SKKN áp dụng “ các kỹ thuật dạy học tích cực” là một trong những áp dụng tốt trong dạy học môn toán - Pdf 34

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 2

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ÁP DỤNG “CÁC KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC”
TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG THPT
GÓP PHẦN PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG,
TƯ DUY ĐỘC LẬP, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH

Người thực hiện: Lê Khắc Khuyến
Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn
SKKN thuộc môn: Toán

THANH HÓA NĂM 2015

A.ĐẶT VẤN ĐỀ

1


- Dạy học là một nghệ thuật, “ Nghề cao quý trong những nghề cao quý” như Cố
Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nói. Do vậy việc đổi mới phương pháp dạy học
(PPDH) là trách nhiệm và lương tâm của nhà giáo.
- Trong những năm gần đây, việc áp dụng các PPDH tích cực, thực hiện các dự
án liên kết với các nước trong khu vực và thế giới góp phần nâng cao chất lượng
dạy và học của Việt nam
- Trong dạy học nói chung và môn Toán nói riêng, việc phát huy tính tích cực,
chủ động, tư duy sáng tạo của học sinh là yêu cầu bắt buộc của các thầy cô giáo
nhằm thay đổi nhận thức của người học từ tiếp thu thụ động sang chủ động lĩnh
hội tri thức và phát huy sáng tạo các kiến thức đó


2


nhiều cuộc cải cách, đổi mới với nhiều thành tựu nhưng cũng còn không ít hạn
chế, tồn tại bộc lộ cần phải từng bước khắc phục.
- NQ 08 khóa 11 của BCH trung ương Đảng năm 2013 về “ Đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục, đào tạo” là sự quan tâm, sâu sát của Đảng với sự nghiệp
GD&ĐT của nước nhà
- Vấn đề phát huy tính tích cực của học sinh đã được đề ra từ lâu, chúng ta cũng
đã đổi mới chương trình và sách giáo khoa( SGK) cho hệ phổ thông 12 năm
nhưng ở nhiều trường phổ thông, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải
đảo việc học vẫn là truyền thụ “ một chiều”, “ PP đọc chép”, “ Học để thi”, “
Dạy để thi”, áp lực nặng nề của “Bệnh thành tích” trong giáo dục chưa thuyên
giảm. Việc dạy học vẫn nặng tính lý thuyết, thiếu kỹ năng thực hành, thiếu tính
thực tiễn, chưa quan tâm đến việc hình thành thói quen tự học, tự khám phá kiến
thức, phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh.
1.1.2. Sự cần thiết đổi mới:
- Việc đổi mới PPDH xuất phát từ đòi hỏi của sự phát triển kinh tế, đời sống xã
hội
- CNTT phát triển như vũ bão ngoài chức năng cung cấp thông tin còn là công
cụ hỗ trợ tích cực cho dạy và học, là cộng cụ dạy học hiện đại, hiệu quả cao,
giúp học sinh tiếp cận tri thức trong nước, toàn cầu qua mạng Intenet
- Nền kinh tế đất nước ta đòi hỏi phải nhanh chóng đưa nước ta trỏ thành nước
công nghiệp hiện đại vào năm 2020.Muốn vậy phải có nguồn nhân lực có trình
độ học vấn rộng, thực hiện được nhiều nhiệm vụ, chuyên môn hóa cao, đảm bảo
chất lượng và hiệu quả xứng tầm khu vực và thế giới.
- Đặc điểm, tâm sinh lý của học sinh: Ngày nay học sinh thu lượm thông tin rất
nhanh và chia sẻ thông tin qua mạng với tốc độ chóng mặt, mỗi trẻ em tìm kiếm
thông tin theo nhiều cách khác nhau. Việc sử dụng CNTT giúp các em xử lí


- Tại sao phải áp dụng dạy và học tích cực
Giải thích

Giải thích
minh họa

và Giải thích, minh
họa

trải
nghiệm
85%

Những gì nhớ 70%
72%
được sau 3 tuần
Những gì nhớ sau 10%
32%
65%
3 tháng
1.1.3. Định hướng đổi mới PP dạy và học theo hướng tích cực:
- Trong đổi mới dạy và học theo hướng tích cực thì PP học của học sinh là mối
quan tâm hàng đầu.
Để thiết kế và tổ chức dạy học có hiệu quả thì mỗi thầy cô giáo cần phải suy
nghĩ và giải quyết các vấn đề sau trong từng tiết học và trong cả quá trình:
- Đâu là mối quan tâm hàng đầu của học sinh trong tiết học, vấn đề, nội dung bài
học?
- Học sinh nên học như thế nào thì hiệu quả?
- Điều gì tạo nên động cơ thúc đẩy học sinh học tích cực?

