Một số kinh nghiệm phát triển vốn từ cho trẻ lứa tuổi 24 36 tháng ở trường mầm non b thị trấn văn điển - Pdf 34

sáng kiến kinh nghiệm phát triển vốn từ cho trẻ
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sáng kiến kinh nghiệm phát triển vốn từ cho trẻ. Ngôn ngữ là công cụ của
tư duy, là phương tiện giao tiếp giúp cho con người thể hiện hiểu biết, kinh
nghiệm, thái độ của bản thân về sự vật hiện tượng của thế giới xung quanh.
Đồng thời, ngôn ngữ cũng giúp cho con người lĩnh hội các tri thức kinh
nghiệm của xã hội loài người. Ngôn ngữ nói rất quan trọng, đặc biệt với trẻ
mầm non lại càng quan trọng hơn. Trẻ chưa biết đọc, chưa biết viết nên muốn
người khác hiểu mình muốn nói gì thì trẻ phải thể hiện bằng ngôn ngữ nói kết
hợp với nét mặt, cử chỉ, điệu bộ diễn đạt ý muốn của mình. Tục ngữ Việt
Nam có câu “Trẻ lên 3 cả nhà học nói”, là một giáo viên trực tiếp chăm sóc
giáo dục trẻ lứa tuổi 24-36 tháng tuổi, tôi thấy câu tục ngữ thật đúng. Trẻ lứa
tuổi này ngoài khả năng vận động còn yếu, phát triển chưa hoàn thiện thì khả
năng về ngôn ngữ của trẻ còn rất hạn chế. Muốn cho ngôn ngữ của trẻ phát
triển thuận lợi, một trong những điều kiện quan trọng là trẻ được tích lũy
nhiều vốn từ và trên cơ sở hiểu biết đầy đủ ý nghĩa của những từ đó, trẻ biết
cách sử dụng “số vốn từ” đó một cách thành thạo.
Căn cứ vào đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ phát triển theo giai đoạn,
về mặt số lượng: Giai đoạn trẻ 24 – 36 tháng vốn từ của trẻ có khoảng 243 –
486 từ (Trong đó số lượng danh từ và động từ chiếm tỷ lệ nhiều hơn, số
lượng từ khác như tính từ, đại từ, trạng từ được xuất hiện với số lượng ít).
Nhưng trên thực tế ở lớp tôi, vốn từ của trẻ còn rất hạn chế. Qua khảo sát kết
quả đầu năm cho thấy: Số lượng trẻ nói được trên 200 từ có 2/40 cháu đạt tỷ


lệ 5% còn lại 38 cháu có số lượng từ dưới 200 từ chiếm tỷ lệ 95%. Hiểu
nghĩa của từ: 6/40 cháu đạt 15%. Tích cực hóa vốn từ: 6/40 đạt 15%.
Là một giáo viên mầm non nhiều năm kinh nghiệm dạy trẻ ở độ tuổi 24
– 36 tháng, tôi rất trăn trở với kết quả khảo sát như trên và suy nghĩ: làm thế
nào để giúp trẻ lớp tôi có thể phát triển ngôn ngữ, làm giàu vốn từ cho trẻ.
Ngay từ đầu năm học, tôi đã áp dụng một số biện pháp để phát triển vốn từ

sở đầu tiên giúp trẻ giao tiếp với mọi người, mở rộng hiểu biết về thế giới
xung quanh và giúp trẻ diễn đạt ý muốn của mình bằng những câu đơn giản.
Hàng ngày, qua quan sát và thông qua hoạt động của trẻ tôi nhận thấy một số
hạn chế ảnh hưởng đến khả năng phát triển ngôn ngữ của trẻ như:
Về tâm lý: trẻ mới đi học (lớp đầu tiên của trường mầm non) mới được
sinh hoạt trong môi trường tập thể rất bỡ ngỡ, lúc đầu đến lớp hay khóc nhè
(khóc nhiều hơn nói), khi đã quen cô một số trẻ lại quá nhút nhát thường hay
thu mình lại chỉ thích chơi một mình, khả năng giao lưu bằng ngôn ngữ kém.


