MỤC LỤC
TT
TIÊU ĐỀ
TRANG
MỤC LỤC
1.
MỞ ĐẦU
1-3
1.1.
Lý do chọn đề tài
1-2
1.2.
Mục đích nghiên cứu
2
1.3.
Đối tượng nghiên cứu
2
Biện pháp 3: Phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động chơi
tập có chủ định.
Biện pháp 4: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua các trò chơi
dân gian.
Hiệu quả đạt được
16 - 17
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
17-18
2.2.1.
2.2.2.
2.3.
2.3.1.
2.3.2.
2.3.3.
2.3.4.
2.4.
3.
3
3-4
3
3-4
4-17
4-7
khác hiểu được những suy nghĩ, nhu cầu, mong muốn của bản thân thông qua lời
nói. [1]
Trong cuộc sống thì giao tiếp là một đặc trưng quan trọng của con người.
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất, nhờ có ngôn ngữ mà con
người có thể hiểu được nhau để tồn tại và phát triển xã hội.
Không có ngôn ngữ thì không thể giao tiếp được, thậm chí không thể tồn
tại được, đặc biệt là trẻ em trong độ tuổi nhà trẻ là những năm đầu đời. Ngôn
ngữ chính là một trong những phương tiện thúc đẩy trẻ trở thành một thành viên
của xã hội loài người.
Ngôn ngữ là một công cụ hữu hiệu để trẻ có thể bày tỏ những nguyện
vọng, mong muốn, nhu cầu trong cuộc sống hàng ngày. Ngôn ngữ là một điều
kiện quan trọng để trẻ tham gia vào mọi hoạt động, giúp trẻ giao tiếp với bạn, cô
giáo và những người xung quanh một cách tốt nhất, đạt hiệu quả cao trong hoạt
động.
Trong quá trình phát triển thể chất, trí tuệ. Công cụ để phát triển tư duy,
trí tuệ chính là ngôn ngữ. Ngôn ngữ chính là hiện thực của tư duy. Nếu không có
ngôn ngữ thì quá trình tư duy của trẻ sẽ không diễn ra.
Ngôn ngữ là công cụ để trẻ học tập, vui chơi. Ngôn ngữ được tích hợp
trong tất cả các loại hình hoạt động giáo dục, ở mọi lúc, mọi nơi. Như vậy, ngôn
ngữ cần cho tất cả các hoạt động và ngược lại, mọi hoạt động tạo cơ hội cho
ngôn ngữ trẻ phát triển. [1]
Ngôn ngữ phát triển sẽ giúp cho trẻ mở rộng giao tiếp. Điều này giúp trẻ
có điều kiện học hỏi những gì tốt đẹp xung quanh. Cô giáo bằng lời nói nhẹ
nhàng, tình cảm cũng sẽ dễ dàng hơn trong việc giải thích, nêu gương, thuyết
phục trẻ, giáo dục những hành vi, thói quen tốt cho trẻ.
Trường mầm non là trường học đầu tiên của mỗi đứa trẻ. Ở đây, trẻ được
giao tiếp với bạn, cô giáo, trẻ được tiếp xúc, khám phá các đồ dùng, đồ chơi, các
sự vật hiện tượng xung quanh làm nảy sinh nhu cầu ngôn ngữ. Trẻ nói ra những
mong muốn, ý thích của mình giúp ngôn ngữ của trẻ được tăng lên.
Có thể khẳng định rằng: Học tiếng mẹ đẻ là sự học tập quan trọng nhất,
triển ngôn ngữ cho trẻ 24- 36 tháng.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 - 36 tháng tuổi ở
Nhóm trẻ D1 trường mầm non Đông Văn, huyện Đông Sơn.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện tôi đã sử dụng các nhóm phương pháp như sau:
1.4.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng
cơ sở lý luận của đề tài. Thuộc nhóm này có các phương pháp cụ thể sau đây:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu;
- Phương pháp khái quát hoá các nhận định độc lập.
