1
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẬN HÀ ĐÔNG
TRƯỜNG MẦM NON HOA TRANG NGUYEN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Tên đề tài:
“ Một số kinh nghiệm trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ
độ tuổi 24- 36 tháng ở Trƣờng mầm non. ”
Lĩnh vực : Giáo dục nhà trẻ
Tác giả : Nguyễn Thị Tuyết Nhung
Chức vụ : Giáo viên
Năm học 2012 - 2013
2
* Giáo viên mầm non (GVMN)
* Mầm non ( MN)
* Phòng Giáo Dục ( PGD)
* Ban Giám Hiệu ( BGH)
* Nhà trẻ ( NT)
* Giáo Dục Mầm non ( GDMN)
* An toàn giao thông ( ATGT)
* Phương tiện giao thông ( PTGT)
4
PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
1- Lý do chọn đề tài:
Bác Hồ đã dạy: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu
của dân tộc, chúng ta phải giữ gìn nó , quý trọng nó.”
Ngôn ngữ có vai trò to lớn trong sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ
em . Ngôn ngữ là phương tiện giữ gìn bảo tồn, truyền đạt và phát triển những kinh
nghiệm lịch sử và phát triển xã hội của loài người . Trẻ em sinh ra đầu tiên là
những cơ thể sinh học, nhờ có ngôn ngữ là phương tiện giao lưu bằng hoạt động
tích cực của mình dưới sự giáo dục và dạy học của người lớn trẻ em dần chiếm
lĩnh được những kinh nghiệm lịch sử- xã hội của loài người và biến nó thành cái
riêng của mình. Trẻ em lĩnh hội ngôn ngữ sẽ trở thành những chủ thể có ý thức,
lĩnh hội kinh nghiệm của loài người xây dựng xã hội ngày càng phát triển hơn.
Ngôn ngữ là phương tiện để phát triển tư duy, là công cụ hoạt động trí
tuệ và là phương tiện để giáo dục tình cảm, thẩm mỹ cho trẻ. Như vậy ngôn ngữ
có vai trò to lớn đối với xã hội và đối với con người. Vấn đề phát triển ngôn ngữ
một cách có hệ thống cho trẻ ngay từ nhỏ là nhiệm vụ vô cùng quan trọng.
Là một cô giáo Mầm Non trực tiếp dạy trẻ 24- 36 tháng tôi luôn có những
suy nghĩ trăn trở làm sao để dạy các con phát âm chuẩn, chính xác đúng Tiếng
từ, biết sử dụng nhiều loại câu bằng cách thường xuyên nói chuyện với trẻ về
những sự vật, hiện tượng, hình ảnh…. mà trẻ nhìn thấy trong sinh hoạt hành ngày,
nói cho trẻ biết đặc điểm, tính chất, công dụng của chúng từ đó hình thành ngôn
ngữ cho trẻ .
II- Thực trạng của vấn đề:
1- Thuận lợi:
- Lớp có diện tích khá rộng rãi, thoáng mát.
- Trẻ được phân chia theo đúng độ tuổi.
- Đa số trẻ đi học rất đều.
- Đồ dùng , đồ chơi phục vụ cho việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ phong phú về
mầu sắc và hình ảnh, hấp dẫn thu hút trẻ.
6
- Giáo viên nhiệt tình làm đồ dùng đồ chơi sáng tạo phục vụ cho việc cung cấp
và phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
2- Khó khăn:
- Vì các cháu bắt đầu đi học nên còn khóc nhiều chưa thích nghi với điều kiện
sinh hoạt của lớp nên còn bỡ ngỡ. Mỗi cháu lại có những sở thích và cá tính khác
nhau.
- Trí nhớ của trẻ còn nhiều hạn chế, trẻ chưa nhớ hết trật tự của các âm khi sắp
xếp thành câu vì thế trẻ thường xuyên bỏ bớt từ, bớt âm khi nói.
- 60% trẻ phát âm chưa chính xác hay ngọng chữ x-s, dấu ngã - dấu sắc, dấu
hỏi – dấu nặng.
