Bài tập lớn cơ sở văn hóa: Khai thác giá trị lịch sử, văn hóa của di tích và lễ hội chùa Long Đọi Sơn ở tỉnh Hà Nam - Pdf 34

I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hà Nam là một tỉnh mới thành lập được 19 năm nhưng có thể nói đây là
mảnh đất địa linh nhân kiệt vì trước đó mảnh đất và con người nơi đây đã có lịch
sử lâu đời, có bề dày truyền thống văn hiến. Với những điều kiện địa lý-nhân văn
thuận lợi, ngay từ thời dựng nước và giữ nước, Hà Nam là mảnh đất sớm được
khai phá. Trải qua chiều dài lịch sử, tiền nhân đã để lại cho Hà Nam nhiều di sản
văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng quý giá: Trống đồng Ngọc Lũ - dấu ấn thời
kỳ phát triển rực rỡ nhất của nền văn hóa Đông Sơn - thuở các Vua Hùng dựng
nước; cuốn sách đồng Bắc Lý- một trong 4 cuốn sách còn nguyên vẹn nhất, nội
dung phong phú nhất của cả nước, tấm bia "Sùng Thiện Diên Linh"- một trong
những tấm bia quý còn lại của triều đình nhà Lý, có giá trị về lịch sử của đất nước,
bia có kích thước khá lớn; tấm bia "Đại Trị”- thời Trần duy nhất ở Hà Nam.
Hà Nam là một trong những cái nôi của nền nghệ thuật truyền thống đang
được kế thừa và phát huy như các chiếu chèo sân đình tiêu biểu: Chiếu chèo làng
Ngò, chiếu chèo làng Thọ Chương, chiếu chèo làng Trương, chiếu chèo Xuân Khê
(Lý Nhân), chiếu chèo Đồng Hóa (Kim Bảng), chiếu chèo Châu Giang (Duy
Tiên), hát tuồng Bạch Thượng (Duy Tiên), An Thái (Bình Lục). Bên cạnh đó Hà
Nam còn có vốn dân ca mang đậm những nét riêng như: Hát dậm Quyển Sơn Kim Bảng, múa hát Lải Lèn - Lý Nhân, Dân ca giao duyên vùng ngã ba sông
Móng …. Trong tương lai Hà Nam sẽ là tỉnh công nghiệp, là điểm giao lưu giữa
các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Hồng và cả nước, trên địa bàn sẽ xuất hiện
nhiều khu công nghiệp lớn, nhiều khu trung tâm thương mại, dịch vụ, nhiều trung
tâm đào tạo nguồn lao động, khu đào tạo nguồn nhân lực công nghệ cao cho khu
vực và cả nước.

1


Hà Nam cũng là quê hương của những làng nghề thủ công truyền thống, hiện
có hơn 30 làng nghề đang tồn tại và phát triển mạnh như: nghề dệt, nghề thêu,
trồng dâu nuôi tằm, nghề làm trống, nghề thủ công mỹ nghệ, nghề chế biến nông

