SKKN kinh nghiệm rèn học sinh lớp 3 trường tiểu học bàu năng b thực hiện tốt phép tính cộng, trừ, nhân, chia các số trong phạm vi 10000 - Pdf 34

BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Tên đề tài: Kinh nghiệm rèn học sinh lớp 3 Trường Tiểu học Bàu Năng
B thực hiện tốt phép tính cộng, trừ, nhân, chia các số trong phạm vi 10000.
Tác giả: Phạm Thị Thúy Hằng
Cao Duy Dững
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Bàu Năng B.
1. Lí do chọn đề tài:
Toán lớp 3 có tính chất kế thừa các kiến thức của Toán lớp 1, 2. Nó góp phần
hoàn thiện, hệ thống hóa các kiến thức kỹ năng cơ bản của giai đoạn đầu bậc Tiểu
học. Chuẩn bị cho học sinh các kiến thức cơ bản và năng lực học tập chuyên sâu ở
lớp 4, 5. Đặc biệt là phát triển năng lực tư duy, hình thành kỹ năng thực hành tính
toán cho học sinh.
Qua thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy chất lượng môn Toán ở lớp 3
chưa đạt kết quả như mong muốn. Đa số các em chưa có kỹ năng tính toán với
bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia. Đây là một mảng kiến thức quan trọng được
thực hành xuyên suốt trong chương trình toán và được vận dụng trực tiếp với tất
cả các dạng toán cơ bản. Nếu học sinh không có được kỹ năng tính toán thì
không thể học tốt môn Toán và ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của các
em. Trong học toán, khi thực hiện bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia phần lớn các
em không biết cách tính, chưa hiểu được tính chất cơ bản và các mối quan hệ của
các phép tính. Đa số các em ít suy nghĩ, ít tư duy để phát hiện kiến thức mới cũng
như không biết vận dụng kiến thức đã biết vào bài học.
Trên cơ sở giúp các em thực hành luyện tập thành thạo bốn phép tính cơ bản
của số học, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài “Kinh nghiệm rèn học sinh lớp 3
Trường Tiểu học Bàu Năng B thực hiện tốt phép tính cộng, trừ, nhân, chia các số
trong phạm vi 10000”.
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: “Kinh nghiệm rèn học sinh lớp 3 trường Tiểu học Bàu
Năng B thực hiện tốt phép tính cộng, trừ, nhân, chia các số trong phạm vi
10000.”
1

lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Có thể nói bậc Tiểu học là bậc học quan
2


trọng trong tất cả các cấp học. Đây là bậc học nền tảng nhằm cung cấp cho các
em những kĩ năng cơ bản nhất để tiếp tục học ở các lớp trên. Trong chương trình
Tiểu học môn Toán góp phần làm giàu vốn tri thức cho học sinh và góp phần rèn
luyện cho các em những đức tính cần thiết về tư duy toán học. Học tốt môn
Toán sẽ giúp các em vận dụng những kĩ năng, kiến thức về toán học vào thực tế,
góp phần bồi dưỡng nhân cách, đạo đức, rèn luyện tinh thần ham hiểu biết, giúp
các em ý thức hơn việc học tập của mình, từ đó giúp các em tự tin hòa nhập vào
xã hội ngày một văn minh, hiện đại.
Trong chương trình Toán lớp 3, các em được học các chuẩn kiến thức, kĩ
năng ở thời điểm kết thúc giai đoạn đầu của bậc Tiểu học, chuẩn bị học tiếp giai
đoạn sau, cho nên các em phải nắm chắc được tất cả các cơ sở ban đầu về toán
học nói riêng và các kĩ năng tính toán nói chung. Các yếu tố về số học được biểu
đạt bằng các dạng toán như: đọc, viết số; thực hành tính nhẩm và viết; tính giá
trị của biểu thức. Bốn phép tính số học như: cộng, trừ, nhân, chia được sử dụng
hầu hết vào các bài học xuyên suốt trong quá trình học toán. Trong đó phép
nhân, phép chia là các khái niệm trừu tượng nhưng được hình thành từ các phép
cộng, phép trừ các số bằng nhau. Nếu muốn học tốt nhân, chia thì học sinh phải
có kỹ năng cộng, trừ (có nhớ) một cách thành thạo. Học sinh đã có kỹ năng tính
toán nhanh, chính xác thì dễ dàng vận dụng tốt vào các dạng toán cơ bản khác.
Vì các phép tính số học là kiến thức quan trọng được thực hiện trong suốt môn
học kể cả học tiếp toán ở lớp trên. Nhưng thực tế, chúng tôi nhận thấy kỹ năng
tính toán của các em rất chậm. Trong lớp trình độ tiếp thu bài của học sinh
không đồng đều, các em không biết vận dụng những kiến thức đã biết vào bài
học. Còn một số học sinh chưa nắm chắc một số tính chất cơ bản của các phép
tính, mối quan hệ giữa các phép tính như phép cộng với phép nhân, phép nhân
với phép chia.

