skkn một số giải pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ độ tuổi 24 36 tháng tuổi ở trường mầm non thị trấn vạn hà, thiệu hóa - Pdf 43

I.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài:
Giáo dục mầm non là giai đoạn đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân,
là bộ phận quan trọng trong sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ thành những con người
có ích, thành những con người mới. Một trong ba mục tiêu của cải cách giáo dục
của nước ta là: Làm tốt việc chăm sóc giáo dục thế hệ trẻ ngay từ thời thơ ấu
nhằm tạo ra cơ sở quan trọng của con người Việt Nam mới, người lao động làm
chủ tập thể, phát triển toàn diện nhân cách. Giáo dục mầm non đã góp phần thực
hiện mục tiêu trên.
Trong những năm gần đây bậc học mầm non đang tiến hành đổi mới
chương trình giáo dục trẻ mầm non trong đó đặc biệt coi trọng việc tổ chức các
hoạt động phù hợp sự phát triển của từng cá nhân trẻ, khuyến khích trẻ hoạt động
một cách chủ động tích cực, hồn nhiên vui tươi, đồng thời tạo điều kiện cho giáo
viên phát huy khả năng sáng tạo trong việc lựa chọn và tổ chức các hoạt động
chăm sóc, giáo dục trẻ một cách linh hoạt, thực hiện phương châm “Học mà
chơi - Chơi mà học” Đáp ứng mục tiêu phát triển của trẻ một cách toàn diện về
mọi mặt. Trong quá trình phát triển toàn diện nhân cách con người nói chung và
trẻ mầm non nói riêng thì ngôn ngữ có một vai trò rất quan trọng đặc biệt không
thể thiếu được. Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp quan trọng nhất đặc biệt là
đối với trẻ nhỏ, đó là phương tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những người
xung quanh hình thành những cảm xúc tích cực. Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ
hoà nhập với cộng đồng và trở thành một thành viên của cộng đồng.
Đối với trẻ mầm non nói chung và trẻ 24 - 36 tháng tuổi nói riêng qua quan
sát những giờ hoạt động học và những giờ hoạt động vui chơi, tôi thấy các cháu
rất thích được giao tiếp, thích được trò chuyện, thích được nói, nhưng vì ngôn
ngữ của trẻ còn hạn chế, các cháu còn sử dụng ngôn ngữ thụ động nhiều, nên tôi
thấy mình cần tìm nhiều biện pháp tác động để kích thích ngôn ngữ của trẻ phát
triển.

Tìm ra một số giải pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhà trẻ 24-36 tháng
tuổi.
Làm phong phú vốn từ cho trẻ.
Giúp trẻ mạnh dạn tự tin trước mọi người.
Giúp giáo viên hiểu được tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ cho
trẻ từ đó có những kế hoạch cụ thể về việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ
3. Đối tượng nghiên cứu:
Tập trung nghiên cứu một số kinh nghiệm, giải pháp phát triển ngôn ngữ
cho trẻ nhà trẻ lớp D2 trường mầm non Thị trấn Vạn Hà, năm học 2016 – 2017
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
- Phương pháp thống kê toán học, xử lý thông tin, tổng kết kinh nghiệm.
II. NỘI DUNG
1- Cơ sở lý luận:
Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt vì nó ra đời và tồn tại cùng
với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người, ngôn ngữ dùng để phục vụ
2


mọi thành viên trong xã hội từ việc học tập, lao động đến việc vui chơi giải trí.
Có thể nói rằng trong bất kì lĩnh vực hoạt động nào của con người cũng cần đến
ngôn ngữ.[4]
Quá trình phát triển ngôn ngữ là quá trình cung cấp từ ngữ cho trẻ, góp
phần làm phong phú ngôn ngữ đẩy mạnh quá trình phát triển trí tuệ và tình cảm
đạo đức cho trẻ. Có thể nói rằng rèn luyện và phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm
non là góp phần tích cực vào việc trang bị cho thế hệ mầm non một phương tiện
mạnh mẽ để tiếp thu kinh nghiệm quý báu của thế hệ cha anh, đồng thời tạo điều
kiện cho các cháu lĩnh hội các kiến thức, những hiểu biết mới lạ về thế giới xung
quanh.[4]