1.4.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
Bản thân tôi đã tìm hiểu qua thông tin đại chúng, tập san, tài liệu bồi
dưỡng, đài, báo, tivi, tài liệu về phát triển ngôn ngữ cho trẻ độ tuổi Nhà trẻ.
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây
dựng cơ sở thực tiễn của đề tài.
Thuộc nhóm này có các phương pháp cụ thể sau đây:
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tiễn, thu thập thông tin (về số trẻ,
đặc biệt là khả năng diễn đạt của trẻ)
- Phương pháp thực nghiệm khoa học: sau khi điều tra phân tích trên trẻ
tôi đã tiến hành áp dụng các biện pháp mà tôi cho là khả quan để phát triển ngôn
ngữ cho trẻ 24 - 36 tháng.
1.4.3. Phương pháp thống kê toán học
Để xử lý số liệu, thông tin thu được thông qua việc sử dụng các công cụ
toán học như: cộng, trừ, nhân, chia, trung bình cộng, tỷ lệ phần trăm…
2
2. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận
cho trẻ hoạt động...
- Bản thân là giáo viên có tâm huyết với công việc, yêu nghề mến trẻ tận
tình với công việc, có trình độ chuyên môn trên chuẩn.
- Luôn được sự quan tâm chia sẻ và ủng hộ từ phía nhà trường, được sự
tin yêu tín nhiệm và sự ủng hộ từ phía phụ huynh.
- Tổng số lớp tôi 25 cháu, tỷ lệ nam và nữ đều nhau, tỷ lệ chuyên cẩn
hàng tháng đảm bảo duy trì tốt, đa số trẻ đến lớp rất ngoan, có nề nếp.
- Bên cạnh đó bản thân luôn tích cực tự học hỏi nghiên cứu và tham khảo
tài liệu, truy cập Internet để trau dồi kiến thức.
2.2.2. Khó khăn
Trong sự phát triển về ngôn ngữ của trẻ thời kỳ trẻ độ tuổi nhà trẻ là giai
đoạn bắt đầu của ngôn ngữ chủ động, nên trong quá trình phát triển ngôn ngữ trẻ
do tôi phụ trách còn mắc phải những hạn chế như sau:
3
- Trẻ phát âm chưa chính xác hay còn nói ngọng, nói lắp đặc biệt trẻ hay
nói ngọng cụ thể “chữ n thành l; chữ x thành s; dấu ngã thánh dấu sắc; dấu hỏi
thành dấu nặng”….
- Đồng thời do kinh nghiệm của trẻ còn ít ỏi nên trẻ dễ nhầm lẫn khi tri
giác chủ yếu dựa vào những đặc điểm bên ngoài để nói.
- Hơn nữa giai đoạn này tư duy của trẻ chủ yếu là trực quan cụ thể, nghĩa
là: lời nói luôn luôn gắn liền với mọi hành động đồ vật cụ thể thì trẻ mới hiểu
được. Trẻ thích giao tiếp với người xung quanh và có nhu cầu bằng trực
quan, cần giải đáp thắc mắc mà trẻ gặp phải, trẻ thích được người lớn khen,
động viên kịp thời, thích đồ chơi sặc sỡ về màu sắc và có âm thanh và một đặc
điểm nữa là trẻ rất hay bắt chước người lớn.
- Đa số phụ huynh lớp tôi phụ trách họ chủ yếu làm nông nghiệp họ
không mạnh dạn, tự tin khi giao tiếp, phát âm còn ảnh hưởng tiếng địa phương
và ít trò chuyện với trẻ và thường không nghe trẻ nói chỉ có thói quen chiều theo
68,0
giao tiếp.
- Trả lời ngắn gọn, dễ hiểu,
25
7
28,0
18
72,0
diễn đạt đủ câu.