phạm vi 10000” chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp đọc tài liệu: giáo viên nghiên cứu các tài liệu về cấp Tiểu
học như: Báo chuyên đề Giáo dục Tiểu học; Sách tham khảo có liên quan đến
môn Toán; Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy các môn học theo yêu cầu đổi mới
lớp 3; Tài liệu Hướng dẫn Chuẩn kiến thức kỹ năng các môn học ở Tiểu học;

4


Hướng dẫn thực hiện điều chỉnh nội dung dạy học các môn học cấp Tiểu học.
Phương pháp giảng dạy môn Toán lớp 3.
- Phương pháp điều tra, tìm hiểu thực tế để nắm được trình độ học toán của
từng học sinh trong khối lớp qua kiểm tra khảo sát đầu năm và theo dõi qua từng
tiết từng bài, từ đó có kế hoạch bồi dưỡng và phụ đạo học sinh.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: so sánh, đối chiếu số liệu từng giai đoạn
như: Trước khi thực hiện đề tài và sau khi thực hiện đề tài.
- Dự giờ, kiểm tra bài tập của học sinh để giáo viên nắm được kết quả vận
dụng của học sinh, nắm được các khó khăn mà học sinh gặp phải trong bài làm
để kịp thời khắc phục.
6. Giả thuyết khoa học:
Nếu vận dụng những kinh nghiệm rèn cho các em kỹ năng cộng, trừ, nhân,
chia thành thạo có kết quả tốt trong giảng dạy thì chắc chắn các em sẽ thực hiện
nhanh và đúng các phép tính, khơi dậy lòng say mê hứng thú trong học toán.
Giúp cho các em tự tin hơn khi làm toán và vận dụng có hiệu quả vào các dạng
toán trong chương trình lớp 3, từ đó phát triển năng lực học toán cho học sinh.
Đây là mảng kiến thức cơ bản làm nền tảng cho việc học toán để các em học tiếp
ở lớp trên.

5


giải quyết vấn đề. Huy động các kiến thức và các công cụ đã có để tìm ra
cách tính phù hợp nhất và nhanh đúng nhất. Giáo viên nên áp dụng các kĩ
thuật dạy học mới trong tiết dạy nhằm nâng cao chất lượng trong học tập. Tạo
cơ sở để phát triển tư duy cho học sinh sau này.
2. Cơ sở thực tiễn:
a. Thực tiễn vấn đề nghiên cứu:
Chương trình Toán lớp 3 các em được học bốn phép tính số học cụ thể
như bài: Cộng, trừ các số có ba chữ số (không nhớ); Cộng các số có ba chữ số
(có nhớ một lần); Trừ các số có ba chữ số (có nhớ một lần); Ôn bảng nhân,
chia từ 2 đến 5 và hình thành bảng nhân, chia từ 6 đến 9. Sau đó các em sẽ
thực hiện nhân, chia với số có ba chữ số. Mức độ làm toán được nâng cao dần
từ dễ tới khó, từ thấp đến cao.
Tuy vậy trong quá trình giảng dạy chúng tôi nhận thấy phần đông các em
vẫn chưa thực hiện được bốn phép tính cơ bản cộng, trừ, nhân, chia. Kỹ năng
tính toán chậm thường tính sai kết quả nhất là các phép tính cộng, trừ có nhớ và
nhân, chia các số có nhiều chữ số. Bên cạnh có em còn lúng túng và lơ là trong
học toán. Qua tìm hiểu và quan sát chúng tôi nhận biết có rất nhiều nguyên nhân
dẫn đến học sinh làm sai khi thực hiện cộng, trừ, nhân, chia như sau:
+ Chưa thuộc bảng cộng, bảng trừ đã học ở lớp 2.
+ Chưa thuộc bảng nhân, bảng chia từ 2 đến 9.
+ Thường quên số nhớ khi thực hiện tính.
+ Kỹ năng tính toán chậm nhất là đối với phép chia.
Để giúp các em có kỹ năng tính và thực hiện các phép tính hiệu quả hơn
chính là giúp cho các em có những cơ sở vững chắc để học tốt môn toán ở các
lớp trên, đồng thời các em có đủ kiến thức cơ bản để áp dụng thực hiện tính toán
trong thực tế cuộc sống. Do đó việc lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với
trình độ và đặc điểm của từng đối tượng học sinh trong lớp là điều quan trọng