điểm, giá trị, mơ ước, chia sẻ kinh nghiệm, … và hợp tác trong các hoạt động
học tập
b) Phù hợp với mức độ phát triển của học sinh:
Việc giao các nhiệm vụ, tổ chức các hoạt động học tập cần có sự phân hóa, quan
tâm đến sự khác nhau về nhịp độ học tập, khả năng tư duy, phát triển của các đối
tượng học sinh. Có sự thỏa thuận, cam kết rõ ràng về mong đợi, yêu cầu của
thầy cô với học sinh và ngược lại. Các yêu cầu đối với học sinh cần rõ ràng,
tránh mơ hồ, đa nghĩa. Tức là việc đặt vấn đề, câu hỏi phải đảm bảo các yếu tố
kĩ thuật đem lại lợi ích cao nhất. Phần này tác giả đã viết rõ trong đề tài “ Kỹ
thuật đặt câu hỏi…” năm 2013.
Thầy cô nên khuyến khích học sinh giúp đỡ lẫn nhau, Quan sát học sinh học tập
để tìm ra phong cách và sở thích của từng học sinh, có sự hỗ trợ kịp thời, yêu
cầu học sinh động não, tạo điều kiện để các em trao đổi về nhiệm vụ học tập.
c) Gần gũi với thực tế:
Các nội dung và nhiệm vụ học tập nên gắn với các mối quan tâm của học sinh
với thế giới bên ngoài. Thầy cô cần tận dụng mọi cơ hội để học sinh giao tiếp
với các tình huống thực tế, góp phần áp dụng kĩ năng, kiến thức và các tình
huống trong đời sống hàng ngày. Ví dụ: Thu thập số liệu năng suất lúa của địa
phương trường đóng, của huyện, tỉnh khi học thống kê( Đại số lớp 10), trong
một số năm: 5 năm, 10 năm, 15 năm, 20 năm gần đây giúp so sánh, đối chiếu và
đưa ra kết luận.
d) Mức độ và sự đa dạng của hoạt động:
Trong việc tổ chức các hoạt động thầy cô giáo cần hạn chế tối đa thời gian chết
và chờ đợi; cần tạo ra các thời điểm hoạt động và trải nghiệm học tập tích cực.
Nên tích hợp các hoạt động, tổ chức trò chơi giáo dục, đố vui toán học. Tăng
cường các trải nghiệm thành công. Tăng cường sự tham gia tích cực, đảm bảo
hỗ trợ đúng mức( học sinh hỗ trợ lẫn nhau và từ phía thầy cô), đảm bảo đủ thời
gian thực hành. Cụ thể trong một tiết Toán thầy cô phải phân phối thời lượng
cho từng hoạt động và hoạt động thành phần sao cho học sinh có thể có thời gian
thực hành tối đa. Phần này tác giả đã trình bày trong đề tài: “ Thiết kế bài dạy và

và gia đình, điều đó khuyến khích sự tham gia của phụ huynh trong quá trình
học tập của học sinh. Các thầy cô dạy giỏi coi lỗi của học sinh thường mắc phải
là một phần tự nhiên trong quá trình dạy học, khi được hỗ trợ và quan tâm, học
sinh có thể thoải mái thể hiện nhận thức của mình mà không sợ bị chế nhạo hay
coi thường.Điều này thể hiện rõ ở một số học sinh học ban cơ bản trong trường
THPT.
Môi trường học tập và cách thức tổ chức học tập phải phù hợp với nhu cầu của
học sinh.Cảm giác thoải mái của học sinh thông qua sự cởi mở tiếp thu kiến thức
tốt, dễ dàng thích nghi, hòa nhập môi trường, không bị băn khoăn hay chán nản.
Các em bộc lộ sự nhận thức về bản thân: sự tự tin, khả năng bênh vực cái đúng,
bảo vệ lẽ phải, coi trọng bản thân và những người xung quanh. Ở mức đọ cao
thể hiện sự liên hệ bên trong( ý chí, tình cảm). Các em tự biết cái gì cần cho bản
thân, cái gì cần làm, mong ước, suy nghĩ và cảm nhận. Các em cần phải cảm
thấy an toàn, được tôn trọng trong môi trường học tập thân thiện. Bằng cách này
là điều kiện học sinh đạt được mức độ cao và tham gia tích cực vào quá trình
học tập.Cảm giac thoải mái và sự tham gia tích cực có thể trở thành tiêu chuẩn
cơ bản để đánh giá chất lượng của quá trình giáo dục. Điều đó có nghĩa là các
thầy cô giáo cần phải thiết kế những hoạt động học tập nhằm đảm bảo mức độ
tham gia cao của học sinh, đem đến cho các em niềm vui và sự hứng thú trong
học tập.
Những định hướng này sẽ làm thay đổi vai trò của thầy cô giáo và học sinh.
Trong đó thầy cô giáo chủ yếu giữ vai trò là người tạo môi trường học tập thân
thiện, phong phú, đa dạng, là người tư vấn, chỉ dẫn, động viên, kèm cặp, đưa đến
những thông tin phản hồi cần thiết, định hướng quá trình lĩnh hội tri thức và cuối
cùng là người thể chế hóa kiến thức.