* Nhận xét: Qua khảo sát đầu năm kết quả cho thấy
- Tỷ lệ trẻ hứng thú tham gia vào hoạt động cô tổ chức còn thấp mới đạt ở
mức 40,0%.
- Số trẻ mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp còn hạn chế, trẻ rụt rè, nhút nhát,
khi bố mẹ đưa đến còn nhõng nhẽo đòi bế, mua quà…Tỷ lệ đạt mới ở mức
32,0%.
- Trẻ nói được đủ câu, diễn đạt ngắn gọn, dễ hiểu tỉ lệ đạt thấp 28,0%.
Để nâng cao được tỉ trẻ phát triển ngôn ngữ tốt là một vấn đề luôn làm tôi
trăn trở suy nghĩ làm thế nào để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ có hiệu quả nhất.
Tôi đã sử dụng một số biện pháp để đưa vào thực hiện trong năm học vừa qua và
đã thu được hiệu quả cao. Sau đây tôi xin trình bày 04 biện pháp cụ thể.
2.3. Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 - 36 tháng tuổi ở
Nhóm trẻ D1 trường mầm non Đông Văn, huyện Đông Sơn.
2.3.1. Biện pháp 1: Tạo cho trẻ cảm giác an toàn, tự tin khi đến lớp với
cô bằng việc luôn giữ mối quan hệ tốt, phối hợp thường xuyên với cha mẹ trẻ.
4
Gia đình cùng với nhà trường và các tổ chức xã hội là ba thành tố chủ đạo
trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ em. Mahatma Gandi đã từng
nói "Không có một ngôi trường nào tốt bằng gia đình và không có người thầy
- Con chào bố đi?
- Hôm nay cô dạy con những gì cùng kể cho bố nghe nào?
- Cô Bình chào hai bố con nhé….
Không dừng ở đó, tôi mong muốn phụ huynh hiểu rõ tầm quan trọng của
việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 - 36 tháng tuổi, từ đó tạo sự thống nhất giữa
nhà trường, giáo viên và phụ huynh trong việc rèn trẻ. Vì thế tôi đã xây dựng kế
hoạch theo từng tháng trong năm học và thông qua “Góc trao đổi với phụ
huynh” của lớp để phụ huynh nắm bắt và phối hợp với giáo viên rèn thêm lúc ở
nhà. Cụ thể:
- Tháng 9, 10: Phát triển khả năng nghe hiểu cho trẻ;
- Tháng 11, 12: Nghe, nhắc lại các âm, tiếng và câu nhằm phong phú vốn
từ cho trẻ;
6
- Tháng 1, 2: Chủ yếu vẫn hai nhiệm vụ trên nhưng khai thác sâu vấn đề
luyện trí nhớ cho trẻ qua cái bài thơ, đồng dao, bài đồng dao được phổ nhạc như
bài “Con kiến mà leo cành đa, leo phải cành cụt, leo vào leo ra” ....,
- Tháng 3, 4, 5: Xây dựng những trò chơi giúp trẻ nói đúng ngữ pháp, nói
mạch lạc.
Ví dụ: Trẻ nói theo mẫu câu của câu truyện “Chú vịt xám”, “Con xin lỗi
mẹ”…
Ngoài ra để hỗ trợ cho các hoạt động giáo dục tôi còn vận động phụ
huynh hỗ trợ nguyên vật liệu như: họa báo, tờ lịch cũ, chai nhựa, vải vụn,... để
làm đồ dùng, đồ chơi trang trí và tạo môi trường lớp học hợp lý sẽ tạo cho trẻ
không gian hoạt động tích cực, giúp trẻ khắc sâu kiến thức đã học.
Bên cạnh đó tôi thường xuyên trao đổi với phụ huynh về tình hình hoạt
động của trẻ trên lớp qua đó phụ huynh nắm bắt được chương trình chăm sóc
giáo dục trẻ. Cho phụ huynh biết được, ở độ tuổi này là giai đoạn phát triển lời
nói cao nhất của trẻ ở lứa tuổi mầm non, phụ huynh hãy dành thời gian thường
giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, mỗi nhà trường cũng cần phải xây dựng môi
trường hoạt động cho trẻ được trải nghiệm, khám phá.
