PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO HUYỆN NGHĨA HƯNG
TRƯỜNG MẦM NON A NGHĨA THÀNH
BÁO CÁO SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ
độ tuổi 24- 36 tháng ở trường Mầm Non
Tác giả: Đỗ Thị Thanh Vy
Trình độ chuyên môn: Cao đẳng Sư phạm Mầm non
Chức vụ: Giáo viên
Nơi công tác: Trường mầm non A Nghĩa Thành - Huyện Nghĩa Hưng
Tỉnh Nam Định
Nghĩa Thành, ngày 12 tháng 5 năm 2016
BÁO CÁO SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
ĐỀ TÀI: “MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ
ĐỘ TUỔI 24-36 THÁNG Ở TRƯỜNG MẦM NON”
Lĩnh vực áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: Phát triển ngôn ngữ.
Thời gian áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
Từ ngày 12 tháng 08 năm 2015 đến ngày 12 tháng 05 năm 2016
Tác giả:
Năm sinh:
Đỗ Thị Thanh Vy
16/11/1972
Nơi thường trú: Xóm Mỹ Điền - Xã Nghĩa Thành - Huyện Nghĩa Hưng - Tỉnh
Nam Định
trọng.
Là một cô giáo Mầm Non trực tiếp dạy trẻ 24- 36 tháng tôi luôn mong muốn
làm như thế nào để có những biện pháp phát triển tốt ngôn ngữ cho trẻ để từ đó rút
3
ra nhiệm vụ giáo dục cho phù hợp với yêu cầu phát triển của lứa tuổi. Chính vì vậy
nên tôi đã mạnh dạn chọn đề tài:
“Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ độ tuổi 24- 36 tháng
ở trường Mầm Non” nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ đối với
chương trình Giáo dục mầm non mới hiện nay.
2.Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ từ đó tìm ra một số biện
phát phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng, giúp trẻ có vốn từ phong phú, đa
dạng, giúp trẻ phát âm đúng, nói tốt Tiếng Việt, diễn đạt rõ ràng, mạch lạc là điều
kiện tốt để chuẩn bị cho trẻ học đọc, học viết sau này.
- Tuyên truyền rộng rãi đến các bậc phụ huynh về tầm quan trọng của việc phát
triển ngôn ngữ cho trẻ nhà trẻ.
3.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu : Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuổi.
- Phạm vi nghiên cứu: Trẻ 24-36 tháng tuổi, trường mầm non A Nghĩa Thành
-Huyện Nghĩa Hưng-Tỉnh Nam Định.
II. CÁC GIẢI PHÁP
1.Cơ sở lý luận:
Trong quá trình phát triển toàn diện nhân cách con người nói chung và trẻ Mầm
Non nói riêng thì ngôn ngữ có một vai trò rất quan trọng không thể thiếu được.
Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp quan trọng nhất đặc biệt đối với trẻ nhỏ, đó
là phương tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những người xung quanh hình thành
những cảm xúc tích cực. Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hoà nhập với cộng đồng và
trở thành một thành viên của cộng đồng. Nhờ có những lời chỉ dẫn của người lớn
c. Quá trình điều tra thực tiễn:
- Ngay từ đầu năm học tôi luôn quan tâm đến đặc điểm tâm sinh lý cũng như
ngôn ngữ giao tiếp của từng trẻ nhằm khám phá, tìm hiểu khả năng giao tiếp bằng
ngôn ngữ để kịp thời có những biện pháp giáo dục và nâng cao dần ngôn ngữ cho
trẻ. Khi tiếp xúc với trẻ tôi nhận thấy rằng ngôn ngữ của trẻ còn nhiều hạn chế về
câu từ, về cách phát âm. Khi trẻ nói hầu hết toàn bớt âm trong các từ, giao tiếp
không đủ câu cho nên nhiều khi giáo viên không hiểu trẻ đang nói về cái gì?
Cũng có một số trẻ còn hạn chế khi nói, trẻ chỉ biết chỉ tay vào những thứ mình
5
cần khi cô hỏi. Đây cũng là một trong những nguyên nhân của việc ngôn ngữ của
trẻ còn nghèo nàn, hạn chế.
- Qua quá trình tiếp xúc với trẻ bản thân tôi thấy quan tâm về vấn đề này và
đã mạnh dạn tìm tòi suy nghĩ và nghiên cứu tài liệu để tìm ra biện pháp phát triển
ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng một cách có hiệu quả nhất .
