skkn một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi dân tộc thiểu số trường mầm non kim thủy - Pdf 19

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN
NGỮ CHO TRẺ 5 TUỔI DÂN TỘC THIỂU
SỐ TRƯỜNG MẦM NON KIM THỦY
A. Mở đầu

V.I. Lê Nin từng cho rằng “Con người muốn tồn tại thì phải gắn bó với
cộng đồng. Giao tiếp là một đặc trưng quan trọng nhất của con người. Ngôn
ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất”. Trong tiến trình phát triển của
loài người, ngôn ngữ là phương tiện để con người hiểu được nhau và hoạt
động cùng nhau. Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể truyền đạt, tiếp thu
những kinh nghiệm xã hội từ đời này sang đời khác. Nhờ ngôn ngữ mà các
thao tác muôn màu muôn vẽ của tư duy mới thực hiện được. “Ngôn ngữ là cơ
sở của mọi sự phát triển trí tuệ và là kho tàng của mọi kiến thức. Tất cả mọi
sự hiểu biết đều bằng ngôn ngữ, thông qua ngôn ngữ và trở lại cũng bằng
ngôn ngữ” (Usinxki).
Đối với trẻ em, ngôn ngữ là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn
diện. Theo Galperin: Ngôn ngữ giữ vai trò quyết định tâm lí trẻ em. Nó giúp

phát triển ngôn ngữ Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số là vấn đề được Đảng
và Nhà nước vô cùng quan tâm nhằm hình thành và phát triển những kĩ năng
cần thiết cho trẻ trong việc học Tiếng Việt không những ở trong nhà trường
phổ thông mà ngay cả trong nhà trường mầm non
Tuy nhiên, trong thực tiễn công tác chăm sóc giáo dục trẻ cho thấy,
mặc dù trường mầm non đã chú ý việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua
các hoạt động nhưng nhiệm vụ này vẫn chưa được quan tâm đúng mức, chưa
tương xứng với tầm quan trọng của nó. Nhiều giáo viên chưa nhận thức đầy
đủ vai trò của công tác này nên hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ chưa
đạt hiệu quả cao.

II. Cơ sở thực tiễn
Năm học 2009-2010, tôi được nhà trường phân công dạy lớp mẫu giáo
lớn đổi mới kể từ tháng 10 năm 2009 với tổng số cháu là 15. Hầu hết các cháu
chưa có ý thức ham học, không chịu đến lớp để học, bản thân tôi trực tiếp đến
từng gia đình trẻ để huy động cháu ra lớp.
Đến lớp, đa số trẻ không tích cực tham gia vào các hoạt động, khả năng
chú ý của trẻ chưa cao, cô và trẻ có sự bất đồng về ngôn ngữ. Đồ dùng học tập
đối với trẻ còn nhiều xa lạ.
Nhiệm vụ, nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ chưa được đưa ra một
cách độc lập và chưa được quan tâm đúng mức. Mặc dù hoạt động này được
lồng ghép vào trong các hoạt động khác nhưng chưa đủ bởi chưa đáp ứng
được nhu cầu phát triển ngôn ngữ của trẻ trong giai đoạn hiện nay.
Với tình hình thực tế của lớp tôi như vậy, bản thân tôi luôn trăn trở, suy
nghĩ, nhiều lúc thấy vô cùng lo lắng không biết làm gì và làm như thế nào,
bằng phương pháp gì để giúp trẻ nhận biết, phát âm chuẩn 29 chữ cái, hiểu và
nói được Tiếng Việt một cách trôi chảy, tập tô chữ cái thành thạo. Chính vì
điều băn khoăn, trăn trở ấy, bản thân tôi đã tìm tòi, mạnh dạn thực hiện một
số biện pháp nhằm giúp trẻ ham thích được đến lớp, ham thích học tập và
nhất là ham học hỏi Tiếng Việt để trẻ học tốt tất cả các môn học và tạo đà cho

2. Khó khăn
- Cháu thường dùng tiếng dân tộc, ít hiểu Tiếng Việt nên việc tiếp thu
lời giảng của cô hiệu quả không cao.
- Khả năng nhận thức của trẻ không đồng đều, nhiều trẻ còn hạn chế về
một số kỹ năng: kỹ năng phát âm, kỹ năng nhận biết mặt chữ,…
- Phụ huynh các cháu hầu hết đều không biết chữ, ít quan tâm đến việc
học hành của con cái nên công tác phối kết hợp với giáo viên để dạy trẻ theo
một phương pháp nhất định còn gặp nhiều khó khăn.
- Tài liệu phục vụ công tác phát triển ngôn ngữ cho trẻ chưa phong phú
nên giáo viên chưa có điều kiện để nắm các nhiệm vụ của hoạt động này.
- Đồ dùng đồ chơi, trang thiết bị phục vụ dạy học còn nhiều thiếu thốn.