Đặc biệt lứa tuổi nhà trẻ, nhận thức của trẻ luôn luôn gắn liền với đồ
dùng trực quan, trẻ phải được nhìn thấy cầm, nắm, sờ, được hành động với
những đồ dùng đồ chơi xung quanh trẻ. Để trẻ học không bị nhàm chán, không
bị gò bó đây là một trong những hình thức quan trọng làm thay đổi trạng thái
giúp trẻ hào hứng tiếp thu kiến thức và củng cố sâu hơn nội dung cần truyền thụ
ở trẻ.
Được sự chỉ đạo của Phòng Giáo dục cũng như ban giám hiệu, tổ chuyên
môn nhà trường, ngay từ đầu năm học tôi đã lập kế hoạch xây dựng môi trường
hoạt động một cách có kế hoạch với mong muốn nhằm phát triển ngôn ngữ cho
trẻ bằng việc tạo môi trường hoạt động trong và ngoài lớp học theo các khu vực
khác nhau trong lớp.
Đối với trẻ nhà trẻ những hình ảnh có đường nét sặc sỡ rõ ràng, là một ký
ức trong tâm hồn trẻ, màu sắc, hình ảnh sinh động sẽ tạo cho trẻ hứng thú tham
gia vào các hoạt động một cách nhẹ nhàng hơn nên tôi đã thiết lập mỗi khu vực
chơi mang màu sắc riêng biệt nhằm thu hút được sự chú ý của trẻ. Đặc biệt
hưởng ứng phong trào đưa các nguyên vật liệu thiên nhiên, các đồ dùng đã qua
sử dụng được vệ sinh sạch sẽ để trang trí lớp học, làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ
trong các hoạt động.
Ví dụ: Từ vỏ trai, hến, vỏ dừa, hộp bánh bằng sắt, hộp nhựa, thùng sơn,
thìa, môi đĩa hát nhạc… đã hư hỏng, tôi huy động được từ phụ huynh và làm các
đồ chơi trang trí góc âm nhạc và để trẻ sử dụng trong quá trình vui chơi, học tập
tôi cho trẻ tiếp xúc, sử dụng góc chơi này bằng trò chơi chơi “Bắt chước âm
thanh”, gõ vào các dụng cụ nào khi nó phát ra âm thanh gì thì trẻ nhắc lại âm
thanh đó như: gõ vào hộp bánh có tiếng keng keng, cô cho trẻ phát âm keng,
keng dụng cụ thì kêu boong boong, … Thông qua đây để phát triển ngôn ngữ
cho trẻ.
Cứ như vậy tôi khơi gợi sự hiểu biết của trẻ để trẻ nói lên nhận xét của
mình vừa cũng cố kiến thức về chủ đề, vừa giúp trẻ biết cách quan tâm đến các
bạn và phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ.
Ngoài xây dựng môi trường hoạt động trong lớp tôi đã suy nghĩ và tạo
dựng môi trường bên ngoài lớp học tôi đã khâu những con vật bằng xốp dạ, để
treo trang trí khu vực ngoài hiên trong giờ chơi ngoài trời hay giờ đón và trả trẻ
tôi luôn hỏi trẻ con vật gì để tạo cơ hội cho trẻ được trẻ lời.