*Kết quả khảo sát đầu năm:
NỘI DUNG
Tốt
SL
%
5
6
5
7
16.6
33.3
33.3
30
36.7
26.8
TB
Yếu
SL
%
4
6
6
5
13.4
20
20
16.6
2. Giải pháp:
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ có những đặc điểm khác nhau tùy thuộc và
từng giai đoạn tuổi của trẻ. Việc nắm vững những đặc điểm này sẽ giúp cho người
giáo viên có những kiến thức và kỹ năng tốt nhất trong quá trình hỗ trợ trẻ phát
triển ngôn ngữ, đặt ra những phương pháp phù hợp, linh hoạt để đạt được những
mục tiêu cho giai đoạn nền móng này.
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là khả năng nghe, hiểu ngôn ngữ và phát âm
chuẩn, phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ mạch lạc,
Ví dụ 1:: Khi cho trẻ chơi trò chơi thao tác vai “Chăm em ốm” trẻ được chơi với
em búp bê và khi trẻ chơi sẽ giao tiếp với các bạn bằng ngôn ngữ hàng ngày.
Cô bế Búp bê trên tay và nói : “Búp bê chào các anh, các chị. Các anh, các chị
đang làm gì đấy?
- Cô cùng trẻ trả lời : “Anh chị đang chơi đồ chơi.”
- Cô tạo tình huống: “Ôi sao tự nhiên em bé nóng quá, sờ trán thử xem em có
sốt không nào!”. Cô giả vờ làm động tác sờ trán Búp bê vẻ mặt lo lắng.
- Cô nói : “Trán em nóng quá! Em sốt rồi, tội nghiệp em quá.”
Cô hỏi trẻ :
- Làm sao bây giờ?
- Mình tiêm thuốc cho em nhé !
Qua giờ chơi cô không những dạy trẻ kỹ năng sống mà còn dạy trẻ nghe, hiểu
giao tiếp cùng nhau và trao cho nhau những tình cảm yêu thương, gắn bó của con
người.
7
Các bé chơi ở góc chơi thao tác vai
Ví dụ 2: Với góc “ Hoạt động với đồ vật” ở chủ đề “ Mẹ và những người thân yêu
của bé ” cô cho trẻ xâu những chiếc vòng tặng mẹ bằng những nụ hoa trứng gà.
Tôi hỏi trẻ:
+ Thảo An ơi, con đang xâu gì vậy? ( Con đang xâu vòng ạ)
+ Con xâu vòng bằng gì đấy?
(Con xâu bằng dây xâu ạ)
+ Muốn có chiếc vòng tặng mẹ con phải làm thế nào? ( Xâu hoa rồi buộc lại ạ !)
* Giáo dục ngôn ngữ thông qua hoạt động ngoài trời:
các con vật nuôi mà trẻ biết : tên gọi, đặc điểm nổi bật của chúng (tiếng kêu, con
vật có mấy chân, các bộ phận chính của con vật, cách di chuyển…), ích lợi của
chúng. Cho trẻ quan sát lần lượt con gà trống, gà mái, con vịt và hỏi trẻ các câu
hỏi :
- Con gì đây ? (con vịt)
- Nó kêu như thế nào ? (cạc cạc cạc)
- Cái gì đây ? (cái mào)
- Con gì có mào đỏ ? (con gà trống)
- Con vịt có mào đỏ không ? (không ạ !)
- Con gà có bơi ở dưới nước không ? (không ạ !)
Cô đặt tiếp các câu hỏi :
- Gà trống gáy như thế nào ?
- Gà trống hay gà mái có mào đỏ ?
9
Khuyến khích trẻ trả lời để nhận ra tên gọi và một số đặc điểm của các con vật
như :
- Gà trống gáy ò ó o…o, có mào đỏ ; mỏ gà nhỏ, nhọn để mổ thóc ; chân gà có
móng sắc nhọn…
- Gà mái kêu cục tác, cục tác ; mỏ gà nhỏ, nhọn để mổ thức ăn ; gà mái đẻ quả
trứng tròn…
- Con vịt kêu cạc…cạc… ; vịt không có mào đỏ ; mỏ vịt to ; chân vịt có màng
để bơi dưới nước.