Về sinh lý: lứa tuổi này cơ quan phát âm chưa hoàn thiện, trẻ hay bị
nói ngọng, các câu nói của trẻ thường hay thiếu thành phần hoặc chủ ngữ
hoặc vị ngữ. Trẻ hay bị hụt hơi, chưa nói được cả câu dài.
Số vốn từ: trẻ 2- 3 tuổi có số lượng từ tăng nhanh. Đặc biệt ở trẻ 22
tháng, trẻ 30 tháng. trong vốn từ của trẻ, phần lớn là các danh từ, động từ.
Các từ loại khác như tính từ, đại từ, trạng từ…được xuất hiện với số lượng ít
và được tăng dần theo tháng tuổi của trẻ.
– Với những đặc điểm phát triển vốn từ trên, chúng ta cần hình thành và phát
triển vốn từ cho trẻ .
+ Làm giàu vốn từ cho trẻ: Phát triển vốn từ về chiều rộng (tăng số lượng từ
trong vốn từ của trẻ); cung cấp thêm các từ tên gọi của các sự vật, hiện tượng,
các hoạt động, trạng thái; các tính chất, đặc điểm của sự vật, hiện tượng.
+ Nâng cao khả năng hiểu nghĩa của từ ở trẻ; dạy trẻ dùng từ chính xác; phát
triển vốn từ đồng nghĩa, trái nghĩa; điều này giúp trẻ khả năng lựa chọn và sử
dụng từ chính xác.
+ Tích cực hóa vốn từ cho trẻ: Từ phải được sử dụng đúng trong cấu trúc
câu. Một từ có thể sử dụng trong nhiều câu khác nhau, được tích cực hóa
trong hoạt động giao tiếp.
2. Cơ sở thực tiễn:


ảnh, màu sắc hấp dẫn (tranh ảnh, vật thật).
1.

Khó khăn:

– Khả năng tâm sinh lý của trẻ không đồng đều có cháu sức khoẻ yếu nên
phần nào cũng ảnh hưởng đến quá trình nhận thức, củng cố kiến thức nề nếp
thói quen trong sinh hoạt và học tập.
– Có nhiều cháu nói ngọng gia đình chưa rèn luyện thường xuyên, nhiều trẻ
chưa biết nói, một số cháu phát âm chưa chuẩn.
– Đa số trẻ lần đầu tiên đến trường còn nhút nhát, ngại giao tiếp.
Xuất phát từ những cơ sở thực trạng và những điều kiện khó khăn, thuận lợi
trên của lớp tôi, tôi đã áp dụng thực hiện các biện pháp sau để phát triển vốn
từ cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi ở lớp tôi.
3. Biện pháp:

3.1 Tự bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tích lũy kinh
nghiệm về việc phát triển vốn từ cho trẻ
Việc tự bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tích lũy
kinh nghiệm về việc phát triển vốn từ cho trẻ của giáo viên là vô cùng quan
trọng bởi thông qua đó giáo viên nắm chắc được các phương pháp, biện pháp
để áp dụng thực tế trên trẻ sao cho phù hợp nhất nhằm kích thích trẻ chú ý
lắng nghe người khác nói, tự tin nói,tự tin giao tiếp với bạn bè, cô giáo, mọi


người xung quanh. Qua đó vốn từ của trẻ sẽ phát triển dần dần, góp phần
hình thành con người năng động trong tương lai
Cách thực hiện: tôi luôn tự trau dồi kiến thức mọi lúc,mọi nơi để làm mới
mình như tham khảo những thông tin qua các trang giáo dục, qua sách vở tài
liệu sách báo về việc phát triển vốn từ cho trẻ

Cứ như vậy theo kiểu “Mưa dầm thấm lâu” Trẻ mạnh dạn gần gũi cô.
Ngôn ngữ được cung cấp và củng cố càng ngày càng giúp trẻ mạnh dạn tự
tin trong giao tiếp. Khi chơi nói chuyện với bạn rất cở mở tự tin. Bằng hình
thức này tôi rút ra rằng: Muốn trẻ mạnh dạn tham gia chơi hay giao tiếp cùng
bạn bè thì phải có vốn từ phát triển. Chính vì vậy mà giờ đón trẻ là thời điểm
tôi hay trò chuyện với trẻ để cùng củng cố và phát triển vốn từ cho trẻ.
1.