6


1.2. Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực là

Bản thể

Chăm chỉ
Có năng lực
Có động cơ
Có cảm giác kết nối( được hợp
tác).Tác động tới tâm can, bản thể

Các biểu hiện của học tích cực:
- Tìm tòi, khám phá, tiến hành thí nghiệm,...
- So sánh, phân tích, kiểm tra.
- Thực hành, xây dựng,…
- Giải thích, trình bày, thể hiện, hướng dẫn,…
- Giúp đỡ, làm việc chung, liên lạc,…
- Thử nghiệm, giải quyết vấn đề, phá bỏ làm lại,…

7


- Tính toán,…
1.2.3. Phương pháp dạy và học tích cực:
Đề cập đến các hoạt động dạy và học nhằm tích cực hóa các hoạt động học tập
và phát triển tính sáng tạo của học sinh. Trong đó các hoạt động học tập được
định hướng bởi thầy cô giáo, học sinh không thụ động, chờ đợi mà tự lực, tích
cực tham gia vào quá trình tìm kiếm, khám phá, phát hiện tri thức, vận dụng
kiến thức để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn, qua đó lĩnh hội nội dung học
tập và phát triển năng lực sáng tạo.
PPDH tích cực không phải là một PPDH cụ thể, mà là một khái niệm, bao gồm
nhiều phương pháp, hình thức, kỹ thuật cụ thể khác nhau nhằm tích cực hóa,
tăng cường sự tham gia của học sinh, tạo điều kiện tối đa cho học sinh phát triển

trường, hiện tại và tương lai.
Dạy học cần bám sát các vấn đề của thực tiễn, áp dụng kiến thức vào giải quyết
các vấn đề thực tiễn thay cho việc nhồi nhét kiến thức, thông tin. Điều đó giúp
học sinh nhận thức, thông hiểu, tự biết mình cần phải học gì? Và vì sao phải học
chúng? Ví dụ phần Thống kê ( Đại số lớp 10) nếu không phải để giải quyết
những vấn đề trước mắt của cuộc sống đòi hỏi thì nó sẽ là những con số khô
cứng, không có ý nghĩa gì.
Trong quá trình dạy học chúng ta cần rèn luyện cho học sinh phương pháp tự
học, sẽ tạo cho các em lòng say mê học tập, khơi dậy nội lực vốn có và kết quả
sẽ được nâng lên.
Dạy và học tích cực tập trung vào hoạt động học, tạo ra sự chuyển biến từ học
tập thụ động sang chủ động, phát huy khả năng tự học ngay từ nhỏ của học sinh,
không chỉ trong giờ học trên lớp mà ở cả hoạt động ngoài giờ lên lớp, ở nhà,…
Trong dạy học truyền thống, thường chỉ đơn thuần khuyến khích học sinh ghi
nhớ kiến thức. trong dạy học tích cực cần khuyến khích học sinh vận dụng kiến
thức vào điều kiện thực tế, giúp các em rèn luyện kỹ năng đã học.
Hướng dẫn học sinh tự học, thầy cô giáo cần quan tâm đến những vấn đề
sau:
- Học sinh có được tạo điều kiện để sáng tạo không?
- Học sinh có thể hoạt động độc lập không?
- Học sinh có được khuyến khích đưa ra các giải pháp của mình không?
- Học sinh có thể xây dựng con đường học tập cho riêng mình không?
- Học sinh có thể tự mình lựa chọn chủ đề, bài tập khác nhau không?
- Học sinh có thể tự đánh giá không?
- Học sinh có được tự chủ trong các hoạt động học tập không?
* Tăng cường hoạt động của mỗi cá nhân, phối hợp với học hợp tác.
Trong dạy học tích cực, thầy cô giáo cần quan tâm đến sự phân hóa về trình độ
nhận thức, cường độ, tiến độ hoàn thành các nhiệm vụ học tập của mỗi học