3- Quá trình điều tra thực tiễn:
- Là một giáo viên chủ nhiệm lớp ngay từ đầu năm học tôi luôn quan tâm đến
đặc điểm tâm sinh lý cũng như ngôn ngữ giao tiếp của từng trẻ nhằm khám phá ,
tìm hiểu khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ để kịp thời có những biện pháp giáo
dục và nâng cao dần ngôn ngữ cho trẻ. Khi tiếp xúc với trẻ tôi nhận thấy rằng
ngôn ngữ của trẻ còn nhiều hạn chế về câu từ, về cách phát âm. Khi trẻ nói hầu
hết toàn bớt âm trong các từ, giao tiếp không đủ câu cho nên nhiều khi giáo viên
15
43
5
14
Vốn từ
5
14
10
29
15
43
5
14
Khả năng nói đúng ngữ pháp
5
14
15
43
10
29
5
14
Khả năng giao tiếp
10
29
10
29
10
29
5
2- Giáo dục ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động góc:
Trong một giờ hoạt động chung trẻ không thể phát triển ngôn ngữ một cách
toàn diện được mà phải thông qua các hoạt động khác trong đó có hoạt động góc.
Đây có thể coi là một hình thức quan trọng nhất , bởi giờ chơi có tác dụng rất lớn
trong việc phát triển vốn từ, đặc biệt là tích cực hoá vốn từ cho trẻ.Thời gian chơi
của trẻ chiếm nhiều nhất trong thời gian trẻ ở nhà trẻ, là thời gian trẻ được chơi
thoải mái nhất. Trong qúa trình trẻ chơi sử dụng các loại từ khác nhau, có điều kiện
học và sử dụng các từ có nội dung khác nhau.
VD1: Trò chơi trong góc” Thao tác vai” trẻ được chơi với em búp bê và khi trẻ
chơi sẽ giao tiếp với các bạn bằng ngôn ngữ hàng ngày.
+ Bác đã cho búp bê ăn chưa? ( Chưa ạ)
+ Khi ăn bác nhớ đeo yếm để bột không dây ra áo của búp bê nhé! ( Vâng ạ)
+ Ngoan nào mẹ cho búp bê ăn nhé!
+ Bột vẫn còn nóng lắm để mẹ thổi cho nguội đã ! (Giả vờ thổi cho nguội)
+ Búp bê của mẹ ăn ngoan rồi mẹ cho búp bê đi chơi nhé!!
(Âu yếm em búp bê)
- Qua giờ chơi cô không những dạy trẻ kỹ năng sống mà còn dạy trẻ nghe, hiểu
giao tiếp cùng nhau và trao cho nhau những tình cảm yêu thương , gắn bó của
con người
VD2: Trong góc “ Hoạt động với đồ vật” ở chủ điểm “Giao thông” bằng đồ
dùng tự tạo đó chính là những chiếc ô tô đã đục sẵn lỗ và những chiếc ô tô, máy
bay chưa có bánh xe tôi đã cho trẻ lấy dây xâu qua những lỗ đó và tôi sẽ hỏi trẻ:
9
+ Linh ơi, con đang xâu gì vậy? ( Con đang xâu ô tô ạ)
+ Con xâu ô tô bằng gì đấy? (Con xâu bằng dây xâu ạ)
+ Dũng ơi, ô tô này đã đi được chưa hả con? ( Chưa đi được ạ)
+ Muốn ô tô đi được phải làm thế nào? ( Lắp thêm bánh xe ạ)
+ Khi xâu xong con để sản phẩm của mình nhẹ nhàng vào khay nhé!
( Vâng ạ)
- Qua những câu hỏi cô đặt ra sẽ giúp trẻ tích luỹ được những vốn từ mới
ngoài ra còn giúp trẻ phát triển ngôn ngữ chính xác, mạch lạc , rõ ràng hơn.
- Ở lứa tuổi này trẻ nhiều khi hay hỏi và trả lời trống không hoặc nói những
câu không có nghĩa. Vì vậy bản thân tôi luôn chú ý lắng nghe và nhắc nhở trẻ, nói
mẫu cho trẻ nghe và yêu cầu trẻ nhắc lại.
II- Giáo dục ngôn ngữ thông qua các giờ học khác:
1- Thông qua giờ nhận biết tập nói:
Đây là môn học quan trọng nhất đối với sự phát triển ngôn ngữ và cung cấp
vốn từ vựng cho trẻ.
Trẻ ở lứa tuổi 24-36 tháng đang bắt đầu học nói, bộ máy phát âm chưa hoàn
chỉnh, vì vậy trẻ thường nói không đủ từ, nói ngọng, nói lắp. Cho nên trong tiết
dạy cô phải chuẩn bị đồ dùng trực quan đẹp, hấp dẫn để gây hứng thú cho trẻ. Bên
cạnh đó cô phải chuẩn bị một hệ thống câu hỏi rõ ràng ngắn gọn trong khi trẻ trả
lời cô hướng dẫn trẻ nói đúng từ, đủ câu không nói cộc lốc.