Thông qua hoạt động học để phát triển ngôn ngữ.

– Hoạt động nhận biết tập nói:
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng trong giờ hoạt động học Nhận
biết tập nói là hết sức thuận lợi. Vì hoạt động Nhận biết tập nói mục đích
chính là cung cấp kiến thức kèm phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Ở lứa tuổi này,
trẻ không chỉ có khả năng nhận biết từng sự vật riêng lẻ mà còn có khả năng
khái quát hoá đơn giản. Vì vậy, khi dạy trẻ nhận biết tập nói tôi đã sử dụng


đồ dùng trực quan đa dạng như: vật thật, đồ chơi, đồ chơi tự tạo, tranh ảnh…
để kích thích sự chú ý của trẻ. Khi trẻ quan sát các sự vật, tôi đặt các câu hỏi
ngắn gọn gợi mở để định hướng sự chú ý của trẻ và phát huy tính tích cực
chủ động đồng thời phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Ví dụ: đây là cái gì? (Con gì, quả gì…)
Nó màu gì? nó kêu như thế nào? Nó dùng để làm gì?
Nếu là quả thì đàm thoại: Vỏ nó nhẵn hay sần sùi?
Khi ăn có vị chua hay ngọt?
Nó có hạt không?
Cô giáo trong tiết học cũng cần tạo tình huống để trẻ phát triển ngôn ngữ
như: bật đài có tiếng kêu của con vật hay tiếng còi của một loại phương tiện
giao thông rồi cho trẻ đoán: Đó là con gì? đó là phương tiện giao thông gì?..

+ Cách tiến hành:
Chuẩn bị: Các cây nhựa có quả gần gũi với trẻ: Na, chuối, cam, xoài,
tranh chụp một số loại quả.
Cách chơi: Lần 1 cô cho trẻ ngồi vòng cung và nói cách chơi. Cô yêu cầu trẻ
vào vườn quả và hái quả theo yêu cầu của cô, yêu cầu trẻ nói tên quả và màu
sắc của các loại quả đó.
Lần 2 cô mô tả quả (một loại quả, 2 loại quả) yêu cầu trẻ hái quả theo sự mô
tả, mô phỏng của cô. Trẻ nói tên và màu sắc quả.
Ví dụ: Hãy hái cho cô quả tròn, vỏ sần, ăn chua, có hạt!. Trẻ hái quả cam và
nói tên quả. Cô hỏi quả cam màu gì? quả cam màu xanh.
VD4: Hoạt động Nhận biết tập nói: Ôn một số phương tiện giao thông
Tôi cho trẻ chơi trò chơi: Bắt chước tiếng kêu của phương tiện giao thông.
+ Mục đích: luyện cho trẻ phát âm những từ khó “ tu tu, tuýt tuýt, pim
pim”…
+ Nội dung: Dùng tình huống trò chơi để dạy trẻ phát triển ngôn ngữ, bắt
chước tiếng còi của các loại phương tiện giao thông: tàu hoả, xe đạp, ô tô, xe
máy.


+ Chuẩn bị: đồ chơi như ô tô, tàu hoả, xe máy,xe đạp, xích lô
Tranh các loại phương tiện giao thông
+ Cách chơi: cô cho trẻ ngồi vòng cung, giới thiệu luật chơi: Hôm nay cô
tặng các con hộp quà, cô lấy ô tô ra và hỏi trẻ: Cái gì đây? Còi ô tô kêu như
thế nào? Sau đó cho ô tô chạy, các cháu hãy bắt chước tiếng còi ô tô. Tiếp tục
cô lấy tầu hoả và làm cho tầu chạy. Trẻ giả tiếng còi tầu “tu tu…” Cô lấy xe
máy ra cô nói “tuýt tuýt…” và vặn cót cho xe chạy. Các cháu bắt chước còi
kêu.
Những lần sau cô cho lần lượt từng trẻ bắt chước tiếng kêu của một loại
phương tiện nào đó ( do trẻ tự nghĩ ra)
Ảnh 2: Cô và trẻ trò chuyện về phương tiện giao thông

khích trẻ trả lời đặc biệt là hướng tới từng cá nhân trẻ
Hỏi trẻ: + Tên câu chuyện là gì?
+ Trong truyện có những nhân vật nào?


