy, phụ
nữ bị hạn chế về kỹ thuật chuyên môn và sự hiểu biết xã hội. Phụ nữ ở độ tuổi lao
động có trình độ chuyên môn kỹ thuật là 6%, còn ở nam giới tỷ lệ này là 10% .
Theo thông báo của Liên hiệp quốc thì hiện nay thế giới còn hơn 840 triệu người bị
mù chữ, trong đó nữ giới chiếm 2/3; trong số hơn 180 triệu trẻ em không được đi
học thì có tới 70% là trẻ em gái.
Còn ở Việt Nam, theo thống kê cho thấy tỷ lệ lao động nữ không qua đào tạo
là rất cao, chiếm gần 90% tổng số lao động không qua đào tạo trong cả nước; chỉ có
0,63% công nhân kỹ thuật có bằng là nữ, trong khi chỉ tiêu này của nam giới là
3,46%. Tỷ lệ lao động nữ có trình độ đại học và trên đại học 0,016%, tỷ lệ này ở
nam giới là 0,077% (gấp 5 lần so với nữ giới). Điều đó cho thấy trình độ học vấn và
chuyên môn nghề nghiệp của phụ nữ là rất thấp và thấp hơn so với nam giới. Phụ
nữ bị hạn chế về kỹ thuật, chuyên môn và sự hiểu biết nên gặp không ít khó khăn
trong việc nắm bắt kiến thức pháp luật, tìm nguồn vốn, tìm kiếm thị trường khó
khăn trong việc tiếp cận và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời
sống. Do vậy, hiệu quả công việc và năng suất lao động của họ thấp.
14
* Yếu tố sức khỏe: Với phụ nữ nông thôn vừa phải lao động nặng vừa phải
thực hiện thiên chức của mình là phải mang thai, sinh con và cho con bú, cùng với
điều kiện sinh hoạt thấp kém đã làm cho sức khỏe của họ bị giảm sút. Điều này
không những ảnh hưởng đến khả năng lao động và còn làm vai trò của phụ nữ trong
gia đình cũng như trong việc phát triển kinh tế gia đình trở nên thấp hơn.
* Khả năng tiếp cận thông tin: Do phụ nữ phải đảm nhận một khối lượng
công việc lớn nên cơ hội để họ giao tiếp rộng rãi, tham gia hoạt động cộng đồng để
nắm bắt thông tin rất hiếm. Ở nhiều vùng nông thôn hẻo lánh người dân còn chưa
cùng nhóm tuổi. Đặc biệt phụ nữ nông thôn trên 65 tuổi vẫn có 36% tham gia lực
lượng lao động [6].
Trung Quốc: Nhóm phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động cao nhất
từ 20-29 tuổi, tiếp đó là nhóm 30-39 tuổi, và giảm dần theo các nhóm tuổi cao hơn.
Giống như ở Bangladesh, ở nông thôn Trung Quốc phụ nữ ở độ tuổi 60-64 vẫn còn
32,53% tham gia lực lượng lao động, con số này cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị
cùng nhóm tuổi [6].
* Trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp: Nhìn chung, trình độ chuyên môn của
lao động nữ nông thôn ở các nước đang phát triển còn rất thấp. Ở các nước đang
phát triển cho đến nay có tới 31,6% lao động nữ không được học hành, 5,2% mới
chỉ học xong phổ thông và 0,4% mới tốt nghiệp cấp hai. Ít có điều kiện học hành
nên những người phụ nữ này không có điều kiện tiếp cận một cách bài bản với các
kiến thức về công nghệ trồng trọt và chăn nuôi theo phương thức tiên tiến, những
kiến thức họ có được chủ yếu là do tự học từ họ hàng, bạn bè hay từ kinh nghiệm
được truyền đạt theo phương pháp này thường ít khi làm thay đổi được mô hình,
cách thức sản xuất của họ [6.
* Bất bình đẳng giới mang tính phổ biến: Bất bình đẳng giới tồn tại ở hầu hết
các nước đang phát triển. Điều đó trước hết bắt nguồn từ tình trạng phụ nữ có trình
độ học vấn thấp. Một nguyên nhân khác không kém phần quan trọng là những định
kiến xã hội không coi trọng phụ nữ đã được hình thành ở hầu hết các nước đang
phát triển. Do vậy, ngay cả khi phụ nữ có bằng cấp cao và kỹ năng tốt thì những
công việc họ làm vẫn không được ghi nhận một cách xứng đáng. Đấu tranh để đạt
được sự bình đẳng thực sự giữa nam và nữ trong xã hội ta nói riêng và trên thế giới
nói chung là vấn đề lâu dài và còn nhiều khó khăn, thử thách. Đây là cuộc đấu tranh
giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và lạc hậu. Đất nước ta đã trải qua hàng ngàn năm
phong kiến, tư tưởng “trọng nam kinh nữ” vẫn còn ăn sâu trong tiềm thức của một
16