VD1: Trong bài nhận biết ” Con cá” cô muốn cung cấp từ “ đuôi cá ” cho trẻ
cô phải chuẩn bị một con cá thật và một con cá giả ( được làm bằng bìa) để cho trẻ
quan sát. Trẻ sẽ sử dụng các giác quan như: sờ, nhìn… nhằm phát huy tính tích
cực của tư duy, rèn khả năng ghi nhớ có chủ đích.
- Để giúp trẻ hứng thú tập trung vào đối tượng quan sát cô cần đưa ra hệ thống
câu hỏi:
+ Đây là con gì? ( “Con cá ạ”)
+ Các con nhìn xem cá muốn bơi được là nhờ cái gì mà đang quẫy quẫy đây?
( Cái đuôi ạ)
11
+ Các con ơi, cá đang nhìn chúng mình đấy thế mắt cá nằm ở đâu nhỉ? (Nằm
ở trên đầu con cá)
+ Đố các bạn biết cá sống ở đâu? ( Sống ở dưới nước)
+ Trên mình cá có gì mà lấp lánh thế ? ( Có vẩy)
- Trong khi trẻ trả lời cô phải chú ý đến câu trả lời của trẻ. Trẻ phải nói được cả
giúp cho việc phát triển vốn từ của trẻ được thuận lợi.
+ Bản thân giáo viên phải thuộc truyện, ngôn ngữ của cô phải trong sáng,
giọng đọc phải diễn cảm, thể hiện đúng ngữ điệu của các nhân vật.
VD1: Trẻ nghe câu truyện “ Đôi bạn nhỏ” . Tôi cung cấp vốn từ cho trẻ
đó là từ “ Bới đất”. Cô có thể cho trẻ xem tranh mô hình một chú gà đang lấy chân
để bới đất tìm giun và giải thích cho trẻ hiểu từ “ Bới đất”.
( Các con ạ , bản năng của những chú gà là mỗi khi đi kiếm ăn các chú phải
lấy chân để bới đất, đào đất lên để tìm thức ăn cho mình , khi kiếm được thức ăn
chú gà sẽ lấy mỏ để ăn đấy.) . Sau khi giải thích tôi cũng chuẩn bị một hệ thống
câu hỏi giúp trẻ nhớ được nội dung truyện và từ vừa học:
+ Hai bạn Gà và Vịt trong câu truyện cô kể rủ nhau đi đâu?
( Đi kiếm ăn ạ)
+ Vịt kiếm ăn ở đâu? ( Dưới ao )
+ Thế còn bạn Gà kiếm ăn ở đâu? ( Trên bãi cỏ)
+ Bạn Gà kiếm ăn như thế nào? ( Bới đất tìm giun )
+ Khi hai bạn đang kiếm ăn thì con gì xuất hiện đuổi bắt Gà con? ( Con
Cáo)
+ Vịt con đã cứu Gà con như thế nào? ( Gà nhảy phốc lên lưng Vịt , Vịt bơi
ra xa).
+ Qua câu truyện con thấy tình bạn của hai bạn Gà và Vịt ra sao?
( Thương yêu nhau)
+ Nếu như bạn gặp khó khăn thì các con phải làm gì? ( Giúp đỡ bạn ạ).
- Cô kể 1-2 lần cho trẻ nghe giúp trẻ hiểu thêm về tác phẩm và qua đó lấy nhân
vật để giáo dục trẻ phải biết yêu thương và giúp đỡ bạn trong lúc gặp khó khăn.
13
VD2: Qua bài thơ “ Cây bắp cải ” tôi muốn cung cấp cho trẻ từ “ Sắp vòng
quanh”. Tôi chuẩn bị một chiếc bắp cải thật để cho trẻ quan sát, trẻ phải được nhìn,
sờ, ngửi… và qua vật thật tôi sẽ giải thích cho trẻ từ “ sắp vòng quanh”.
- Tôi giải thích cho trẻ : Các con nhìn này đây là cây bắp cải mà hàng ngày
- Tôi cho trẻ thể hiện ngữ điệu của các nhân vật trong truyện “ Thỏ ngoan”
+ Giọng Bác Gấu bị mưa rét thì ồm ồm và run, nét mặt buồn.
+ Giọng con Cáo thì gắt gỏng, nét mặt kênh kiệu.