9

sinh cách làm việc độc lập, phát triển tư duy sáng tạo, kỹ năng tổ chức công
việc, trình bày kết quả.
Phải đảm bảo nguyên tắc phân hóa trong dạy học, quan tâm đến mọi đối tượng,
không có học sinh bị “ Bỏ rơi”
* Dạy và học coi trọng hướng dẫn, tìm tòi:
Giúp học sinh phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề và nhấn mạnh rằng học sinh
có thể học thông qua hoạt động.Nó giúp các em khả năng làm việc độc lập, tự
giác, tư duy lô gic, khả năng phân tích, tổng hợp, đánh giá.

10


Một nhiệm vụ học tập tốt đặt ra sự thách thức đối với học sinh, không nên quá
dễ gây nên sự nhàm chán, cũng không quá khó gây ra sự lo lắng. Do vậy cần đa
dạng và thiết phù hợp từng loại đối tượng học sinh trong điều kiện cho phép.
Thầy cô giáo cần hỗ trợ kịp thời: yêu cầu nhìn lại nhiệm vụ, liên hệ kiến thức đã
học,…
* Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của học sinh:
Trong dạy học thụ động thì đánh giá là nhiệm vụ của thầy cô giáo, chủ yếu là
qua điểm số bài kiểm tra, thi cử dẫn đến học vẹt, học tủ, đối phó và kết quả giáo
dục yếu kém
Trong dạy và học tích cực, đánh giá khong chỉ nhằm mục đích nhận định thực
trạng và điều chỉnh hoạt động học tập của học sinh mà còn nhận định thực
trạng, điều chỉnh hoạt động dạy của thầy cô giáo.
Tự đánh giá là hình thức học sinh tự liên hệ phần nhiệm vụ đã thực hiện với các
mục tiêu của quá trình học tập. Đó là sự đánh giá những nỗ lực, quá trình và kết
quả, ở mức độ cao hơn là học sinh có thể phản hồi lại quá trình học của mình.
Như vậy tự đánh giá giữ vai trò quan trọng trong đánh giá vì học sinh chủ động
xem xét lại quá trình, kết quả học tập của mình để tự điều chỉnh cách học, xác
định động cơ học tập, lập kế hoạch tự nâng cao kết quả học tập. Tự đánh giá

an toàn.
Học sinh là chủ thể hoạt động, thầy cô giáo đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn, đòi
hỏi thầy cô giáo phải có kiến thức sâu, rộng, có kỹ năng sư phạm, đặc biệt phải
có tình cảm nghề nghiệp, hết lòng vì học sinh thì việc đổi mới PPDH mới có
hiệu quả.
Vai trò của thầy cô giáo và học sinh trong dạy và học tích cực
Thầy cô giáo
Học sinh
Định hướng / Hướng dẫn
Nghiên cứu, tìm tòi
Tổ chức
Thực hiện
Trọng tài, cố vấn, kết luận, kiểm tra
Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Mục đích của dạy và học tích cực so với dạy học thụ động:
- Học có hiệu quả hơn, bài học sinh động hơn
- Quan hệ thầy – trò, trò – trò tốt hơn
- Hoạt động học tập phong phú hơn; học sinh hoạt động nhiều hơn.
- Thầy cô giáo có nhiều cơ hội giúp học sinh hơn.
- Quan tâm nhiều hơn đến sự phát triển cá nhân của học sinh.
Trong dạy học không có phương pháp nào hoàn toàn thụ động và phương pháp
hoàn toàn tích cực.Vấn đề là thầy cô giáo phải vận dụng các PPDH thế nào để
phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh.