7


+ Rèn kỹ năng thực hiện phép tính nhân.
8


+ Rèn kỹ năng thực hiện phép tính chia.
3.2. Giải pháp chứng minh vấn đề được giải quyết:
3.2.1. Rèn kỹ năng cộng, trừ có nhớ:
a. Những lỗi sai mà học sinh hay mắc phải:
Khi thực hiện các phép tính cộng, trừ (có nhớ) các em còn nhầm lẫn tính
sai. Tìm hiểu nguyên nhân chúng tôi nhận thấy các em chưa thuộc các bảng
cộng, trừ đã học ở lớp 1, 2 để vận dụng vào tính toán. Có em khi trừ có nhớ thì
lại lấy chữ số ở số trừ trừ đi chữ số ở số bị trừ, vì thấy chữ số ở số trừ lớn hơn
chữ số ở số bị trừ.
* Ví dụ 1: Bài tập 1 trang 7.
Học sinh làm sai
- 7 trừ 1 bằng 6, viết 6. (lấy chữ số ở số trừ trừ cho chữ số ở số
bị trừ)
541

- 127

426

- 4 trừ 2 bằng 2, viết 2.
- 5 trừ 1 bằng 4, viết 4.

Hoặc có em làm như thế này:
* Ví dụ 2: Bài tập 2 trang 7.
- 7 trừ 3 bằng 4, viết 4.
627


184

- 4 thêm 1 bằng 5, 6 trừ 5 bằng 1, viết 1.

Có em khi thực hiện tính phải gạch từng gạch trên giấy nháp để tính cộng
hoặc trừ. Phần đông các em hay quên đi số nhớ. Đối với các bài tập nhớ đến 2, 3
lần thì các em chỉ nhớ 1 lần mà thôi.
* Ví dụ 1: Bài tập 1 trang 5
Học sinh làm bài sai
- 6 cộng 5 bằng 11, viết 1. (quên số nhớ)
256

+ 125

- 5 cộng 2 bằng 7, viết 7.

371

- 2 cộng 1 bằng 3, viết 3.

Hoặc có em làm như thế này:
* Ví dụ 2: Bài tập 2 trang 102
- 4 cộng 8 bằng 12, viết 2, nhớ 1.
2634
+ 4848

- 3 cộng 4 bằng 7, thêm 1 bằng 8, viết 8.