Những thửa ruộng dưới chân núi Đọi gắn liến với sự kiện lịch sử vua Lê Đại Hành
cùng văn võ bá quan lần đầu tiên cày ruộng ở Đọi Sơn vào mùa xuân năm 987 để
khuyến khích mở mang nông trang.
Khi nhắc đến lịch sử và văn hóa của một vùng đất, ta không thể không nhắc
tới những lễ hội truyền thống. Lễ hội là một trong những hiện tượng sinh hoạt văn
hóa cổ truyền tiêu biểu của nhiều dân tộc người ở nước ta cũng như tên thế giới.
Nó là “tấm gương” phản chiếu khá trung thực đời sống văn hóa của mỗi dân tộc.
Lễ hội ra đời, tồn tại và gắn với quá trình phát triển của nhiều tộc người nói
chung và làng xà người Việt nói riêng, nó phản ánh nhiều giá trị trong đời sống
kinh tế-xã hội, văn hóa của cộng đồng. Một trong những giá trị tiêu biểu của lễ hội
các làng xã người Việt là giá trị văn hóa và liên kết cộng đồng qua tôn giáo, tín
ngưỡng. Chính giá trị ấy là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho lễ
hội có sức sống lâu bền, tồn tại với lịch sử của các cộng đồng làng xã cho đến hôm
nay. Mỗi vùng quê Việt Nam đều nằm trong dòng chảy văn hóa thống nhất nhưng
nó vẫn mang nét riêng biệt, đặc trưng của con người nơi đó tạo nên một bức tranh
văn hóa lễ hội Việt Nam phong phú và đa dạng.
Hà Nam cũng là quê hương của nhiều lễ hội truyền thống, đậm đà bản sắc dân
tộc, toàn tỉnh có hơn 100 lễ hội, trong đó có những lễ hội vùng được tổ chức quy
mô theo đúng quy trình và nghi thức của lễ hội truyền thống, các nghi thức tế lễ,
rước, trò chơi dân gian, sinh hoạt nghệ thuật dân gian được tổ chức long trọng, sinh
động, tăng cường tính cộng đồng, cộng cảm của làng xã như: lễ hội đền Trần
Thương-Lý Nhân, lễ hội đền Lảnh Giang (Duy Tiên), lễ hội đền Trúc-Ngũ Động
3


Sơn (Kim Bảng), lễ hội vật võ Liễu Đôi, lễ hội đình Vũ Cố (Thanh Liêm), lễ hội
đình Công Đồng (Bình Lục)…Một trong những lễ hội tiểu biểu, đặc sắc nhất của
vùng đất Hà Nam là lễ hội chùa Long Đọi Sơn - một trung tâm hội tụ văn hóa
truyền thống của cư dân vùng này.
Lễ hội chùa Long Đọi Sơn hay còn gọi là lễ hội chùa Đọi ngoài là ngày giỗ

biết rất nhiều về lịch sử , danh thắng và vị thế của chùa Đọi, kiến trúc chùa Đọi, về
cây bảo tháp và về vua Lý Nhân Tông, Năm 1992, Bảo tàng tổng hợp Hà Nam
Ninh đã có hồ sơ về di tích này.
Từ ngày Hà Nam tái lập tỉnh (1997) núi Đọi sông Châu được chọn là biểu
tượng văn hóa của Hà Nam, đã có một số công trình nghiên cứu về di tích Đọi Sơn
như: Danh Thắng chùa Đọi, Truyện dân gian trấn Sơn Nam xưa của tác giả Lương
Hiền, Lịch sử chùa Đọi của Duy Phương đã giới thiệu về lịch Sử chùa Đọi, danh
thắng Long Đọi Sơn và những truyền thuyết quanh nó. Gần đây trong Những phát
hiện mới của khảo cổ học thì chùa Đọi được nhắc đến như một địa danh có bề dày
lịch sử và là nơi lưu giữ nhiều di vật cổ quý giá. Bên cạnh đó còn có nhiều bài viết
nghiên cứu sưu tầm của các tác giả đăng trên Tạp chí Sông Châu: GS Trần Quốc
Vượng có bài: Địa linh nhân kiệt Hà Nam, Núi Đọi–sông Châu-biểu tượng của Hà
Nam quê tôi (số 19-1/2000); Chùa Đọi Sơn của Trần Đăng Ngọc (số 1-1997); Hà
Nam ngũ sắc của Lương Hiền, Kí ức Sông Châu của Phương Thuỷ ( số 1-1997) và
một số bài viết khác. Ngoài ra, trên Website của Hà Nam cũng có trang giới thiệu
về di tích chùa Đọi…..
Tuy nhiên các nhà nghiên cứu đi trước mới đề cập và đề cao danh thắng, di
tích cũng như bề dày lịch sử của chùa Long Đọi Sơn. Như vậy, nó mới chỉ là một
mặt của giá trị văn hoá tổng thể nơi đây. Mảng nghiên cứu về lễ hội chùa Long Đọi
5