Ví dụ: Với chủ đề “Đồ dùng, đồ chơi của bé” dưới sàn, ngoài hiên tôi
dán các hình ảnh theo chủ đề như: hình ảnh đôi dép, cái mũ … sau đó tôi tổ
chức trò chơi “Đi dép” với cách chơi như sau:
Tôi nêu rõ luật chơi cho trẻ nghe: các bé hãy đặt đôi bàn chân của mình
vào đôi dép dán trên nền gạch mỗi bàn chân ứng với một chiếc dép cứ thế bước
đi đến chiếc dép cuối cùng thì dừng lại. Hai bạn chơi một lượt ai nhanh hơn và
không đi ra ngoài là thắng cuộc. Khi đến đôi cuối cùng các bé bước ra ngoài và
tôi hỏi trẻ con vừa chơi trò chơi với đôi gì?. Sau khi trò chơi kết thúc tôi cho cả
9
lớp cùng đọc bài thơ “Đôi dép” tôi hỏi: Con vừa đọc bài thơ gì (Đôi dép). Đôi
dép dùng để làm gì? (Giữ cho chân sạch sẽ)….
Để phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong lớp tôi không chỉ dừng lại ở việc xây
dựng môi trường vật chất mà tôi còn tiến hành trao đổi với ban giám hiệu nhà
trường xây dựng môi trường xã hội cho trẻ ở lớp nhằm tạo điều kiện cho trẻ
được học, được trải nghiệm, được khám phá mọi lúc, mọi nơi để trẻ chủ động
tham gia các hoạt động vui chơi, khám phá, trải nghiệm phù hợp với độ tuổi nhà
trẻ.
Ví dụ: Với chủ đề “Thế giới Thực vật” cho trẻ trải nghiệm thực tế bằng
việc tổ chức cho trẻ đi tham quan khu trồng rau sạch ở thôn Văn Nam;
Với chủ đề “Nghề nghiệp” tôi cho trẻ đi tham quan khu chợ nông thôn
có chủ định.
Trẻ độ tuổi Nhà trẻ ngôn ngữ còn hạn chế vì bộ máy phát triển của trẻ
chưa hoàn thiện, phạm vi tiếp xúc của trẻ còn hạn hẹp trong khi đó sự chú ý của
trẻ vào đối tượng chưa bền. Trẻ rất hiếu động thích đi lang thang, chưa biết tính
kỷ luật là gì, trẻ không thích ngồi yên vì vậy để trẻ phát triển ngôn ngữ thông
qua hoạt động chơi tập có chủ định thì đòi hỏi người giáo viên phải có sự kiên
trì, khéo léo và luôn mang đến cho trẻ những điều bất ngờ dưới nhiều hình thức
khác nhau như: Sử dụng câu đố, bài hát, trò chơi, tranh ảnh, vật thật và hành
động bắt chước tiếng kêu của các con vật, đồ vật để lôi cuốn trẻ vào hoạt động
chơi tập có chủ định.
Thông qua hoạt động nhận biết tập nói. Đây là hoạt động chơi tập có chủ
định cung cấp và củng cố vốn từ, rèn khả năng phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho
trẻ. Ở hoạt động này tôi cho trẻ vừa học vừa chơi, trẻ được sử dụng các đồ dùng
đồ chơi, được khám phá, tìm hiểu các sự vật xung quanh. Khi chơi tập trẻ được
sờ, nắm phát triển sự khéo léo của các cơ, khớp và ngón tay phát triển vận động.
Trẻ được quan sát, trao đổi cùng cô cùng bạn về đặc điểm, cấu tạo, ích lợi, tác
hại của sự vật hiện tượng giúp trẻ không chỉ phát triển ngôn ngữ mà còn phát
triển nhận thức, khả năng ghi nhớ cho trẻ. Mỗi một hoạt động tôi lựa chọn đồ
vật, đồ chơi, các sự vật hiện tượng khác nhau, phù hợp chủ đề nhằm lôi cuốn sự
hứng thú, tích cực hoạt động của trẻ sẽ đem lại hiệu quả phát triển ngôn ngữ cao
hơn.