+ Ai đã trồng cây táo?
+ Bé đã làm gì giúp ông?
+ Bạn Gà trống đã nói gì với cây?
+ Khi bạn Bươm bướm gọi trên cây xuất hiện cái gì?
+ Để cây ra hoa, kết quả các con phải làm gì?
Ảnh 3: Hình ảnh cô và trẻ đang trò chuyện trong nội dung truyên “ Cây
táo”
Hoạt động tạo hình sáng kiến kinh nghiệm phát triển vốn từ cho trẻ
Nặn quả tròn (dài).
Mục đích: Giúp trẻ sử dụng được một số từ: Cong cong, tròn tròn, dài dài,
xinh xinh.
Tiến hành: Khi nói chuyện với trẻ phải tạo cho trẻ hứng thú với các từ, tôi
đọc thật vần, thêm giai điệu….
Hãy nhìn quả táo (chuối) mà cô vừa nặn đây, các con!
Quả táo tròn tròn, quả táo xinh xinh.
Quả chuối dài dài, quả chuối cong cong…


Sau mỗi câu hỏi đưa ra,cô động viên trẻ nói theo hình thức cả lớp,nhóm,
khuyến khích cá nhân trẻ nói nhiều hơn
1.

Phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động vui chơi:
Việc tổ chức cho trẻ vui chơi cùng nhau có ý nghĩa vô cùng quan


phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Ví dụ: Hoạt động chơi góc văn học “ kể chuyện theo tranh”
1.

Mục đích: Giúp trẻ kể lại truyện theo các câu hỏi gợi ý của cô, phát
triển ngôn ngữ, làm giàu vốn từ cho trẻ

2.

Chuẩn bị: Sách truyện tranh
Tranh 1: Đôi bạn Sóc và Thỏ vào rừng chơi
Tranh 2: Thỏ nhìn thấy chùm quả chín vàng
Tranh 3: Thỏ với tay lấy chùm quả và thỏ bị ngã. Sóc kéo bạn nhưng

sức yếu không kéo được
Tranh 4: Bác Voi đi qua, sóc nhờ bác Voi kéo bạn Thỏ. Hai bạn cảm
ơn bác
c.Tiến hành:


Cô kể chuyện theo tranh một lần kết hợp điệu bộ, cử chỉ, hành động: đi
chơi, với quả, trượt chân ngã…. Sau đó cô đưa ra câu hỏi và câu trả lời ngắn
cho trẻ trả lời, hỏi trẻ các câu hỏi gợi mở như: Tại sao Thỏ bị ngã? Vì sao
Thỏ và Sóc cảm ơn bác Gấu? Cuối cùng cô mời trẻ kể lại
Ảnh 5: Cô và trẻ trong hoạt động góc “Bé kể chuyện theo tranh”
Chủ đề “ Những con vật đáng yêu”.
Ví dụ : Hoạt động làm sách tranh về các con vật
a.Mục đích: Trẻ nhận biết, gọi tên các con vật quen thuộc và một số
đăc điểm nổi bật của nó
b.Chuẩn bị: Một số tranh, lô tô về những con vật quen thuộc có kích

tiếng kêu và động tác của con vật đó:
– Con gà trống: hai tay khum khum ở miệng, cổ vươn cao và phát âm ò…ó…
o
– Con gà mái: chống hai tay vào hông, đầu hơi cúi xuống và nói cục cục cục
– Con vịt : hai tay úp vào nhau, áp vào dưới cằm mặt nhìn thẳng và nói cạp
cạp cạp
– Con mèo: hai tay úp vào nhau, áp vào má phải rồi áp vào má trái, đồng thời
nói meo meo meo
– Con chó: hai tay co trước ngực đều nhau, hai chân nhảy thẳng lên theo nhịp
câu nói gâu gâu gâu
– Con ong: hai tay dang rộng sang hai bên và nói vù vù vù
– Con dê: hai tay nắm vào cằm, đầu gập gập theo nhịp câu be be be