Sơn vẫn còn bỏ trống. Lễ hội chùa Đọi là một hoạt động mang đậm bản sắc văn
hoá của người dân nơi đây trong ứng xử với tự nhiên và xã hội, nó là chìa khoá để
giải mã văn hoá truyền thống của vùng.
3. Mục đích nghiên cứu
Trải qua bao đời, hiện nay di tích chùa Long Đọi Sơn vẫn đang được nhà
nước cũng như người dân nơi đây gìn giữ, bảo tồn để nó vẫn giữ được những giá
trị văn hóa và lịch sử quý giá. Vì thế mà ngôi chùa đang ngày càng trở nên nổi
tiếng và thu hút nhiều khách du lịch đến thăm quan từ khắp nơi trên đất nước .

nghiên cứu như: khảo sát thực địa, điều tra hồi cố, quan sát trực tiếp, phân tích
tổng hợp và hệ thống hóa các tư liệu liên quan của các tài liệu tham khảo, so sánh
và đối chiếu với các tài liệu điền giã thu thập được trong quá trình nghiên cứu.
Ngoài việc tham khảo những công trình nghiên cứu khoa học về chùa Đọi và
di tích chùa Đọi như đã nêu trên, em đã đặc biệt sử dụng nguồn tài liệu thu thập
được trong quá trình đi điền dã thực địa hai ngày tại xã Đọi Sơn như nguồn tài liệu
quan trọng chủ yếuvà may mắn cho em vì đã được tham dự lễ hội chùa Đọi tổ chức
vào 19,20,21 tháng 3 âm lịch vừa qua. Do vậy em sẽ cố gắng hết sức để tái hiện lại
một cách sinh động và đầy đủ nhất về lễ hội chùa Đọi đồng thời nêu bật văn hoá
truyền thống cũng như sự biến đổi của lễ hội chùa Đọi trong đời sống xã hội hiện
đại.

7


6. Bố cục
Bài luận gồm có những phần chính sau:
- Mở đầu
- Nội dung:
Chương 1: Đọi Sơn và di tích chùa Đọi
Chương 2 : Lễ hội chùa Đọi
Chương 3: Lễ hội chùa Đọi trong đời sống của cư dân trong vùng
- Kết luận
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
- Mục lục

II. NỘI DUNG
8


thiền nhỏ. Do vậy từ những năm đầu sau công nguyên ở vùng Đọi Sơn, Phật giáo
đã có mặt nơi đây mặc dù chưa phổ biến.
Đến đời nhà Lý, đạo Phật đã phát triển mạnh và trở thành quốc giáo. Sau khi
dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, Lý Thái Tổ đã cho xây dựng và phát triển chùa
chiền ở kinh đô đồng thời ra lệnh cho các hương ấp khắp nơi. Nhân dân Đọi Sơn
đã cho tu sửa am thiền thành sơ thiền bằng tre, gỗ. Đến năm 1054 vua Lý Thánh
Tông cùng Vương phi Ỷ Lan thăm thú đầu xuân thấy cảnh sắc nơi đây rất đẹp lại
thêm những di tích lịch sử (vua Lê Hoàn cày ruộng tịch điền và là nơi Lý Thái Tổ
dời đô đi qua) nên vua cùng vương phi quyết định cho xây dựng chùa Đọi với quy
mô lớn. Đến giai đoạn này chùa Long Đọi Sơn là một trung tâm Phật giáo lớn của
trấn Sơn Nam xưa.
Tiếp đó vào năm 1118 vua Lý Nhân Tông đã ra lệnh cho xây dựng và mở
mang chùa Đọi to đẹp hơn và cho xây dựng bảo tháp Sùng Thiện Diên Linh cao 13
tầng. Sách Đại Nam thống nhất chí có ghi: “Ở xã Đọi Sơn đông nam huyện Duy
Tiên….đời vua Lý Nhân Tông dựng chùa và cho xây bảo tháp Diên Linh”. Đến
mùa xuân, tháng 2, năm 1121, Bảo tháp Sùng Thiện Diên Linh được xây dựng
xong”. Nhân ngày khánh thành chùa và ngọn bảo tháp, vua Lý đã giao cho Binh bộ
viên ngoại lang Nguyễn Công Bật soạn văn bia lớn (Sùng Thiện Diên Linh) để kỉ
niệm.
Khoảng 300 năm sau tức vào đầu thế kỉ XV khi giặc Minh sang xâm lược
nước ta ngôi chùa bị phá huỷ và cây bảo tháp cao 13 tầng cũng bị đánh sập hoàn
toàn, các tượng đá cũng bị huỷ hoại. Riêng bia vì không phá nổi, chúng đã lật đổ
xuống bên cạnh núi. Năm 1467 vua Lê Thánh Tông một lần đi du xuân có lên thăm
núi Đọi, đã phong cho núi Đọi là Nam thiên đệ tam động và có đề thơ trên đó (ở
10