Ví dụ: Với chủ đề “Đồ dùng, đồ chơi của bé” chủ đề nhánh “Đồ dùng
trong gia đình” tôi đã dùng vật thật như: bát, đĩa hoặc bằng hình ảnh gian hàng
đồ dùng trên màn hình video sẽ thu hút trẻ vào hoạt động, trong khi trẻ đang ngơ
ngác không tập trung đây cũng là một trong những thủ thuật gây sự chú ý, tập
trung của trẻ nhìn vào đối tượng. Từ đấy tôi giúp trẻ gọi được tên đồ dùng (Cái
bát, cái đĩa) nhiều lần cả lớp cùng phát âm (Cái bát, cái đĩa) sau đó tôi cho các
cháu khá phát âm (Cái bát, cái đĩa), đến từng tổ cùng phát âm, cuối cùng tôi cho
những cháu phát âm chưa rõ lời và những cháu nhút nhát phát âm lại từ (Cái bát,
cái đĩa). Bên cạnh đó tôi đưa nhiều dạng câu hỏi cho trẻ trả lời để phát triển
không chỉ giúp cho trẻ nhận biết về các đồ vật, sự vật hiện mà nó còn giúp cho
trẻ phát triển vốn từ một cách tích cực.
Bên cạnh đó hoạt động làm quen với tác phẩm văn học cũng góp phần rất
lớn trong việc cung cấp và củng cố ngôn ngữ cho trẻ rất hiệu quả.
Ví dụ: Qua bài thơ “Cây bắp cải” đầu tiên tôi cho trẻ quan sát vật thật
(Cây bắp cải) cho trẻ được quan sát và phát âm (Bắp cải), sau đó cô đọc mẫu 2
lần cho trẻ lắng nghe để giúp trẻ cảm nhận sau đó tôi tiến hành cho trẻ đọc bài
thơ “Bắp cải xanh”
“Bắp cải xanh
Xanh man mát
Lá cải sắp
Sắp vòng tròn
Búp cải non
Nằm ngủ giữa”
Lần 1 và lần 2 cho cả lớp cùng đọc thơ sau đến từng tổ, cá nhân và đặc
biệt tôi luôn giành phần đọc cá nhân cho trẻ nhút nhát và những trẻ còn nói
ngọng, nói lắp nhiều, nói chưa đủ câu được đọc đi, đọc lại nhiều lần hơn. Sau đó
tôi còn cho trẻ đọc những từ khó trong bài thơ như từ “sắp vòng tròn” cho trẻ
phát âm. Và nói lá bắp cải sắp vòng tròn là sắp như thế nào? (Tôi vừa giải thích
vừa chỉ vào hình ảnh cây bắp cải cho trẻ xem và cho trẻ cùng làm động tác mô
12
phỏng các lá bắp cải xếp vòng tròn là các lá được sắp xung quanh với nhau tạo
thành cây bắp cải xanh).
Sau đó đặt câu hỏi theo nội dung bài thơ và phù hợp với đối tượng trẻ
trong lớp ở đầu năm với hệ thống câu hỏi đơn giản và gợi mở bằng hình ảnh cho
trẻ tự trả lời nhưng dần dần đến giữa năm học và đến cuối năm câu hỏi có độ
khó tăng dần và có độ mở cao hơn.
tượng quanh trẻ. Vì vậy tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi dân gian là việc làm vô
cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Khi được
chơi trẻ rất hứng thú, thoải mái vui đùa, trẻ sẽ bộc lộ những suy nghĩ của mình,
trẻ nói một cách tự nhiên qua đó cô giáo nắm bắt được những trẻ nào cần phát
triển cao, trẻ nào cần phải uốn nắn, sữa sai để đưa ra kế hoạch giáo dục tốt nhất
cho từng trẻ. Chính vì vậy tôi đã sử dụng linh hoạt các trò chơi dân gian vận
động, học tập, mô phỏng và sáng tạo tổ chức cho trẻ chơi giúp phát triển ngôn
ngữ cho trẻ.