+ Giọng Thỏ thì ân cần , niềm nở.
- Như vậy thơ truyện không những kích thích nhận thức có hình ảnh của trẻ mà
còn phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách toàn diện. Trẻ nhớ nội dung câu truyện
và biết sử dụng ngôn ngữ nói là phương tiện để tiếp thu kiến thức .
3- Thông qua giờ âm nhạc:
- Để thu hút trẻ vào giờ học và giúp trẻ phát triển ngôn ngữ được tốt hơn
thôi thúc tôi phải nghiên cứu , sáng tạo những phương pháp dạy học tốt nhất
có hiệu quả với trẻ.
- Đối với tiết học âm nhạc trẻ được tiếp xúc nhiều đồ vật
( Trống, lắc, phách tre, mõ, xắc xô…… và nhiều chất liệu khác ) trẻ được học
những giai điệu vui tươi kết hợp với các loại vận động theo bài hát một cách nhịp
nhàng. Để làm được như vậy đó là nhờ sự hiểu biết, nhận thức vốn từ, kỹ năng
nhất là sự giao tiếp bằng ngôn ngữ của trẻ được tích luỹ và lĩnh hội, phát triển tính
nghệ thuật, giúp trẻ yêu âm nhạc.
- Qua những giờ học hát, vận động theo nhạc, trẻ đã biết sử dụng ngôn ngữ có
mục đích, biết dùng ngôn ngữ và động tác cơ bản để miêu tả những hình ảnh đẹp
của bài hát.
VD: Hát và vận động bài “ Con voi”
+ Câu đầu tiên : Con vỏi con voi
Cái vòi đi trước.
( Trẻ đưa tay ra phía trước giả làm vòi con voi)
+ Câu thứ hai : Hai chân trước đi trước
Hai chân sau đi sau.
15
( Hai tay chống hông , hai chân nhấc lên nhấc xuống)
+ Câu cuối : Còn cái đuôi đi sau rốt
* Trò chơi 1: “ Cái gì? Dùng để làm gì?
- Mục đích của trò chơi này là tôi muốn trẻ nhận biết được một số đồ dùng quen
thuộc và biết tác dụng của những đồ chơi từ đó ngôn ngữ của trẻ cũng được phát
triển :
* Chuẩn bị:
+ Đồ dùng để ăn uống ( Bát , thìa, cốc , ca…)
+ Đồ dùng để mặc (Quần, áo, khăn, mũ…)
+ Mỗi trẻ một tranh lô tô đồ dùng khác nhau.
* Tiến hành:
- Tôi cho trẻ ngồi chiếu xung quanh cô. Cô nhắc tên đồ dùng nào thì trẻ phải
nói nhanh đồ dùng đó dùng để làm gì?
- Cô nói:
+ Cái bát dùng để làm gì? ( Cái bát đựng cơm)
+ Cái cốc dùng để làm gì? (Dùng để uống nước)
+ Cái mũ để làm gì? ( Cái mũ để đội)
+ Cái áo để làm gì? ( Cái áo để mặc)
………………… ………………
- Sau khi hỏi trẻ xong tôi vận dụng trò chơi này để rèn sự nhanh nhẹn và tư
duy của trẻ. Tôi phát cho mỗi trẻ một lô tô đồ dùng khác nhau. Tôi yêu cầu trẻ gọi
tên đồ dùng và xác định nơi cất đồ dùng đó trong lớp. Sau đó tôi hô: 1,2,3 yêu cầu
trẻ chạy nhanh về đúng nơi đồ dùng.
* Trò chơi 2: “ Con muỗi ”
* Cách chơi:
- Cô đứng phía trước trẻ, cô cho trẻ đọc và làm động tác theo cô.
- Cô cho trẻ đọc từng lời một có kèm theo động tác:
17
+ Có con muỗi vo ve, vo ve ( Trẻ giơ ngón tay trỏ ra trước mặt vẫy qua
vẫy lại theo nhịp đọc)
+ Đốt cái tay, đốt cái chân, rồi bay đi xa. ( Lấy ngón tay trỏ vào cánh tay
+ Khi ngồi trên ô tô phải như thế nào để đảm bảo ATGT?
- Sau khi đặt những câu hỏi như vậy tôi khuyến khích trẻ kể tên những loại PTGT
khác mà trẻ biết.
- Tiếp tục cho trẻ quan sát mô hình PTGT và cho trẻ nghe âm thanh của PTGT
yêu cầu trẻ đoán đó là PTGT nào.