Hoặc cô có thể hỏi trẻ các câu hỏi sau :
+ Con gì đấy ? (con vịt )
+ Kêu thế nào ? (cạc cạc cạc )
+ Con gà gì đẻ trứng ? ( con gà mái)
+ Gà trống gáy thế nào ? (ò ó o o )
+ Gà mái khi đẻ trứng xong nó kêu thế nào ? (cục ta cục tác)
* Làm quen với văn học:
Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học là phương tiện hữu hiệu phát triển
ngôn ngữ nói cho trẻ và còn hình thành phát triển ở trẻ kỹ năng nói mạch lạc.
Muốn làm được như vậy trẻ phải có vốn từ phong phú hay nói cách khác là trẻ có
cơ hội bổ sung vốn từ qua giờ học thơ, kể truyện.
Để hoạt động này đạt kết quả cao cũng như hình thành ngôn ngữ cho trẻ bản
thân tôi đã chuẩn bị tốt các yêu cầu sau:
+ Đồ dùng phải đẹp, màu sắc phù hợp đảm bảo tính an toàn và vệ sinh cho
trẻ.
+ Nếu là tranh vẽ phải đẹp, phù hợp với câu truyện, phía dưới phải có chữ to
giúp cho việc phát triển vốn từ của trẻ được thuận lợi.
+ Bản thân giáo viên phải thuộc truyện, ngôn ngữ của cô phải trong sáng,
giọng đọc phải diễn cảm, thể hiện đúng ngữ điệu của các nhân vật.
11
Các bé 24-36 tháng tuổi nghe cô kể chuyện
Hoạt động làm quen với văn học
Ví dụ 1: Cô đọc cho trẻ nghe câu chuyện “Chiếc áo mùa xuân”. Tôi cung cấp vốn
từ cho trẻ đó là từ “ Mùa xuân” “Mùa đông” “lạnh cóng”. Giải thích cho trẻ hiểu
màu xuân, mùa đông là các mùa trong năm, mùa xuân thời tiết mát mẻ, mùa đông
thì trời lạnh, gió thổi. Cô đọc truyện diễn cảm nhấn mạnh những từ chỉ thời tiết,
cảnh vật của hai mùa trong truyện : mùa đông lạnh cóng, mùa xuân sang cây cối,
cảnh vật đều khoác chiếc áo mùa xuân.
Trò chuyện với trẻ về truyện cô vừa đọc:
- Trong câu chuyện cô vừa đọc có những ai? (Thỏ mẹ, Thỏ con, Gà Gô, Nhái
Bén, Châu Chấu)
Ví dụ 3: Ngoài việc cung cấp cho trẻ vốn từ mới thì việc sửa lỗi nói ngọng, nói
lắp cũng vô cùng quan trọng khi trẻ giao tiếp. Khi áp dụng vào bài dạy tôi luôn chú
trọng đến điều này và đã kịp thời sửa sai cho trẻ ngay tại chỗ.
Trong câu truyện “Thỏ ngoan” ngoài việc giúp trẻ thể hiện ngữ điệu, sắc thái tình
cảm của các nhân vật trong truyện tôi còn sửa sai những từ trẻ hay nói ngọng để
giúp trẻ phát âm chuẩn và động viên những trẻ nhút nhát mạnh dạn hơn khi trả lời.
+ Trẻ nói Thỏ ngoan
-
Thỏ ngan
+ Bác Gấu
-
Bác hấu
+ Con Cáo
-
Con áo
- Mỗi khi trẻ nói sai tôi dừng lại sửa sai luôn cho trẻ bằng cách: tôi nói mẫu
cho trẻ nghe 1-2 lần sau đó yêu cầu trẻ nói theo, kết hợp động viên, khuyến khích
trẻ, nhất là những trẻ nhút nhát hay khả năng phát âm còn hạn chế.
- Như vậy việc làm quen với những bài thơ, câu chuyện là phương tiện giúp trẻ
phát triển ngôn ngữ một cách toàn diện qua đó giáo dục trẻ tình yêu thiên nhiên,
yêu cuộc sống và giáo dục trẻ biết một số hành vi ứng xử văn hóa của xã hội.