mặt sau của tấm bia đá Sùng Thiện Diên Linh), trong đó có những câu tố cáo tội ác
của giặc:
Lý triều quái đản bia không tại

Sơn hiện nay đã biến đổi nhiều so với nguyên thuỷ của nó do ngôi chùa đã bị phá
huỷ và xây dựng lại nhiều lần. Trước năm 1945 chùa được xây dựng theo kiểu nội
công ngoại quốc với hơn 100 gian bao gồm một chùa chính với nhà bái đường,
thiên hương và thượng điện. Hai bên có hai dãy hành làng thờ 18 vị La Hán. Từ
ngõ chùa vào có hai dãy nhà đắp sự tích Thập điện, phía sau là nhà tổ, nhà khách.
Trước của chùa có một nhà bia trong đó có lưu giữ tấm bia đá Sùng Thiện Diên
Linh. Ngôi chùa Đọi đã từ lâu được viện Viễn Đông Bác Cổ của Pháp liệt vào hạng
các cổ tích danh thắng cần bảo vệ.
Sau quá trình bị tàn phá chùa được xây dựng lại, kiến trúc không gian chùa có
bị xê dịch. Chính diện chùa vẫn quay về hướng nam. Hình ảnh đầu tiên mà ta nhìn
thấy khi lên chùa là toà Tam Quan 5 gian mới được xây dựng năm 2004 mang
phong cách triều Nguyễn với kiểu kiến trúc chồng diêm 8 mái hoàn toàn làm bằng
gỗ lim. Tiếp sau là một bàn cờ người rộng 50m2 dùng làm nơi đấu cờ khi mở hội.
Phía trên bàn cờ hai bên là hai cổng của Tam quan cũ, ở giữa trước đây là toà Tam
quan nhưng sau này nó là nhà bia theo kiểu kiến trúc chồng diêm 8 mái. Phía trên
nhà bia, leo qua 24 bậc đá tới sân chùa thoáng tĩnh đặt tượng đài Quan Âm. Hai
bên sân chùa dọc theo hành lang là hai dãy nhà đồng tội đắp cảnh Thập điện Diêm
Vương với thế giới của 10 cửa ngục như nhắc nhở con người ta luôn làm điều
thiện, tránh điều ác để không bị rơi vào thế giới địa ngục khủng khiếp đó sau khi
đã sang thế giới bên kia.
Lại mấy bậc đá nữa là dẫn chúng ta đến ngôi chùa chính. Đầu tiên là toà Tam
Bảo gồm 7 gian bái đường và 3 gian thượng điện thờ các vị Đức Phật, đức Di
12


Lặc,và đức Hộ Pháp theo một trật tự quy định của nhà Phật. Hệ thống vì kèo của
ngôi chùa được làm theo kiểu chồng đấu giá chiêng, chân cột kê đá cổ bồng, cột
được làm bằng gỗ lim và đá. Cửa chùa cũng được lắp hoàn toàn bằng gỗ lim.
Phía sau toà Tam bảo là hai dãy hành lang song song thờ tượng Thập bát La
Hán với 18 tư thế và sắc thái khác nhau thể hiện những hoàn cảnh khác nhau của