còn làm phong phú hiểu biết về thế giới xung quanh và bồi dưỡng xúc cảm cho
trẻ.
Bác Hồ đã dạy: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý
báu của dân tộc, chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó.” Việc rèn luyện và
phát triển ngôn ngữ nói cho trẻ đặc biệt là lứa tuổi nhà trẻ là viên gạch đầu tiên
của nền móng giáo dục mầm non là cả một quá trình liên tục và có hệ thống đòi
hỏi phải kiên trì, cô giáo, bố mẹ là người gương mẫu để trẻ noi theo.
2. Thực trạng:
a. Đặc điểm chung:
Năm học 2016 – 2017 tôi được Ban Giám hiệu phân công phụ trách nhóm
trẻ 24-36 tháng tuổi cùng với 1 cô giáo đều có trình độ trên chuẩn thực hiện
nhiệm vụ chăm sóc giáo dục cho 37 trẻ. Trong đó: nữ: 15 cháu; nam: 22 cháu
- 100% trẻ ăn bán trú tại trường.
Trước thực trạng dạy trẻ hoạt động ở lớp tôi có những thuận lợi và khó
khăn sau
b. Thuận lợi
Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm, chỉ đạo, giám sát việc giáo viên
tổ chức hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ, luôn tạo điều kiện về cơ sở vật chất
trang thiết bị giảng dạy cho giáo viên. Nhà trường đã đầu tư mua sắm trang thiết
bị, đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho hoạt động học tập và vui chơi của trẻ.
Bản thân tôi được giảng dạy trong môi trường tương đối đầy đủ về cơ sở
vật chất về đồ dùng học tập. Bản thân luôn nhiệt tình, tâm huyết với nghề, học
hỏi nâng cao tình độ về chuyên môn nghiệp vụ.
Thường xuyên được tham gia các lớp chuyên đề của phòng và trường tổ
chức và được tham dự các tiết dạy của các bạn đồng nghiệp trong cũng như
ngoài trường tổ chức
- Nhóm trẻ được chia theo đúng độ tuổi quy định
- Trẻ đi học chuyên cần
- Đồ dùng phục vụ cho việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ phong phú về hình
ảnh, màu sắc hấp dẫn (tranh ảnh, vật thật)

9/37
24
12/37 33 16/37
43
0
0
Khả năng nghe hiểu 9/37
24
12/37 33 16/37
43
0
0
ngôn ngữ và phát âm
Trẻ mạnh dạn tự tin 7/37
19
10/37 27 15/37
41
5/37
13
trong giao tiếp
Qua kết quả khảo sát tôi nhận thấy rằng ngôn ngữ của trẻ còn nhiều hạn
chế về câu từ, về cách phát âm. Trẻ lần đầu đến trường nên trẻ còn nhút nhát rụt
rè, trầm lắng ít chan hòa với tập thể, trẻ bị chấn thương tâm lý vì thế khi trẻ nói
hầu hết toàn bớt âm trong các từ, giao tiếp không đủ câu cho nên nhiều khi giáo
viên không hiểu trẻ đang nói về cái gì? Cũng có một số trẻ còn hạn chế khi nói
trẻ chỉ biết chỉ tay vào những thứ mình cần khi cô hỏi. Đây cũng là một trong
những nguyên nhân của việc ngôn ngữ của trẻ còn nghèo nàn.
Chính vì vậy tôi đã đưa ra và áp dụng các giải pháp để phát triển ngôn
ngữ cho trẻ độ tuổi 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non Thị trấn Vạn Hà, huyện
Thiệu Hóa.”