6482

cao.
b. Cách khắc phục:
b1. Đối với phép tính cộng:
Để giúp các em rèn luyện kỹ năng tính cộng có nhớ thành thạo, một mặt
chúng tôi cho các em ôn lại các bảng cộng có nhớ ở lớp 2, mặt khác chúng tôi
hướng dẫn các em thực hiện thuật tính để nhớ bảng cộng và thực hành trong khi
tính bằng cách sau:
Đối với bảng cộng “9 cộng với một số” chúng tôi hướng dẫn các em nhẩm
nhanh bằng cách bớt 1 ở số hạng thứ hai, bù 1 vào 9 để được 10.
Ví dụ: 9 + 5 = ? Ta lấy 5 bớt 1 còn 4, lấy 1 bù vào 9 được 10. Vậy 9 + 5 =
14. Hoặc 9 + 8 = ? Ta lấy 8 bớt 1 còn 7. Lấy 1 bù vào 9 được 10. Vậy 9 + 8 =
17.
Qua đó giáo viên chỉ cần nhắc học sinh biết khi thực hiện cộng 9 với một số
(số có một chữ số) trừ số 0 thì kết quả hàng chục là 1 và hàng đơn vị bằng số đó
trừ đi 1. Thực tế chỉ cần giảng cho các em hiểu và sau đó áp dụng thành kỹ năng
là chỉ nêu đúng kết quả phép tính là được.
Ví dụ: 9 + 7 = ? thì học sinh sẽ nhẩm và biết được 7 bớt 1 bằng 6 nên 9 + 7
= 16. Hoặc 9 + 3 = ? thì học sinh sẽ biết được 3 bớt 1 bằng 2 nên 9 + 3 = 12.
Tương tự với bảng cộng 8 cộng với một số thì ta bớt số đó đi 2 để nêu
nhanh kết quả. Ví dụ như 8 + 7 = 15 vì 7 bớt 2 còn 5 hoặc 8 + 4 = 12 vì 4 bớt 2
còn 2.
Bảng cộng 7 với một số thì ta bớt số đó đi 3 để nhẩm, 6 cộng với một số thì
ta bớt số đó đi 4 để nhẩm. Bằng cách biết vận dụng như vậy các em sẽ tính toán
nhanh hơn thay vì đếm tay hay gạch từng gạch trên giấy nháp để tính khi cộng
có nhớ.
Sau khi các em đã nắm chắc thủ thuật tính nhẩm, giáo viên hướng dẫn các
em vận dụng vào bài cộng các số có nhiều chữ số rất dễ dàng. Nhưng khi học
11




8460

- 2 cộng 3 bằng 5, thêm 1 bằng 6, viết 6.
- 9 cộng 5 bằng 14, viết 4, nhớ 1.
- 6 cộng 1 bằng 7, thêm 1 bằng 8, viết 8.

- Ở phép tính này ta thực hiện 4 lượt tính theo thứ tự từ phải qua trái lần
lượt là 4 cộng 6, 2 cộng 3, 9 cộng 5 và 6 cộng 1. Học sinh luyện tập từng bước:
- 6 cộng 4 bằng 10, viết 0 nhớ 1 (cộng có nhớ).
- 2 cộng 3 bằng 5, thêm 1 nhớ bằng 6, viết 6.
12


- 9 cộng 5, học sinh nhẩm bảng cộng 9 sẽ tìm thấy kết quả 9 + 5 = 14, viết 4
nhớ 1. (cộng có nhớ).
- 6 cộng 1 bằng 7, thêm 1 bằng 8, viết 8.
- Cứ mỗi lần như thế giáo viên kiên nhẫn rèn từng bước một, học sinh ngày
mỗi ngày được rèn luyện thành thói quen và kỹ năng tính toán.
b2. Đối với phép tính trừ:
Để giúp các em rèn luyện kỹ năng tính trừ (có nhớ) thành thạo, chúng tôi
hướng dẫn các em thực hiện thuật tính để nhớ bảng trừ và thực hành trong khi tính
bằng cách sau:
Với bảng trừ 11 trừ đi một số ta thực hiện như sau: lấy 1 chục ở hàng chục
trừ số trừ, còn bao nhiêu cộng với số bị trừ ở hàng đơn vị.
* Ví dụ: 11 – 4 thì lấy 1 chục trừ 4 bằng 6, 6 cộng 1 bằng 7 nên 11 – 4 = 7.
11 – 8 thì lấy 1 chục trừ 8 bằng 2, lấy 2 cộng 1 bằng 3 nên 11 – 8 =
3.
Tương tự bảng trừ 12 trừ đi một số thì lấy 1 chục để trừ, sau đó lấy kết quả
cộng với 2. Bảng 13 trừ đi một số thì cộng 3, ……Bảng 18 trừ đi một số thì

viên hướng dẫn các em biết số bị trừ 4 nhỏ hơn số trừ 5 nên ta đã mượn 1 chục để
có 14 – 5 nên ta phải nhớ 1 chục để trừ lại cho lượt trừ tiếp theo. Vậy 14 trừ 5 bằng
9, viết 9, nhớ 1.
* Lưu ý: cho các em nhận biết nếu chữ số ở số bị trừ nhỏ hơn chữ số ở số
trừ thì lượt tính đó là trừ có nhớ.
- Sau đó lấy số trừ là 1 thêm số nhớ 1 nữa là 2, lấy 6 trừ 2 bằng 4, viết 4.
- Cuối cùng là 5 trừ 2 bằng 3, viết 3.
* Ví dụ 2: Bài tập 1 trang 104.
- 3 không trừ được 8, lấy 13 trừ 8 bằng 5, viết 5, nhớ 1. (trừ có
nhớ).
7563