13
Tôi lựa chọn trò chơi dân gian vận động như “Chi chi chành chành”, “Thả
đỉa ba ba”, “Tập tầm vông”, “Nu na nu nống”, “Cưỡi ngựa nhong nhong”,….
Các trò chơi này có thể tổ chức cho trẻ chơi ở các thời điểm khác nhau. Khi chơi
trẻ được nói, được đọc đồng dao kết hợp các vận động nhẹ nhàng giúp trẻ phát
triển ngôn ngữ mạch lạc, diễn cảm mà còn giúp trẻ có phản xạ nhanh, linh hoạt,
thoải mái, khả năng phán đoán của trẻ được phát triển.
Ví dụ: Trò chơi “Chi chi chành chành”
“Chi chi chành chành
Cái đanh nổi lửa
Con ngựa đứt cương
Ba Vương ngũ Đế
Bắt dế đi tìm
Ù à ù ập.”
Với trò chơi này kích thích trẻ đọc thông qua cách gieo vần của lời thơ.
Luyện phát âm bằng các từ ngữ được lặp đi lặp lại (chi chi chành chành, ù à ù
ập). Trò chơi được kết hợp giữa lời nói và hành động nên kích thích trẻ chơi đặc
biệt là khi chính bản thân trẻ phát âm.
Khi tổ chức tôi cho trẻ ngồi xung quanh tay trái của cô xòe ra, ngón trỏ
Hoặc cho trẻ ngồi hình vòng cung, 2 chân duỗi thẳng. Cô ngồi cùng hàng với
trẻ, vừa đọc thơ, vừa lần lượt dùng tay chạm vào 2 chân trẻ.
Ngoài lựa chọn các trò chơi dân gian vận động tôi còn lựa chọn các trò
chơi dân gian sáng tạo, khéo léo như: Xếp thuyền, làm diều, làm chong chóng...
Khi tổ chức các trò chơi này trẻ được học cách làm, được trao đổi cùng cô, được
miêu tả đồ chơi mình làm giúp trẻ phát triển ngon ngữ, trẻ chủ động sử dụng
ngôn ngữ của mình khi chơi. Mặt khác còn phát triển khả năng ghi nhớ, tư duy
và khả năng khéo léo của đôi bàn tay.
Hình ảnh: Cô và trẻ chơi trò chơi “N u na nu nống”
Để tổ chức các trò chơi dân gian cho trẻ đạt hiệu quả cao tôi đã dựa trên
các tiêu chí sau:
- Trò chơi đơn giản, dễ nhớ, dễ hiểu, lời đồng dao ngắn gọn.
- Đồ dùng đồ chơi phục vụ cho trò chơi dễ kiếm dễ tìm.
- Trò chơi phải gây được sự hứng thú, thu hút được sự chú ý của trẻ.
- Trò chơi khi tổ chức cho trẻ chơi phải có sự tham gia của tập thể lớp
hoặc nhóm trẻ trong lớp.
- Trò chơi giúp trẻ cũng cố tư duy, phát triển ngôn ngữ vận động và cũng
cố kỹ năng cho trẻ.
Thông qua việc tổ chức các trò chơi dân gian trẻ trong lớp tôi không chỉ
thuộc lời các trò chơi mà còn biết vận dụng, sử dụng các câu từ trong trò chơi
vào quá trình học tập, sinh hoạt hàng ngày, bên cạnh đó sau khi thực hiện các trò
chơi dân gian này đã phát huy được tính mạnh dạn, tự tin, mạnh dạn, chủ động
trong ngôn ngữ của trẻ như: cháu Thảo Nhi, Nam Anh… đầu năm đi học chỉ biết
15
đứng nép sau cánh cửa, sau những buổi chơi trò chơi dân gian do cô tổ chức giờ
trẻ đã mạnh dạn trong hoạt động, trẻ nói nhiều hơn, hỏi nhiều và trẻ nói đủ câu,
diễn đạt ý của mình rõ ràng hơn.
20,0
25
23
92,0
2
8,0
giao tiếp.