1.4. Điều kiện đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích
cực:
Đòi hỏi thầy cô giáo phải biết kế thừa, phát huy những ưu điểm, khắc phục
nhược điểm của các PPDH truyền thống và cập nhật các PPDH hiện đại sao cho
phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy học của nhà trường, địa phương.


giải A năm 2013
2.2. Kĩ thuật đặt câu hỏi:
Đề tài này đã được tác giả trình bày trong SKKN và NCKH năm học 20122013 và đã được HĐKH ngành xếp giải B năm học 2012- 2013
2.3. Kĩ thuật khăn phủ bàn:
Đề tài này đã được tác giả trình bày trong SKKN và NCKH năm học 20132014 và được HĐKH ngành xếp giải B năm học 2013- 2014
2.4. Kĩ thuật các mảnh ghép:
2.4.1. Kĩ thuật mảnh ghép là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập hợp tác kết hợp
giữa cá nhân, nhóm và lên kết giữa các nhóm.
2.4.2. Mục tiêu:
- Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp
- Kích thích sự tham gia tích cực của học sinh trong hoạt động nhóm

13


- Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác( Không những nhận thức
hoàn thành nhiệm vụ học tập cá nhân mà còn phải trình bày truyền đạt lại kết
quả và thực hiện tiếp ở mức độ cao hơn)
- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm học tập của mỗi cá nhân
2.4.3. Tác dụng đối với học sinh:
- Học sinh hiểu rõ nội dung kiến thức.
- Học sinh được phát triển kĩ năng trình bày, giao tiếp.
- Thể hiện được khả năng, năng lực cá nhân
- Tăng cường hiệu quả học tập.
2.4.4. Cách tiến hành: Sơ đồ kĩ thuật “ Mảnh ghép”

2.4.4.1. Giai đoạn 1: “ Nhóm chuyên sâu”
- Lớp học được chia thành các nhóm. Đối với lớp học trong trường THPT hiện
nay nên chia theo tổ học tập tiện việc trao đổi, thảo luận ở nhóm chuyên sâu.
Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ tìm hiểu, nghiên cứu sâu một phần nội dung

Chuyên sâu”. Bàng cách này, học sinh có thể nhận thấy những phần vừa thực
hiện không chỉ để giải trí hoặc trò chơi đơn thuần mà thực sự là những nội dung
học tập quan trọng.
Ví dụ: Sau khi các nhóm “ Chuyên sâu” hoàn thành nhiệm vụ được giao của bài
trên giáo viên tổ chức ngay nhóm “ Mảnh ghép”. Các nhóm 1, 2, 3, 4 cử đại diện
trình bày kết quả nghiên cứu của nhóm mình theo thứ tự. Ta sẽ có một bức tranh
tổng thể là: Bài toán đẫn đến khái niệm đạo hàm của hàm số tại một điểm, định
nghĩa đạo hàm của hàm số tại một điểm, quy tắc tính, ý nghĩa hình học của đạo
hàm , bài toán viết phương trình tiếp tuyến của đường cong tại một điểm nằm
trên đường cong đó.
2.4.5. Một số lưu ý khi tổ chức dạy học áp dụng kĩ thuật mảnh ghép:
- Một nội dung hay chủ đề lớn của bài học thường bao gồm trong nó các nội
dung hay chủ đề nhỏ. Những nội dung, chủ đề nhỏ đó được giáo viên xây dựng
thành các nhiệm vụ cụ thể giao cho các nhóm học sinh tìm hiểu, nghiên cứu.
Cần lưu ý nội dung các chủ đề nhỏ phải có sự liên quan chặt chẽ với nhau
Ví dụ: Bài “ Khái niệm đạo hàm” ở trên các nội dung liên quan chặt chẽ, mật
thiết với nhau.
- Nhiệm vụ nêu ra phải hết sức cụ thể, đảm bảo tất cả mọi học sinh đều hiểu rõ
và có khả năng hoàn thành nhiệm vụ.
- Khi học sinh thực hiện nhiệm vụ tại các nhóm “ Chuyên sâu”, giáo viên cần
quan sát và hỗ trợ kịp thời để đảm bảo các nhóm hoàn thành đúng thời gian quy
định và các thành viên đều có khả năng trình bày lại kết quả thảo luận của nhóm.
- Thành lập nhóm mới “ Nhóm mảnh ghép” cần có đủ các thành viên của nhóm
“Chuyên sâu”.

15


- Khi các nhóm “ Mảnh ghép” hoạt động, giáo viên cần quan sát, hỗ trợ để đảm
bảo các thành viên nắm được đầy đủ nội dung từ các nhóm “ Chuyên sâu”. Sau

3.1. Đầu năm hoc:

16


Lớp

Giỏi
SL
11B1 20
(47)
11B3 0
(48)

%
42,6

Khá
SL
27

%
57,4

Trung bình
SL
%
0
0


0

Yếu, kém
SL
%
0
0

34,0

24

51,1

5

2

39,6

Ghi
chú

20,8

3.2. Hết năm hoc:

Lớp

Giỏi

CAM KẾT KHÔNG COPY
Người viết

17


Lê Khắc Khuyến
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………….

18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status