– Con trâu: hai tay chống hông, đầu ngẩng cao, quay về phía bên phải và nói
nghé…ọ…nghé…ọ, rồi lại quay sang trái và nói nghé…ọ…nghe…ọ
Do đặc điểm trẻ ở lứa tuổi 24-36 tháng rất thích quan sát màu sắc, tôi đã
trang trí lớp theo chủ điểm, đồ dùng đồ chơi luôn có màu sắc phù hợp với lứa
tuổi. Hàng ngày tôi gợi ý cho trẻ đọc tên các đồ dùng, đồ chơi.Cô hỏi trẻ:
Góc này trang trí cái gì? có màu gì? tranh con gì đây?…
Ngoài ra các đồ dùng đồ chơi do trường mua sẵn tôi còn làm thêm các
đồ dùng đồ chơi bằng nguyên liệu khác nhau để trang trí lớp và phục vụ cho
giờ học giờ chơi của trẻ.
Giờ chơi chuyển tiếp: Tôi sử dụng một số trò chơi dân gian để phát
triển vốn từ cho trẻ. Khi cho trẻ chơi các trò chơi này, cô dùng lời nói để
hướng dẫn trẻ cách chơi. Qua trò chơi trẻ nghe và hiểu được những câu nóivà
thực hiện được một số yêu cầu của cô
* Trò chơi thứ nhất: Chi chi chành chành
Chi chi chành chành
Nhớ rút cho nhanh

1.

Cách tiến hành:
Cô giáo và 5 – 7 trẻ dắt tay nhau đi quanh phòng vừa đi vừa đọc.

Dung dăng dung dẻ


Cùng trẻ mua hàng
Tìm các loại rau
Vị ngọt hàng đầu
Là mớ rau ngót
Có thêm tí bọt
Là mớ rau đay
Mát ruột mới hay
Là rau bắp cải
Xì xà xì xụp
Sáng tác: Hồng Vân
Đến câu cuối “xì xà xì xụp” cô và trẻ cùng ngồi xuống. Sau đó trò chơi lại
được lặp lại.
* Trò chơi thứ ba: “Nu na nu nống”
1.

Mục đích: – Luyện tập phản ứng nhanh khi thay đổi tư thế vận động.
– Luyện tập cho trẻ nói nhanh lưu loát.

1.

Cách tiến hành:


* Trò chơi thứ 5 “Lộn cầu vồng”
1.

Mục đích:
– Kích thích hứng thú ở trẻ khi trẻ chơi
– Luyện khả năng phát âm, khả năng đọc lưu loát ở trẻ. Trẻ biết phối

hợp chơi cùng bạn.
1.

Cách tiến hành:

Từng đôi trẻ đứng đối diện nhau đu đưa sang hai bên theo nhịp đọc.
Lộn cầu vồng
Nước trong nước chảy
Cá rô đang nhảy
Cùng cá mè ranh
Có chú ếch xanh
Ngồi trên tàu lá
Có con rùa đá


Chầm chậm đến gần
Há miệng hô to
Nào ta cùng lộn
Đến câu cuối “Nào ta cùng lộn” trẻ buông tay nhau ra quay 1 vòng rồi cầm
tay nhau chơi lại từ đầu.
Ảnh 8: Cô và trẻ chơi trò chơi “Lộn cầu vồng”
Ngoài ra, tôi còn sáng tạo một số trò chơi theo chủ đề để giúp phát triển khả
năng phát âm và ngôn ngữ cho trẻ.

– Phát triển ngôn ngữ, rèn luyện cơ quan phát âm cho trẻ.
1.

Hướng dẫn:
– Dạy trẻ đọc thuộc lời của trò chơi
– Trẻ đọc kết hợp với động tác minh họa của trò chơi



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status