Nhà văn hào vĩ đại người Nga M.Gorky đã nói : “Vui chơi là cuộc sống của trẻ ”
Đặc biệt thông qua các trò chơi, hiệu quả của việc học ngôn ngữ sẽ rất cao.
- Đối với trẻ nhà trẻ, được phát triển ngôn ngữ thông qua trò chơi là một biện
pháp tốt nhất. Trò chơi đã trở thành phương tiện để cung cấp, tích luỹ được nhiều
vốn từ và trên cơ sở hiểu biết đầy đủ ý nghĩa của những từ đó trẻ biết sử dụng “số
vốn từ ” đó một cách thành thạo. Sử dụng trò chơi để phát triển ngôn ngữ tạo cho
trẻ một trạng thái học nói tự nhiên, là con đường nhanh nhất để trẻ bắt chước, tập
nói và ghi nhớ lâu những từ ngữ mới học được… Có nhiều trò chơi có thể sử dụng
được vào mục đích dạy nói cho trẻ. Đó là các trò chơi luyện phát âm, luyện thở
ngôn ngữ, phát triển vốn từ, nói đúng ngữ pháp, nói mạch lạc..
- Qua trò chơi trẻ sẽ được giao tiếp mạnh dạn hơn, ngôn ngữ cũng lưu loát
hơn, vốn từ của trẻ cũng được tăng lên, từ đó ngôn ngữ của trẻ ngày càng phong
phú. Vì vậy tôi đã mạnh dạn lựa chọn một số trò chơi giúp trẻ phát triển ngôn ngữ
sau đây :
*Trò chơi 1 : Lồng hộp
- Mục đích: Giúp trẻ phát triển với ngôn ngữ, nhận thức và các
kĩ năng khác mà trẻ có thể học được khi chơi với đồ chơi này.
- Chuẩn bị ; Mỗi trẻ một bộ lồng hộp tròn hoặc vuông.
- Hướng dẫn : Cô yêu cầu trẻ tháo, lắp xếp chúng vào nhau :
“Con hãy xếp hộp
màu xanh ở trong hộp màu vàng”
+ Qua đó cung cấp vốn từ cho trẻ như: “bên trong” và “bên
ngoài” khi trẻ xếp những chiếc hộp có kích thước khác nhau.
+ Nhận thức ngôn ngữ không gian: như bên trong, phía
dưới, bên cạnh, phía trước, đằng sau, phía trên cùng, bên dưới và
ở giữa trong hoạt động xếp vào và tách ra.
+ Nhận biết về các màu sắc khác nhau.
+ Khái niệm về kích thước của các vật như to hơn – nhỏ hơn.
này cũng rất tốt để phát triển và hình thành khả năng tư duy sáng
tạo ở trẻ sau này, trẻ sẽ học được cách tự tưởng tượng và chơi với
trí tưởng tượng của mình.
- Chuẩn bị: 2 chiếc điện thoại để bàn (hoặc điện thoại đồ chơi)
- Hướng dẫn: Cô dùng một chiếc điện thoại đồ chơi khác để nói
chuyện với trẻ và cùng chơi với trẻ:
“A lô ! Bác Nam đấy à ? Bác đang làm gì đấy ? Bác cho tôi gặp
bác Thảo được không ? (Trẻ ngồi cạnh được thay phiên nhau trò
chuyện)
- Học được kĩ năng thay phiên lượt nói: trẻ sẽ hiểu được rằng khi cuộc trò
chuyện diễn ra, hai bên sẽ thay phiên nhau nói chuyện và trẻ sẽ biết cách để nhận
lượt nói của mình và dừng lại để chờ người đối thoại với mình tiếp tục câu chuyện.
*Trò chơi 3 : Xếp hình
Mọi trẻ em đều rất nên có một
bộ đồ chơi với những mảnh gỗ
có hình thù và màu sắc khác
nhau; một bộ gỗ với chữ cái
hoặc chữ số trên nó cũng rất tốt
để làm quen với các con số và
cách đánh vần các chữ cái. Chơi
với các khối gỗ hình thù khác
Các bé chơi xếp hình
biệt giúp phát triển kĩ năng
ngôn ngữ và nhận thức của trẻ .