Trẻ đọc được các bài thơ, hát được các bài hát có 3 đến 5 câu ngắn. Trẻ có
thể kể lại một đoạn truyện được nghe nhiều lần, có sự gợi ý. Tuy nhiên đôi khi sự
sắp xếp các từ trong câu còn chưa hợp lý. Trẻ thường sử dụng câu cụt.
Ví dụ: Nước, uống nước...trong một số trường hợp trẻ dùng từ trong câu còn
chưa chính xác, chủ yếu trẻ sử dụng câu đơn mở rộng.
Giải pháp 2: Xây dựng kế hoạch phát triển ngôn ngữ cho trẻ theo từng
tháng xuyên suốt trong năm học:
Tháng
Nội dung
Tháng 9, 10
* Phát triển khả năng nghe hiểu cho trẻ:
Chọn những bài tập luyện tai nghe cho trẻ nhằm phát triển
thính giác, cho trẻ nghe những bài hát, những câu truyện,
những bài đồng dao,... tạo điều kiện để trẻ tập trung chú ý
luyện khả năng chú ý thính giác cho trẻ thông qua các bài tập,
trò chơi: Tai ai thính ? Ai đoán giỏi?... Cố gắng phát âm đúng
không phát âm sai vì trẻ hay bắt trước. Sửa lỗi phát âm cho trẻ
khi trẻ phát âm sai ở mọi lúc mọi nơi trong cái hoạt động
hàng ngày.
Tháng 11, 12
* Nghe, nhắc lại các âm, tiếng và câu nhằm phong phú vốn từ
cho trẻ:
Giáo viên cần nói diễn cảm, rõ ràng, giải thích nghĩa của
từ khó giúp cho trẻ hiểu, nhớ và vận dụng được các từ để đặt
câu. Để đẩy mạnh sự phát triển, khả năng vận động của cơ
quan phát âm, cần tập cho trẻ các bài tập luyện cơ quan phát
6


âm thích hợp:

Ở hoạt động nhận biết, trẻ được quan sát hình ảnh mà cô giáo cung cấp. Đối
tượng này đã được cô giáo chuẩn bị trước, sắp xếp chúng từ đơn giản đến phức
tạp dần, khi quan sát cô gợi mở để trẻ nói được điều trẻ đang quan sát, trong khi
trẻ trả lời cô hướng dẫn trẻ nói đúng từ, đủ câu, không nói lắp.[3]
Ví dụ: Ở đề tài: “Nhận biết con gà trống”
Mục đích yêu cầu cần đạt được ở đề tài này là:
- Rèn khả năng phát âm, phát triển lời nói cho trẻ.
- Trẻ biết và gọi được tên con gà trống
7


- Biết được một số bộ phận của con gà trống: Đầu, mình, chân, đuôi.
- Biết và bắt chước được tiếng gáy của con gà trống
- Giáo dục trẻ yêu thương chăm sóc các con vật nuôi trong gia đình
Đồ dùng dạy học cho đề tài này là: hình ảnh về con gà trống, ghi hình các
vận động: đi, chạy, gáy, kiếm mồi để trẻ được quan sát cùng với từng vận động là
kèm theo từ để trẻ hiểu và biết cách sử dụng chúng sau này.
Ví dụ: “Gà gáy” trẻ vừa quan sát vừa phát âm được từ “ò ó o”. Tôi cho những trẻ
phát âm rõ lời phát âm trước sau đó tập cho những trẻ phát âm chưa rõ, những
cháu chậm nói được phát âm nhiều lần, luân phiên nhau.

Hình ảnh trẻ làm gà gáy
Ở hoạt động nhận biết, trẻ được phát âm nhiều, được nói nhiều và cũng dễ
bộc lộ ý tưởng của mình muốn nói, cũng chính trong hoạt động này cô giáo phát
hiện ra những cháu phát âm chuẩn, những cháu phát âm chưa chuẩn để sửa sai
kịp thời.
* Thông qua hoạt động kể chuyện, đọc thơ:
Những bài đồng dao, ca dao rất gần gũi, quen thuộc với trẻ, những động
tác kết hợp với lời thơ (lời ca) trẻ vừa đọc, vừa vận động sẽ là cơ hội để bộ máy
phát âm được làm việc