- 4908
2655

- 0 thêm 1 bằng 1, 6 trừ 1 bằng 5, viết 5.
- 5 không trừ được 9, lấy 15 trừ 9 bằng 6, viết 6, nhớ 1. (trừ có

nhớ).
- 4 thêm 1 bằng 5, 7 trừ 5 bằng 2, viết 2.
- Ở phép tính này ta thực hiện 4 lượt tính lần lượt là 3 trừ 8, 6 trừ 0, 5 trừ 9
và 7 trừ 4. Lưu ý cho các em nhận biết phép trừ có nhớ hay không nhớ trước khi
làm tính. Nhìn các chữ số ở mỗi lượt tính ta thấy 3 trừ 8 và 5 trừ 9 là thực hiện
trừ có nhớ. Vì số bị trừ nhỏ hơn số trừ.
- Sau đó, các em thực hiện trừ như hướng dẫn.
Khi học sinh nắm chắc kỹ năng trừ nhẩm như thế thì các em làm toán sẽ
nhanh hơn và hạn chế được sai sót khi tính. Bằng cách đó chúng tôi từng bước
14



15


- 5 cộng 7 bằng 12, viết 2, nhớ 1. (chấm 1 dấu dưới chữ số của hàng
tiếp theo).
435

.

+.127

562

- 3 cộng 2 bằng 5, thêm 1 bằng 6, viết 6.
- 4 cộng 1 bằng 5, viết 5.

- Ở phép tính này giáo viên hướng dẫn kỹ cho các em, lượt đầu tiên 5 cộng
7 là tính cộng có nhớ. Nên ghi dấu chấm vào dưới chữ số 2 ở hàng chục.
- Sang lượt thứ 2 lấy 3 cộng 2 bằng 5, thêm 1 nhớ bằng 6, viết 6. Khi tính
đến đây các em không thể quên được số nhớ vì nhìn thấy dấu chấm đã được ghi
trong lần thực hiện đầu tiên.
- Cuối cùng lấy 4 cộng 1 bằng 5, viết 5.

Ví dụ b: (SGK trang 102) Đối với phép cộng có nhớ 2 lần:
- 6 cộng 9 bằng 15, viết 5, nhớ 1. (ghi dấu chấm sang hàng
chục).
3526

+ 2759
. .

-. 3917
.
4735

- 1 thêm 1 bằng 2, 5 trừ 2 bằng 3, viết 3.
- 6 không trừ được 9, lấy 16 trừ 9 bằng 7, viết 7, nhớ 1 (chấm 1 ở hàng

nghìn)
- 3 thêm 1 bằng 4, 8 trừ 4 bằng 4, viết 4.
Bằng tâm huyết của nghề chúng tôi từng bước hướng dẫn các em thực
hiện cộng, trừ có nhớ bằng cách vận dụng các thủ thuật tính cộng, trừ nhẩm,
cách sử dụng dấu chấm để ghi nhớ số cần nhớ khi làm phép tính giúp em các em
dễ nhận ra và tính được kết quả đúng nhất. Góp phần nâng cao chất lượng học
toán.
3.2.2 Rèn kỹ năng thực hiện phép tính nhân cho học sinh:
a. Những lỗi sai mà học sinh hay mắc phải:
Khi thực hiện phép tính nhân số có hai hoặc ba chữ số cho số có một chữ số
(có nhớ), một số học sinh thường sai lầm vì không biết khi nhân lên thì phải viết
chữ số nào vào kết quả và chữ số nào cần phải nhớ để cộng thêm vào kết quả ở lượt
nhân thứ hai.
Ví dụ 1: Thông thường khi thực hiện tính viết thì 6 x 4 = 24 ta viết 4 nhớ 2.
Trong khi đó, học sinh sẽ tính 6 x 4 = 24 thì lại viết 2 nhớ 4 hoặc 5 x 7 = 35 thì
viết 3 nhớ 5.
Một số em lại chỉ nhớ 1 vào lượt nhân thứ hai mặc dù khi nhân với chữ số
hàng đơn vị có kết quả là 24 hay 45 thì cũng chỉ nhớ 1 thôi vì cứ nghĩ nhân cũng
như cộng.
Ví dụ 2:
Học sinh lấy 6 x 4 = 24 thì viết 4 nhớ 1
Hoặc 9 x 5 = 45 thì lại viết 5 nhớ 1.
17