- Mục đích: Giúp trẻ nhận thức ngôn ngữ không gian: như bên
trong, phía dưới,
sát để tương tác với bạn mình,
màu
xem liệu bạn mình đã sẵn sàng
chú ý để nhận bóng hay chưa;
trẻ sẽ cần hiểu được ngôn ngữ
cơ thể của người khác
để chuyền bóng đúng lúc và tích lũy được nhiều kĩ năng xã hội
khác nữa.
- Chuẩn bị: Những quả bóng có màu sắc khác nhau.
- Hướng dẫn : Cô cùng chơi với trẻ, tung bắt bóng, ném bóng,
đập bóng xuống sàn cho bóng nảy. “Thi xem ai làm bóng nảy cao
18
hơn””Con hãy lăn cho quả bóng này đi thật xa nhé!”( Trẻ thực
hiện và nói “bóng nảy”;”bóng lăn”...)
* Trò chơi 5 : Tiếng kêu của đồ dùng nào ?
- Mục đích : Giúp bé nhận biết tiếng kêu của các đồ dùng khác nhau; luyện khả
năng phát âm.
- Chuẩn bị : Một số đồ dùng phát ra âm thanh : chuông, trống, 2 thìa, 2 chiếc
đũa...
- Hướng dẫn : Cô ngồi phía trước trẻ, giới thiệu từng loại đồ dùng và gõ để trẻ
nhận biết tiếng kêu của từng đồ dùng. Sau đó, cô gõ vào từng thứ một và hỏi trẻ
xem đó là tiếng kêu của đồ dùng nào. Cuối cùng, cô để tất cả các thứ đó ra sau
lưng (không cho trẻ nhìn thấy, rồi gõ vào từng thứ một và đố trẻ đó là tiếng kêu của
cái gì ?).
*Trò chơi 6: Nghe tiếng kêu đoán tên các con vật
- Hướng dẫn chơi: Từng đôi trẻ đứng đối diện nhau đu đưa sang hai bên theo
nhịp đọc. Đến câu cuối “ra lộn cầu vồng” trẻ buông tay nhau ra quay một vòng
tròn rồi cầm tay nhau chơi lại từ đầu.
*Trò chơi 8 : Chi chi chành chành
- Mục đích:
+ Kích thích trẻ đọc thông qua cách gieo vần điệu của bài thơ.
+ Luyện phát âm bằng các từ ngữ được lặp đi lặp lại( chi chi, chành chành, ù
à, ù ập…)
+ Trò chơi được kết hợp giữa lời nói và hành động nên kích thích trẻ chơi, đặc
biệt khi chính trẻ phát âm.
- Hướng dẫn chơi :
Cô cho trẻ ngồi xung quanh cô, tay trái của cô xòe ra, ngón trỏ phải cô và
cháu chấm vào lòng bàn tay trái của cô theo nhịp đọc khi đọc đến câu cuối cô đọc
chậm rồi nắm tay trái lại ngón trỏ nhấc lên thật nhanh. (Khi thì nắm chắc được
ngón tay trỏ, khi thì không nắm được tạo cho trẻ sự thích thú).
20
Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa
Con ngựa đứt cương
Ba phương ngũ đế
Bắt dế đi tìm
Ù à ù ập!
Cô và trẻ chơi : “Chi chi chành chành”
d.Phối kết hợp với phụ huynh :
Để ngôn ngữ của trẻ phát triển tốt không thể thiếu được đó là sự đóng góp của
thì phải biểu đạt, thể hiện bằng lời nói, sau đó bằng hành động. chứ không phải chỉ
nghĩ trong đầu là đủ, cũng không phải chỉ bằng hành động là đủ. Mà ba điều đó
phải đi liền với nhau, gắn bó với nhau. Nếu trẻ chỉ thể hiện suy nghĩ bằng hành
động phụ huynh cần dạy con cách nói, cách nhờ người khác lấy đồ…như thế nào?.
Nếu để lâu, con sẽ hình thành cho mình thói quen tiêu cực, không chịu nói, chậm
nói.
- Tạo cơ hội để trẻ có thể giao lưu, giao tiếp
Việc tạo môi trường giao lưu cho trẻ rất quan trọng. Tâm lý trẻ theo “cơ chế bắt
chước” những người khác vì vậy việc trẻ được giao lưu với những người xung
quanh sẽ giúp trẻ hình thành cho mình vốn từ ngữ phong phú hơn.