điều bí ẩn. Hiện nay tại ngôi chùa và khu vực xung quanh còn lưu giữa được nhiều
dấu tích lịch sử và văn hoá, trong đó có những di tích và di vật quý tiêu biểu sau:
4.1. Di tích ruộng Tịch Điền
Đọi Sơn được coi là thế đất phát tích đế vương, ngay trong những buổi đầu
độc lập, vua Lê Đại Hành đã cày ruộng tịch điền ở chân núi Đọi. Đây là ông vua
đầu tiên của nhà nước phong kiến Việt Nam đi cày ruộng tịch điền để khuyến
khích phát triển nông nghiệp. Hiện nay khu ruộng tịch điền này vẫn còn dấu tích,
nhân dân trong vùng quen gọi là ruộng làng Lê chạy dài suốt từ đình làng Đọi Tam
đến chân núi Đọi Nhất. Giữa khu ruộng rộng còn dấu vết của một nền nhà vuông
vắn rộng 6 sào cao hơn các ruộng xung quanh 30cm gọi là nhà hiến nơi dâng của
ngon vật lạ của nhân dân trong vùng khi vua đến đây cày ruộng.
4.2. Các di vật thời Lý
Chùa Đọi là một ngôi chùa mang đậm dấu ấn của vương tôn triều Lý trong
quá trình xây dựng và hiện nay nó còn lưu giữ rất nhiều di vật quý từ thời Lý để
lại, trong đó có một số di vật quý giá tiêu biểu sau:
4.2.1. Bia đá Sùng Thiện Diên Linh
Bia Sùng Thiện Diên Linh được dựng năm 1121 do Nguyễn Công Bật,
Thượng thư Bộ Hình dưới triều Lý Nhân Tông(1072- 1128) soạn. Nội dung văn
bia chủ yếu ca ngợi vua Lý Nhân Tông trong công cuộc dựng nước và giữ nước,
14


miêu tả đời sống kinh tế và văn hóa của nhân dân Đại Việt lúc bấy giờ. Ngoài ra
văn bia còn ghi lại nhiều tư liệu lịch sử quý về nghệ thuật điêu khắc kiến trúc xây
dựng các chùa lớn, tháp cao như chùa Một Cột, chùa Long Đội, tháp Sùng thiện
Diên Linh…. Tấm bia hình chữ nhật cao 2,88m, rộng 1,80m, dày 0,50m hai mặt
kín chữ, tổng cộng có 4.257 chữ Hán. Mặt trước là bài văn bia do Nguyễn Công
Bật soạn, mặt sau là những bút tích hậu thế khắc thêm vào. Trán, diềm và cạnh bia
đều lấy hình rồng gồm những kích thước khác nhau làm đối tượng trang trí , đó là
một sự kết hợp hài hoà đến từng chi tiết tạo ra sự thống nhất và linh hoạt. Hai diềm

nay cây bảo tháp không còn nữa nên 6 pho tượng này được đặt ở trong hai dãy nhà
Đồng tội để du khách có thể tham quan và chiêm ngưỡng một cách thuận tiện.
4.2.3. Tượng đầu người mình chim
Tượng đầu người mình chim mang hình tượng nghệ thuật trong thần thoại Ấn
Độ, gọi là tượng chim thần Ki-na-ri. Tượng được tạc bằng đá ráp, cao 40cm, tạc
một hình người nửa dưới là chim, chân và cánh thể hiện rất rõ, chân có móng, đuôi
nhiều lông cao vút. Hình tượng người rất thực. Trên đầu tượng, tóc tết thành hình
cầu, vắt ngang trán là một vành khăn rủ xuống ngang vai. Trên hai cánh chim là
những đường cong khắc chìm vòng quanh vành ngoài, bên trong có những đường
xoáy trôn ốc được cách điệu theo hình hoa lá chạm nổi. Thu hút nhất ở tượng là bộ
mặt. Đây là bột mặt trầm tư, đôi mày thanh tú và dài, cặp mắt hơi xếch, đuôi mắt
dài hơn, quặp xuống, làm môi khép lại thoáng như có nụ cười. Mũi dọc thẳng, cao.
Bộ tóc phía trên đầu được thắt bằng một dải điểm hoa, tạo thành búi trên đỉnh đầu.
Đây là những mô típ trang trí của thế kỷ XI–XII.. Toàn bộ pho tượng thần thoại
này được thể hiện khá công phu, độc đáo, kì dị nhưng rất thoải mái. Đó là một tác
phẩm thể hiện sự giao thoa văn hoá giữa nền kiến trúc điêu khắc cổ Đông Sơn và
kiến trúc, nghệ thuật Chămpa.
16