đi! ở đây có cỏ , ở đây có hoa thích lắm. Thế là thỏ con đi chơi mãi … chơi mãi,
xa thật xa…
Thế rồi thỏ con quên cả lối về nhà, thỏ con khóc hu hu và gọi mẹ ơi, mẹ ơi
Bác gấu đi ngang qua thấy thỏ con khóc. Bác dắt thỏ về nhà.
Thỏ mẹ chạy ra ôm thỏ con, thỏ con nói với mẹ: “Mẹ, mẹ dặn con ở nhà
con lại đi chơi xa, con xin lỗi mẹ”
- Tôi kể lần 2 (kết hợp xem sa bàn)

Hình ảnh mô hình sa bàn
- Kể lần 3 (kể trích dẫn) trẻ xem hình ảnh minh họa trên màn hình
Như vậy, qua các lần kể chuyện cháu đã hiểu được nội dung câu chuyện
* Đàm thoại: Trong quá trình đàm thoại, tôi tập cho trẻ trả lời trọn câu, đủ ý
không nói thiếu câu.
Ví dụ: + Cô vừa kể câu chuyện gì?
+ Tập cho trẻ trả lời: Thưa cô, cô vừa kể chuyện: Thỏ con không vâng
lời”.
+ Trong câu chuyện Thỏ con không vâng lời có những ai?
+ Thỏ mẹ đã dặn Thỏ con điều gì? (không đi chơi xa)
+ Ai đã gọi Thỏ con đi chơi? (bạn bươm bướm)
+ Bạn Thỏ con đã xảy ra chuyện gì khi đi chơi xa? (bị lạc đường)
+ Khi bị lạc thỏ con khóc như thế nào? (Hu hu! gọi Mẹ ơi! Mẹ ơi!). Cho
trẻ bắt chước thỏ khóc.
10


+ Ai đã giúp Thỏ con về nhà? (bác Gấu)
+ Về đến nhà thỏ con đã nói gì với mẹ (Thỏ xin lỗi mẹ)
Tất cả các câu hỏi đều tập cho trẻ trả lời trọn câu, đủ ý và cho nhiều trẻ

11


Hình ảnh mô phỏng giúp trẻ hiểu nghĩa của từ một cách tự nhiên
Giải pháp 4: Thường xuyên cho trẻ chơi với các vật liệu từ thiên nhiên
Bản chất của trò chơi là một hoạt động tự do thoải mái, khác với các hoạt
động có tính tổ chức khác như lao động hay thể thao, vui chơi không chỉ đầy sự
ngẫu hứng mà đôi khi trông bừa bộn, thiếu ngăn nắp
Trò chơi thường gắn với cuộc sống của trẻ nhỏ và liên quan đến việc sử
dụng các nguyên vật liệu từ thiên nhiên như: cát, nước, đất sét, lá cây, cỏ khô hoa
khô … càng nhỏ trẻ càng thích tiếp xúc trực tiếp với chúng như: khuấy trộn,
nhào nặn, ấn, đập… bằng tay thay vì dùng dụng cụ như thìa, dao, xẻng để chơi.
Kiểu chơi có vẻ “nghịch bẩn” này làm người lớn cảm thấy mệt nhọc hơn khi phải
trông coi, giám sát chặt chẽ đến quần áo có thể bị ẩm ướt, dính bẩn, ngoài ra còn
phải dọn dẹp “hiện trường” bừa bộn sau khi trẻ chơi.
Tuy vậy, các cô giáo chúng tôi thì luôn chấp nhận những phiền toái đó để
khuyến khích, tạo cơ hội cho trẻ “nghịch” vì chúng tôi hiểu rằng, nó thực sự cần
thiết cho sự phát triển của trẻ và nhất là phát triển ngôn ngữ. Các vật liệu thiên
nhiên này mở rộng tính đa dạng của trò chơi, chúng chỉ cung cấp những gợi ý cơ
bản để trẻ tự mày mò ra cách chơi và trò chơi cho mình, không bao giờ chỉ có
12


một trò chơi đúng, duy nhất cho các vật liệu có sẵn, chơi với cát hay đất sét như
thế nào là tùy trẻ, chúng phải luôn tự nghĩ và tưởng tượng khi chơi
Một khi vật liệu chơi uyển chuyển, sinh động không có khuôn mẫu sẵn như
vậy, các ý tưởng về trò chơi sẽ hết sức sinh động và được mở rộng trong quá
trình hình thành trò chơi, chúng thực hiện ngay các ý tưởng chợt xuất hiện, biến
đổi liên tục về hình dạng, vật liệu theo sáng kiến nảy sinh bất ngờ
Chẳng hạn khi chơi với nước lúc đầu trẻ chỉ nghĩ sẽ đào một cái rãnh để cho