Phụ huynh phải thường xuyên cho con đến những nơi có hoạt động tập thể, những
nói đông người, đến lớp học để trẻ có nhiều cơ hội để giao lưu, vui chơi như vậy
mới tạo được môi trường cho trẻ hoạt động giao tiếp.
Vai trò của ngôn ngữ ảnh hưởng tới sự phát triển của trẻ, nó chính là công cụ
để trẻ có thể biểu đạt từ suy nghĩ thành lời nói, từ lời nói thành hành động. Vị vậy,
các bậc phụ huynh cần tạo cho trẻ môi trường trải nghiệm tích cực để những năm
đầu đời trẻ có được vốn từ vựng vững chắc.
- Ngoài ra tôi còn kết hợp với phụ huynh sưu tầm những quyển thơ, truyện có
chữ, hình ảnh to, rõ nét, nội dung phù hợp với lứa tuổi nhà trẻ để cho trẻ làm quen
và để xây dựng góc thư viện sách truyện của lớp.
đ.Phương pháp mẫu, làm gương;
22
Ở tuổi nhà trẻ, ngôn ngữ, giọng điệu, cách phát âm, dùng từ của trẻ sẽ là tấm
gương phản chiếu những gì mà ta dạy trẻ. Vì vậy, phương pháp làm mẫu ở thời kì
này có một tầm quan trọng đặc biệt. Cô có thể mở rộng những câu nói còn ngắn
ngủn, vụng về, lộn xộn của trẻ thành những câu đơn giản nhưng mạch lạc, trong
sang để làm mẫu cho trẻ:
Trẻ thường chỉ nói được những câu ngắn, nhiều khi chỉ là 1-2 từ hoặc dùng 1
nhân ra diện rộng về tổ chức các hoạt động chăm sóc sóc giáo dục trẻ.
- Qua các tiết dự giờ, hội giảng được đánh giá xếp loại giỏi.
- Tôi đã thiết kế được 20 giáo án điện tử về lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho
trẻ 24-36 tháng đưa vào giảng dạy được Ban Giám hiệu và đồng nghiệp đánh giá
cao.
2.Đối với trẻ:
Trẻ ở lớp đã có những chuyển biến rõ rệt, đa số trẻ trong lớp đã có một số vốn
từ rất khá, trẻ nói năng mạch lạc, rõ ràng được thể hiện như sau:
- Trẻ mạnh dạn, tự tin hơn trong khi giao tiếp.
- Trẻ khi giao tiếp biết nói đủ câu hoàn chỉnh.
- Trẻ không còn nói ngọng, nói lắp nữa .
* Bảng so sánh kết quả khảo sát đầu năm và cuối năm ( với 30
trẻ)
Khảo sát đầu năm
Tốt
Khá
TB
Nội dung
Yếu
Khảo sát cuối năm
Khá
TB
Tốt
S
SL
11
36.7
4
13.4
10
33.3
16
53.3
4
13.4
0
0
chuẩn
Vốn từ
Nói đúng
6
ngữ pháp
Giao tiếp
5
7
16.6
23.3
11
8
36.7
26.8
8
10
26.7
33.3
6
5
20
16.6
16
18
%
Nghe
hiểu ngôn
ngữ
và
phát
âm
3. Đối với phụ huynh:
- Tin tưởng và ủng hộ cô giáo trong việc sưu tầm nguyên vật liệu làm đồ
dùng đồ chơi phục vụ cho chuyên đề làm quen văn học và chữ viết và hoạt động
phát triển ngôn ngữ của trẻ.
24
- Tích cực trao đổi với giáo viên về những tiến bộ của trẻ về ngôn ngữ và có
những đóng góp thiết thực giúp giáo viên hiểu thêm về trẻ từ đó có những biện
pháp điều chỉnh thích hợp khi lên kế hoạch chủ đề, kế hoạch tuần, ngày...
IV. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ
1.Kết luận :
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở trường Mầm Non là vấn đề rất quan trọng và cần
thiết, mức độ phát triển ngôn ngữ của trẻ còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác
nhau.
Phát triển ngôn ngữ giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống giao tiếp hàng
ngày và hoạt động nhận thức của con người nói chung, sự phát triển tâm lý nhận
thức của trẻ nói riêng, đặc biệt là trẻ lứa tuổi 24- 36 tháng khả năng ngôn ngữ phát