Ngoài ra còn số em thường mắc lỗi nhiều như không hiểu được việc ghi
nhớ số nhớ, nên viết kết quả trực tiếp vào phép tính.
Ví dụ: Bài tập 2 trang 55
437
x

- 2 nhân 7 bằng 14, viết 14.
- 2 nhân 3 bằng 6, viết 6.

2

- 2 nhân 4 bằng 8, viết 8.

8614
b. Cách khắc phục:
Muốn thực hiện tốt phép nhân thì trước hết các em phải hiểu rõ tính chất
phép nhân và thuộc được các bảng nhân từ 2 đến 5 đã học ở lớp 2 và bảng nhân
từ 6 đến 9 đã học ở lớp 3. Đối với các em chưa thuộc bảng nhân nên tính còn
sai, giáo viên cần hướng dẫn các em ôn kỹ các bảng nhân đã học và khi dạy hình

18


thành bảng nhân thì phương pháp chủ yếu là trực quan kết hợp làm mẫu. Chẳng
hạn như từ các tấm bìa có 6 chấm tròn mà hình thành bảng nhân 6.
Ví dụ: 1 tấm bìa có 6 chấm tròn nhưng khi lấy 2 tấm bìa thì được 12 chấm
tròn. Học sinh tìm được vì 6 + 6 = 12.
Vậy lấy 3 tấm bìa thì được bao nhiêu chấm tròn? Học sinh nêu được là 18
chấm tròn. Làm thế nào để biết là 18 chấm tròn các em lấy 6 + 6 + 6 = 18.
Từ đây giáo viên cho các em nhận xét các số hạng trong tổng đều bằng

- Đặt tính theo cột dọc: Chú ý nhắc lại quan hệ cùng cột với các chữ số
cùng hàng tính từ phải sang trái. Như chữ số 8 thẳng cột với chữ số 5. Chẳng
hạn như sau:
105
x
8
- Thực hiện tính nhân: Lấy thừa số thứ hai là 8 nhân với từng chữ số ở thừa
số thứ nhất theo thứ tự từ phải sang trái: (từ hàng đơn vị, chục, trăm, …)
+ 8 nhân 5 bằng 40, viết 0, nhớ 4. Ở đây giáo viên cần hướng dẫn kỹ
kết quả của lượt nhân đầu tiên là số có hai chữ số nên ta viết chữ số hàng đơn vị
vào cột đơn vị ở kết quả, nhớ lại chữ số hàng chục để thêm vào kết quả của lượt
nhân tiếp theo.
+ 8 nhân 0 bằng 0, thêm 4 bằng 4, viết 4. Giáo viên nên khắc sâu cho
học sinh, khi nhân ở lượt tiếp theo là hàng chục được kết quả rồi, sau đó phải
cộng thêm 4 chục nhớ ở lượt nhân đầu tiên, tất cả được 4 chục viết 4 vào hàng
chục. Ở lượt nhân này học sinh phải nhớ khi thực hiện nhân một số nào đó với
số 0 thì kết quả bằng 0.
+ 8 nhân 1 bằng 8, viết 8.
- Vậy ta có kết quả:
105
x

- 8 nhân 5 bằng 40, viết 0, nhớ 4.
- 8 nhân 0 bằng 0, thêm 4 bằng 4, viết 4.

8

- 8 nhân 1 bằng 8, viết 8.