13


Hình ảnh trẻ đang chơi ở góc xây dựng
*Qua giờ ăn
Trước khi ăn, cô và trẻ cùng hát bài “Mời bạn ăn”, để mau lớn các con
phải ăn đầy đủ chất dinh dưỡng, thế trong bài hát có những loại thức ăn nào?
(cho trẻ kể: thịt, rau, trứng, đậu, cá, tôm), bữa trưa hôm nay các con được ăn cơm
với món gì nhỉ?, thế là tôi chia cơm và giới thiệu món ăn
Ví dụ: Hôm nay các con được ăn cơm với món ăn mặn là: “Tôm rim thịt”, món
canh “Canh tôm mồng tơi”
Thịt, trứng cung cấp cho chúng ta chất dinh dưỡng gì? (chất đạm), canh
rau cung cấp cho chúng ta chất gì? (vi ta min, chất xơ), tôi luôn trò chuyện với
trẻ trước khi ăn để tạo không khí vui vẻ, giúp trẻ ăn ngon miệng vừa cung cố vốn
từ cho trẻ.
*Qua giờ ngủ
Khi trẻ đã vào sạp tôi mở những ca khúc nhẹ nhàng, có lời ru êm ái, có nội
dung nhắc nhở trẻ những quy tắc trong giờ ngủ để trẻ nghe.
Ví dụ: Bài hát “Giờ đi ngủ” trẻ nghe và nằm đúng tư thế, không nằm sấp, không
nói chuyện.
Giải pháp 6: Một số trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ
14


Đối với trẻ nhà trẻ, được phát triển ngôn ngữ thông qua trò chơi là một
biện pháp tốt nhất. Trò chơi đã trở thành phương tiện để cung cấp, tích luỹ được
nhiều vốn từ và trên cơ sở hiểu biết đầy đủ ý nghĩa của những từ đó trẻ biết sử
dụng “số vốn từ ”đó một cách thành thạo.[3]
Qua trò chơi trẻ sẽ được giao tiếp mạnh dạn hơn, ngôn ngữ cũng lưu loát
hơn, vốn từ của trẻ cũng được tăng lên. Và tôi nhận thấy rằng khi trẻ chơi trò


- Cô cho trẻ đọc từng lời một có kèm theo động tác:
+ Có con muỗi vo ve, vo ve (trẻ giơ ngón tay trỏ ra trước mặt vẫy qua vẫy lại
theo nhịp đọc)
+ Đốt cái tay, đốt cái chân, rồi bay đi xa. (lấy ngón tay trỏ vào cánh tay đối diện
chỉ xuống đùi rồi dang 2 tay sang ngang).
+ Úi chà! úi chà! Dang tay ra đánh cái bép, con muỗi xẹp. Rửa tay (nhún vai 2
lần, dang 2 tay sang ngang, vỗ tay một cái rồi chỉ vào chóp mũi. Sau đó xoa 2 tay
vào nhau vờ rửa tay)
Tuỳ theo sự hứng thú của trẻ mà cho trẻ chơi 3-4 lần. Khi trẻ chơi tôi nhận
thấy tất cả các trẻ đều tham gia đọc cùng cô, có trẻ đọc được cả câu, có trẻ bập
bẹ bớt một hai từ. Nhưng qua đó cũng giúp ngôn ngữ của trẻ dần dần được hình
thành trọn vẹn hơn .
*Trò chơi 3: “Trò chuyện về các phương tiện giao thông quen thuộc ”.
Qua trò chơi này trẻ sẽ kể được một số phương tiện giao thông (PTGT)
quen thuộc như: ô tô, xe đạp, xe máy, tàu hoả….
* Chuẩn bị:
+ Mô hình các PTGT: ô tô, xe máy, xe đạp….
+ Tranh, ảnh các loại PTGT.
+ Đàn, đài có thu âm thanh tiếng kêu của các PTGT cho trẻ đoán
* Tiến hành:
Trong trò chơi này tuỳ thuộc vào thời gian rảnh rỗi tôi có thể cho trẻ chơi.
Có thể là giờ đón trẻ, trả trẻ, giờ chơi buổi chiều…tôi có thể đàm thoại với trẻ
về các loại PTGT mà trẻ biết như :
+ Hôm nay, ai đưa con đến trường?
+ Mẹ con đưa đến trường bằng phương tiện gì?
+ Cô nào đón con vào lớp?
+ Hôm qua chủ nhật, bố mẹ có đưa con đi chơi không?
+ Con đi với ai?
+ Con đi bằng phương tiện gì?