- Trả lời ngắn gọn, dễ hiểu,
diễn đạt đủ câu.
* Nhận xét: Nhìn vào bảng kết quả khảo sát so với đầu năm đã có kết quả
tiến triển vượt bậc.
- Trẻ đã rất hứng thú khi tham gia vào hoạt động cô tổ chức tỷ lệ đạt
92,0%, tăng đạt ở mức 52,0% so với đầu năm.
- Số trẻ mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp tăng mạnh, trẻ không còn rụt rè,
nhút nhát, khi bố mẹ đưa đến không còn tình trạng nhõng nhẽo đòi bế, mua
quà…Tỷ lệ đạt 80,0% tăng 48,0% so với đầu năm.
- Ngôn ngữ của trẻ phát triển hơn, trẻ trả lời câu hỏi của cô một cách ngắn
gọn, dễ hiểu, diễn đạt đủ câu, tỷ lệ đạt 92,0% tăng 64,0% so với đầu năm.
Được những kết quả trên là sự đóng góp nhiệt tình của cô giáo, phụ huynh
và nhà trường. Đặc biệt là sự hứng thú tích cực chủ động hoạt động của trẻ.
Từ đó vốn từ của trẻ đã tăng lên rõ rệt, nội dung câu nói của trẻ đầy đủ ý,
câu từ chính xác gắn gọn dễ hiểu.
- Ngay từ đầu năm giáo viên phải nắm bắt đặc điểm, tâm sinh lý của từng
trẻ.
- Giáo viên cần chú trọng công tác phối kết hợp với phụ huynh trong việc
phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Vì môi trường gia đình là môi ảnh hưởng đầu tiên
đến việc phát triển ngôn ngữ của bé.
- Bản thân không ngừng học hỏi từ bạn bè đồng nghiệp, tìm hiểu qua sách
báo, nghiên cứu tìm tòi những biện pháp, những hình thức tổ chức hay thu hút
được sự chú ý hứng thú, tích cực tham gia các hoạt động phát triển ngôn ngữ
cho trẻ.
- Tích cực lựa chọn, tổ chức các trò chơi dân gian phù hợp với lứa tuổi
nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
- Chú trọng và làm tốt công tác xây dựng môi trường hoạt động lấy trẻ
làm trung tâm.
- Giáo viên cần tuyên truyền, tranh thủ sự ủng hộ của phụ huynh để hỗ trợ
các hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
- Cô phải luôn kết hợp giữa nhà trường và gia đình để trẻ tiếp cận và lĩnh
hội kiến thức về việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách đồng bộ thống nhất.
3.2. Kiến nghị
* Đối với Phòng Giáo dục
- Hàng năm tổ chức cho giáo viên được đi học tập các mô hình điểm, các
đơn vị huyện bạn, các trường học có cơ sở vật chất, có sự đầu tư lớn về chất
lượng để giáo viên chúng tôi được tích lũy thêm kinh nghiệm về chăm sóc, giáo
dục trẻ.
- Luôn đầu tư trang thiết bị cho các nhóm lớp để trẻ tham gia thực hiện
các hoạt động một cách hứng thú, tích cực.
17
3.2. Kiến nghị
* Đối với nhà trường
2. Nhà xuất bản Giáo dục, Jacquie Mc Taggard, sách "Từ chiếc bàn của giáo
viên" xuất bản năm 2003.
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Mô đun bồi dưỡng thường xuyên Modul 1D về xây
dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm.
4. Tuyển tập trò chơi, bài hát trẻ Nhà trẻ 24-36 tháng.
19
DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN XẾP LOẠI TỪ C
TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả:
Trần Thị Bình
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường MN Đông Văn
Kết
Cấp đánh
quả
giá xếp loại
đánh
Năm học
(Ngành GD
TT
Tên đề tài SKKN
giá xếp đánh giá
cấp
loại
xếp loại
huyện/tỉnh;