840

a. Những lỗi sai mà học sinh hay mắc phải:
Đối với phép chia, một số em đặt tính đúng nhưng khi thực hiện tính lại
không ghi kết quả hoặc chỉ ghi kết quả mà không ghi các bước tính.
Ví dụ:
Học sinh làm bài sai.
21


84

4

84

21

- Ở phép tính này các em ghi đúng kết quả nhưng từng bước

tính sai
- Các em hạ hết 2 chữ số để chia.

00
39

3

- Ở phép tính này các em thực hiện chia đúng mà không ghi

kết quả.
3

- Kết quả cuối cùng lớn hơn số bị chia.

5

- Chưa nắm rõ đặc điểm của số dư.

1
Một số em lại tính sai kết quả vì hay bỏ quên chữ số 0 trong phép chia có
chữ số 0 ở thương.
Ví dụ:
725

6

- Các em thực hiện đúng 2 lượt chia.
22


6

12

12

- Lượt chia thứ 3 các em không tính vì thấy 5 nhỏ hơn 6.
- Các em không biết số nhỏ hơn chia số lớn hơn được 0 và

phải viết
12


tiên có thể lấy một chữ số để chia (nếu chữ số của số bị chia lớn hơn số chia)
hoặc hai chữ số để chia (nếu chữ số của số bị chia nhỏ hơn số chia), các lượt
chia còn lại chỉ được lấy lần lượt một chữ số. Đây là bài đầu tiên chia thực hiện
phép chia nên giáo viên cần hướng dẫn thật kỹ, học sinh nắm được cách chia,
biết ước lượng thương (dựa vào dãy số đếm thêm) thì đến các bài chia số có
nhiều chữ số cho số có một chữ số học sinh thực hiện rất dễ dàng.
Ví dụ 1: 46 : 2
46

2

- Lượt đầu tiên lấy 4 chia 2, được 2, viết 2. (thực hiện

4

23

2 nhân 2 bằng 4 (thực hiện nhân), 4 trừ 4 bằng 0 (thực hiện

chia).
trừ).
06

- Lượt thứ 2 hạ 6. Lấy 6 chia 2 được 3, viết 3.

6

3 nhân 2 bằng 6, 6 trừ 6 bằng 0.

0


- Giáo viên hướng dẫn học sinh lần lượt thực hiện như sau:
+ Lượt đầu tiên phải lấy 16 chia 4, nếu lấy 1 thì không chia được 4 vì 1
nhỏ hơn 4. Dựa vào bảng chia 4 học sinh tìm được 16 chia 4 được 4, viết 4 ở
thương. 4 nhân 4 bằng 16, 16 trừ 16 bằng 0.
+ Lượt tiếp theo hạ 8, lấy 8 chia 4 được 2, viết 2 ở thương bên phải số 4
ở lượt chia đầu. 2 nhân 4 bằng 8, 8 trừ 8 bằng 0.
+ Vậy: 168 : 4 = 42.
- Sau khi học sinh thực hiện tính và rút ra kết luận:
+ Đối với phép chia 46 : 2 là “chia số có hai chữ số cho số có một chữ
số” thì có hai lượt chia ứng với kết quả là số có hai chữ số, lượt đầu tiên lấy một
chữ số để chia.
+ Đối với phép chia 168 : 4 là “chia số có ba chữ số cho số có một chữ
số” thì cũng có hai lượt chia ứng với kết quả là số có hai chữ số vì lượt đầu tiên
phải lấy hai chữ số để chia.
+ Đối với cả hai phép chia trên thì khi thực hiện trừ nhẩm đều bằng 0
nên gọi đó là phép chia hết với số dư là 0.
- Đến khi dạy phép chia có dư giáo viên cần cho học sinh nắm rõ đặc điểm
của số dư “Số dư bao giờ cũng nhỏ hơn số chia”. Số dư chính là số còn thừa lại
khi thực hiện trừ nhẩm giữa số bị chia với kết quả của phép nhân. Số dư chỉ
được chia tiếp khi ta hạ một chữ số ở số bị chia xuống bên phải cạnh nó nếu
không thì nó không được chia tiếp cho số chia. Trong phép chia có dư giáo viên
cần cho học sinh biết ước lượng thương để chia nếu các em chưa thuộc bảng
chia. Điều này cần lưu ý rõ để các em nắm chắc mà không tính sai như đã nêu ở
trên.
Ví dụ: 543 : 2
543

2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status