những kiến thức đã học vào cuộc sống của trẻ, trẻ được giao tiếp, được sửa âm
sửa nói ngọng.
Ngoài ra tôi còn kết hợp với phụ huynh sưu tầm những quyển tranh
truyện; truyện có chữ, hình ảnh to, rõ nét, nội dung phù hợp với lứa tuổi nhà trẻ
để cho trẻ làm quen và để xây dựng góc thư viện sách truyện của lớp.
Qua đó phụ huynh thấy được ngôn ngữ của trẻ phát triển như thế nào và
biện pháp kích thích sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại gia đình một cách phù hợp
và hiệu quả nhất
Cô trao đổi với phụ huynh về những câu chuyện mà trẻ đã nghe cô kể; yêu
cầu phụ huynh về nhà nếu thuộc câu chuyện đó thì kể lại cho trẻ nghe hoặc kích
thích trẻ kể các câu chuyện khác. Như vậy ngôn ngữ của trẻ được phát triển một
17


cách phong phú và đa dạng. Huy động phụ huynh đóng góp kinh phí mua sắm
một số hình ảnh; tranh truyện; hoặc thu gom phế liệu; nguyên vật liệu sẵn có; dễ
tìm như: Vải vụn; len vụn; các vỏ hộp; mút; xốp…kết hợp trong và ngoài giờ
đón trả trẻ để trao đổi với phụ huynh.?

Hình ảnh giáo viên tuyên truyền với phụ huynh giờ đón trẻ.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường.
a.Về phía giáo viên
Là một giáo viên tôi đã hiểu được tầm quan trọng của việc phát triển ngôn
ngữ từ đó có kế hoạch cụ thể về việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Giáo viên cần hiểu rõ tầm quan trọng của ngôn ngữ với việc hình thành và
phát triển nhân cách cho trẻ, không ngừng học tập để nâng cao trình độ chuyên
môn, rèn luyện ngôn ngữ của mình để phát âm chuẩn.
Cô giáo tạo điều kiện cho trẻ nghe nhiều và nói chuyện nhiều với trẻ, luôn
tìm cách thúc đẩy trẻ sử dụng ngôn ngữ một cách chủ động

%
SL
%
Vốn từ của trẻ
13/37
35
18/37 49
6/37
16
0
0
Khả năng nghe hiểu 15/37
41
17/37 46
5/37
13
0
0
ngôn ngữ và phát âm
Trẻ nạnh dạn tự tin 14/37
37
17/37 45
6/37
16
0
0
trong giao tiếp
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Qua nghiên cứu đề tài “Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 - 36 tháng tuổi” tôi

chung, trẻ 24 – 36 tháng tuổi nói riêng.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 14 tháng 4 năm 2017
……………………………………………….............................................

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình

……………………………………………………………………………

viết, không sao chép nội dung của người

……………………………………………………………………………

khác
(Ký và ghi rõ họ tên)

……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………

Lê Thị Hằng

Tài liệu tham khảo
20


[1]. Một số đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ (Đề tài nghiên cứu khoa
học của Đại học Sư Phạm Hà Nội - 2007).
[2]. Tuyển chọn trò chơi thơ ca, câu đố, bài hát theo chủ đề (TS Lê Thu

Cấp
trường huyện
A
C

A

A

Năm học
Cấp
tỉnh
2015 - 2016

2016 - 2017

22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status