4.3. Pho tượng Di Lặc bằng đồng
Chùa Đọi Sơn trước đây có nhiều pho tượng Phật nhưng do chiến tranh và
thời gian phá huỷ nhiều nên đến nay không còn lại là bao nhiêu. Hiện nay chùa còn
một pho tượng Di Lặc bằng đồng. Đây là pho tượng đồng nặng 1 tấn, được đúc vào
năm 1864. Toàn bộ pho tượng được đặt vào thế ngồi thoải mái, chân phải chống
lên, chân trái xếp vào lòng. áo mặc nhưng chỉ xỏ hai cánh tay, để hở cả ngực và
bụng, bụng căng tròn, ngực nở, vai đầy đặn. Bộ mặt được diễn tả thành công thể
hiện sự no đủ, vui tươi. Tai dài, dầy. Các khối thịt ở cằm, má được chú ý khắc hoạ.
Pho tượng được tạo với tư thế ngồi, đầu hơi ngửa ra sau, chiều ngang được mở
rộng ra hai bên, số đo chiều ngang lớn hơn số đo chiều cao. Tượng Di Lặc là biểu

CHƯƠNG 2: LỄ HỘI CHÙA LONG ĐỌI SƠN
1. Chuẩn bị lễ hội

18


Từ lâu chùa và lễ hội chùa Long Đọi Sơn không chỉ là lễ hội của nhân dân
trong vùng mà nó đã vượt khỏi không gian đó và trở thành một lễ hội lớn của đất
nước. Với vai trò, vị trí và quy mô của ngôi chùa và lễ hội truyền thống nơi đây,
dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Sở VH-TT tỉnh Hà Nam, phòng Văn hóa-Thể thao
huyện Duy Tiên đã kết hợp với UBND xã Đọi Sơn và nhân dân trong vùng chuẩn
bị tổ chức lễ hội chùa Đọi một cách cẩn thận và chu đáo với quy mô phù hợp với vị
thế của nó. Đó không chỉ đơn thuần là lòng thành kính của nhân dân dâng lên thần
linh cầu mong được sự che chở trong cuộc sống mà còn là nơi thể hiện “bộ mặt”
của người dân nơi đây trước đông đảo nhân dân khắp nơi về đây lễ phật, thể hiện
sự chu đáo và lòng mến khách của người Đọi Sơn.
Để lễ hội diễn ra một cách thuận lợi và tốt đẹp, thể hiện bản sắc văn hóa của
con người nơi đây, các cấp chính quyền, các ban, ngành cùng nhân dân trong vùng
đã xây dựng kế hoạch và chương trình lễ hội từ 2-3 ngày trước đó. Phòng Văn hóaThể thao huyện Duy Tiên kết hợp với Ban tuyên giáo Huyện ủy đề ra kế hoạch tổ
chức lễ hội và xã Đọi Sơn là nơi triển khai kế hoạch đó. UBND xà đã cùng nhà
chùa (trụ trì chùa hiện nay là Đại đức Thích Thanh Vũ) có lời mời tới các đội rồng,
đội trống, đội sư tử, đội bát âm, đội kiệu, đội dâng hương, đội tế nam quan và nữ
quan của 6 thôn Đọi trong xã cùng nhân dân tổ chức buổi rước từ sân ủy ban xã lên
chùa làm lễ dâng hương khai hội diễn ra vào sáng 19-3 âm lịch tại sân Tam Bảo.
Gần đến ngày hội không khí ở Đọi Sơn bỗng bận rộn tấp nập hẳn lên. Tại
UBND xã các đồng chí cán bộ xã đang hòan thành nốt công tác chuẩn bị mọi mặt
cho lễ hội như: công tác an ninh trật tự, treo băng dôn, khẩu hiệu chào mừng trên
những ngả đường du khách thập phương về dự lễ hội; quy hoạch những khu dịch
vụ phục vụ người dân về dự lễ hội sao cho đáp ứng được nhu cầu mà không làm
ảnh hưởng đến không gian linh thiêng của lễ hội; chuẩn bị nơi đón khách các cấp