* Trò chơi 4: “Trò chuyện cùng cô ”
- Qua trò chơi này trẻ được phát âm nhiều ,tiếp xúc nhiều với ngôn ngữ mới
qua giao tiếp với cô.
* Tiến hành:
Trong ngày tuỳ từng thời điểm mà cô dành thời gian vỗ về ôm ấp trẻ, nói
chuyện với trẻ:
* Khi cho ăn :
+ “ Bạn Hùng ăn giỏi nào, con ăn cơm với gì đấy?
(Con ăn cơm với thịt ạ)
+ “ Bạn Hà ăn được mấy bát cơm rồi?
* Khi thay quần áo cho trẻ cô cũng cần nựng trẻ:
+ “ Cô Hoa mặc áo đẹp cho Minh nhé?” ( Vâng ạ)
+ “ áo đẹp này ai mua cho con? “ ( Mẹ con ạ)
+ Con có biết mẹ mua ở đâu không? (ở cửa hàng ạ)
+ Con có thích mặc áo này không? ( Có ạ)
* Khi ngồi chơi cô trò chuyện với trẻ về một chủ đề nào đấy để khơi gợi trẻ được
phát âm nhiều:
+ Bạn Chi có bàn tay bé xíu trông rất đáng yêu này!
+ Hàng ngày các con phải làm gì để đôi bàn tay luôn sạch?
( Rửa tay ạ)
+Thế đôi bàn tay để làm gì các con có biết không?
( Để múa, để xúc cơm, để tô màu ạ….)
19
PHẦN V- PHỐI KẾT HỢP VỚI PHỤ HUYNH :
Bằng một số kinh nghiệm của mình mà tôi đã áp dụng trong việc phát triển ngôn
ngữ của trẻ lứa tuổi nhà trẻ trong năm học vừa qua và kết quả đạt được như sau:
*Kết quả đạt đƣợc cuối năm nhƣ sau:
Khảo sát đầu năm
Khảo sát cuối năm
Phân loại
khả năng
Tốt
Khá
TB
Yếu
Tốt
Khá
TB
Yếu
Sl
%
Sl
%
Sl
%
Sl
%
Sl
%
Sl
%
Sl
%
Sl
14
20
57
10
29
5
14
0
0
Khả năng nói
đúng ngữ
pháp
5
14
15
43
10
29
5
14
20
57
10
29
5
14
0
0
Khả năng
giao tiếp
dưỡng thế hệ măng non của đất nước. 21
PHẦN VIII : BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Muốn có được kết quả trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua quá trình
thực hiện tôi rút ra một số kinh nghiệm sau:
* Giáo viên cần hiểu rõ tầm quan trọng của ngôn ngữ với việc hình thành và
phát triển nhân cách cho trẻ, không ngừng học tập để nâng cao trình độ chuyên
môn, rèn luyện ngôn ngữ của mình để phát âm chuẩn.
* Làm giầu vốn từ của trẻ qua việc hướng dẫn trẻ quan sát, vui chơi, kể truyện
và đọc truyện cho trẻ nghe.
* Củng cố vốn từ cho trẻ.
* Tích cực hoá vốn từ cho trẻ.
* Tích cực làm đồ dùng đồ chơi sáng tạo hấp dẫn với trẻ và phù hợp với nội
dung của bài dạy.
* Luôn tạo không khí vui tươi , thoải mái cho trẻ, tạo điều kiện quan tâm đến
những trẻ nhút nhát, dành thời gian gần gũi trò chuyện với trẻ để trẻ mạnh dạn, tự
tin tham gia vào các hoạt động tập thể giúp trẻ được giao tiếp nhiều hơn.
* Cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa cô giáo và phụ huynh để nắm được đặc điểm
tâm sinh lý của trẻ từ đó có kế hoạch phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
*Tổ chức nhiều trò chơi sử dụng ngôn ngữ.
* Cô giáo tạo điều kiện cho trẻ nghe nhiều và nói chuyện nhiều với trẻ, luôn
tìm cách thúc đẩy trẻ sử dụng ngôn ngữ một cách chủ động.
* Tích cực cho trẻ làm quen với thiên nhiên để phát triển khả năng quan sát,
giúp trẻ củng cố và tư duy hoá các biểu tượng bằng ngôn từ.
* Một số ý kiến đề xuất:
_ Tiếp tục cho giáo viên đi thăm quan môi trường sư phạm và các tiết dạy mẫu
ở trường bạn để học hỏi kinh nghiệm.