nhưng lại rất thân mật và hoà đồng giữa những con người làm cho họ thân thiện và
gần nhau hơn mặc dù có thể họ là những người xa lạ.
Đúng 8h sáng 19-3 lễ dâng hương bắt đầu tiến hành xuất phát từ sân UBND
xã Đọi Sơn. Đội hình dâng hương cũng đã vào vị trí để bắt đầu buổi dâng hương
lên chùa lễ Phật. Đi đầu đoàn dâng hương là hai con mèo (do hai người đàn ông
đóng giả) lăng xăng đi dẹp đường cho đoàn dâng hương lên núi. Tiếp theo là đội cờ
gồm 8 chiếc cờ thần do 8 thiếu nữ xinh đẹp khoẻ mạnh đi hàng hai rước lên chùa.
Sau đó là đội trống của thôn Đọi Tam gồm 5 người trong đó hai người khiêng chiếc
trống to, một người đánh và 2 người khác gõ hai chiếc trống con để cổ động cho
thêm phần sôi động. Theo sau đội trống là hai đội múa sư tử vừa đi vừa trình diễn
những điệu múa đẹp mắt nhưng uy nghi thể hiện tài hoa cũng như tinh thần thượng
võ vủa nhân dân nơi đây. Đặc biệt là chàng trai đảm nhận vị trí múa đầu sư tử
không chỉ phải là những chàng trai khoẻ mạnh mà con phải là những người khéo
léo mới thể hiện hết sự oai hùng của chúa sơn lâm.
Bám sát đội múa sư tử là đội múa rồng. Một con rồng dài khoảng 30m uốn
lượn từ từ tiến lên núi. Múa rồng rất phổ biến ở nước ta, tín ngưỡng này còn được
thể hiện rất rõ trong hình tượng rồng chạm khắc trên thân bia và 4 con rồng đội
tấm bia đá Sùng Thiện Diên Linh. Rồng ở nơi đây hình thù đặc trưng giống những
con rắn và theo quan niệm dân gian đó là con vật chúa tể của sông nước.Thờ rồng
tại chùa và múa rồng tại lễ hội chùa Đọi thể hiện rõ văn hoá tín ngưỡng cổ truyền
của người dân nơi đây nói riêng và cư dân nông nghiệp nói chung cầu mong mưa
thuận gió hoà để phát triển sản xuất nông nghiệp, cũng như cầu mong vị thuỷ thần
này phù hộ và không làm ra nhưng trận lũ lụt tàn phá vùng trũng này. Vừa đi đội
rồng vừa múa cổ động những điệu múa đẹp mắt theo nhịp trống phách và thanh la
rộn rã trên con đường lên chùa.

21


Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long qua địa phận tổng Đọi Sơn xưa được
nhân dân nơi đây chào mừng cổ động bằng màn múa rồng, múa trống khi nhà vua
đi qua. Hình ảnh đó không chỉ thể hiện không khí đông vui của lễ hội, sự trù phú
nơi đây mà còn thể sự thanh bình của đất nước. Dọc đường lên chùa các loại cờ tế,
cờ thần và quốc kỳ được cắm xen kẽ tạo màu sắc đặc trưng của không gian lễ hội.
Dòng người dâng hương lên chùa tưởng như không dứt vì người về với lễ hội ngày
một đông.
Đến khoảng 9 giờ đoàn dâng hương tập trung tại sân Tam Bảo trước cửa
chùa. Tại đó nhà chùa đã chuẩn bị sẵn hương án để làm lễ dâng hương và đặt lễ vật
trong lễ khai hội này. Khi đội hình dâng hương đã ổn định tại sân Tam Bảo, nhà sư
trụ trì ngôi chùa cùng tăng ni, phật tử trong chùa và các ngôi chùa xung quanh với
trang phục của nhà tu hành, tay lần tràng hạt miệng đọc kinh có một chú tiểu thỉnh
chuông đi trước từ phía nhà thờ Tổ đi lên cùng đoàn dâng hương và nhân dân tiến
hành khai mạc lễ hội chùa Long Đọi Sơn.
Mở đầu buổi khai mạc lễ hội chùa Long Đọi Sơn, ban tổ chức lễ hội làm lễ
chào cờ. Đây là một yếu tố mới được đưa vào trong buổi lễ dâng hương thể hiện sự
kết hợp giữ yếu tố văn hoá truyền thống và hiện đại trong lễ hội ngày nay. Sự trang
nghiêm của lễ chào cờ lại càng làm cho lễ hội tăng thêm phần linh thiêng. Sau đó
ban tổ chức giới thiệu các đoàn đại biểu tham gia lễ dâng hương và đọc giấy phép
mở lễ hội. Tiếp theo, vị chủ tịch UBND xã Đọi Sơn đồng thời cũng là trưởng ban
tổ chức lễ hội thay mặt cho chính quyền địa phương xã lên đọc diễn văn khai mạc
lễ hội chùa Long Đọi Sơn. Bài diễn văn đã giới thiệu một cách chung nhất về
phong cảnh, lịch sử của ngôi chùa cũng như hoạt động lễ hội truyền thống nơi đây.
Sau đó, vị trưởng ban tổ chức đọc lời khai mạc lễ hội chùa Long Đọi Sơn. Ba hồi
chín tiếng trống hội vang lên. Đồng thời lúc đó bên trong ngôi chùa cũng vang lên
những hồi chuông điểm xen kẽ với tiếng trống hội. Đây chính là âm thanh lễ hội
23


như lời báo cáo cung kính đối với Đức Phật và các bậc thánh thần cũng là một lời

trong đó có vị sư tổ Thích Chiếu Thường mà ngày mất của ông cũng là ngày mở lễ
hội. Đền thờ mẫu Liễu Hạnh cũng là một địa điểm của hành trình dâng hương.
Chùa là nơi tu hành, là nơi thờ Phật nhưng đặc điểm chung của ngôi chùa và Phật
giáo Việt Nam là có sự dung hoà của 3 tôn giáo Nho-Phật-Đạo với những tín
ngưỡng của cư dân bản địa tạo nên một bức tranh tôn giáo tín ngưỡng nơi đây
phong phú nhưng không hề phức tạp. Sự dung hoà tôn giáo nơi đây không mang
nội dung thể hiện người dân nơi đây quá tin tưởng và tôn sùng các bậc thần thánh
hay tôn giáo tín ngưỡng của họ quá phức tạp mà nó thể hiện khát vọng của người
dân nơi đây muốn sống trong hoà bình để xây dựng quê hương đất nước và được
phù hộ để thực hiện mong muốn đó. Đồng thời nó cũng phản ánh văn hoá tâm linh
truyền thống của cư dân đồng bằng sông Hồng đặc biệt là cư dân nơi đây.
Sau lễ dâng hương đội múa rồng, lân, sư tử quay múa mấy vòng quanh sân
Tam Bảo như thay lời chào cung kính Đức Phật. Đoàn dâng hương tiến vào thượng
điện làm nghi lễ cuối cùng. Mỗi người vái đức Phật 3 vái. Sau đó họ xuống núi về
trụ sở UBND xã Đọi Sơn. Lúc này các cửa chùa, phủ mẫu mở rộng của cho nhân
dân và khách thập phương về đây lễ Phật, lễ Thánh.
Ngày 20,21-3, ngôi chùa mở rộng cửa đón tiếp mọi người gần xa về đây lễ
Phật và những du khách tham quan vãng cảnh chùa.Trong những ngày này tại các
đền thờ Thánh xung quanh núi Đọi và tại đền thờ Mẫu trên núi, các con nhang đệ
tử, đồng cô, đồng cậu khắp nơi đổ về đây tổ chức hầu bóng đặc biệt là ở phủ Mẫu.
Những buổi hầu được tổ chức từ sáng sớm đến tận đêm khuya.
2.2 Phần hội
Ở nước ta thì lễ và hội là hai hoạt động không thể tách rời, hai hoạt động
được tổ chức đồng thời và gắn kết với nhau trong một không gian, thời gian nhất
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status