3. Điều tra thực tiễn

Nội dung
Tốt Khá Đạt yêu cầu
SL % SL % SL %
Nhận biết, phát âm chữ
cái
3 20 4 26.6 8 53.3
Phát triển vốn từ 2 13.3 3 20 10 66.6
Trả lời câu hỏi mạch lạc 2 13.3 2 13.3 11 73.3
Kĩ năng tô 3 20 3 20 6 60


Tôi chú ý phân tích rõ cấu tạo chữ để trẻ ghi nhớ được sâu hơn cấu tạo của
chữ cái và trẻ nhận biết một cách chính xác từng chữ cái. Mặt khác, trong
hoạt động mọi lúc mọi nơi, tôi thường chú ý luyện tập cho trẻ nói đúng, sữa
sai kịp thời nhất là đối với trẻ yếu.
Bên cạnh đó, tôi cũng chú ý giúp cho trẻ nhận biết và phát âm chữ cái
dễ dàng thông qua các trò chơi đơn giản nhưng khá hứng thú đối với trẻ. Trẻ
ở lứa tuổi này các hoạt động thường được tổ chức dưới hình thức học mà
chơi, chơi mà học. Trẻ rất ham thích được học qua hình ảnh trực quan, tổ
chức hoạt động thông qua các trò chơi. Nắm bắt được đặc điểm này, tôi đã
không ngừng sưu tầm những trò chơi hay, mới lạ trên sách báo, tạp chí để đưa
vào dạy trẻ phù hợp theo nội dung từng chủ điểm.
Ví dụ : Trò chơi luyện phát âm chữ cái “m”
Khi học chữ cái “m” tôi cho trẻ đọc các bài thơ có vần điệu dễ đọc:
“Mèo con đi học “Mẹ Minh đi chợ
Mèo khóc meo meo Mua một cây mía
Mèo mẹ mĩm cười Mẹ mang về nhà
Meo meo meo meo” Minh kêu: Mía mía”
Ngoài ra, tôi còn cho trẻ nhận biết và phát âm chữ cái qua nhiều trò
chơi khác như: “Xếp chữ cái bằng hột hạt”, “Nối chữ cái với từ có chứa chữ
cái đó”, “Chọn chữ cái theo yêu cầu của cô” gắn trên đồ dùng đồ chơi, “Xếp
các nét cơ bản tạo thành chữ cái”, “Tìm và gạch chân các chữ cái có trong từ,
câu, bài thơ, đồng dao…”. Bên cạnh đó, tôi luôn tranh thủ thời gian tự làm
thêm một số đồ dùng đồ chơi cho trẻ được thực hành trải nghiệm. Tôi thiết
nghĩ trẻ được thực hành trải nghiệm nhiều với đồ dùng đồ chơi sẽ giúp trẻ ghi
nhớ chữ cái một cách sâu sắc hơn. Từ đó cũng góp phần không nhỏ vào việc
cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ. Qua một thời gian thực hiện, lớp tôi tiến bộ
rõ rệt. Cháu hứng thú trong học tập, nhiều cháu thuộc chữ cái và phát âm

phương pháp trực quan, dùng lời, thực hành, trò chơi để trẻ dễ dàng tiếp thu
kiến thức, tham gia vào hoạt động tích cực hơn.
Ví dụ: Đối với một số tiết học theo chủ điểm gần gũi với trẻ, chẳng hạn
“ Thế giới thực vật” tôi đã sử dụng các loại hoa quả thật cho trẻ được tri giác,
nếm, ngửi kích thích sự hứng thú của trẻ khi tham gia hoạt động. Tôi sử dụng
phương pháp dùng lời, cho trẻ được phát biểu ý kiến riêng của mỗi trẻ. Tôi
chú ý sữa lỗi ngữ pháp cho trẻ bằng cách nhắc lại những câu trẻ nói sai giúp
trẻ sữa lại cho đúng.Trong quá trình đàm thoại tôi thường dùng những câu hỏi
mở để kích thích sự phát triển tư duy của trẻ.Cứ thế trẻ được thoải mái bày tỏ
những hiểu biết của mình.
Ví dụ: Câu hỏi “ Cháu đang làm gì thế?”, “Cháu thấy trò chơi đó như
thế nào?” thay cho những câu hỏi “ Cháu đang xem tranh à?”, “ Cháu có thích
trò chơi đó không?”
Không những thế, vào các hoạt động mọi lúc mọi nơi tôi cũng
dành nhiều thời gian rãnh rỗi cung cấp thêm cho trẻ phát triển vốn từ, diễn đạt
mạch lạc.
Giờ đón trẻ, trả trẻ tôi luôn vui vẽ, gần gũi, thân thiện trò chuyện với trẻ
về những kiến thức trẻ học trong ngày, những sinh hoạt ở gia đình trẻ kích
thích trẻ trả lời. Từ đó tôi có thể nắm bắt khả năng phát triển ngôn ngữ của trẻ
và có biện pháp phù hợp luyện tập thêm cho trẻ.
Giờ chơi tự do tôi hay dẫn trẻ đến các góc trò chuỵện và phát âm, đọc
các từ có trong tranh, từ ở mỗi góc, tôi cho trẻ chỉ vào chữ và phát âm nhiều
lần. Qua nhiều lần trẻ lớp tôi phát âm chuẩn hơn, mạnh dạn hơn trong giao
tiếp với cô, với bạn, bạn biết chỉ cho bạn chưa biết, hoặc mạnh dạn đến hỏi
cô, trẻ lớp tôi không còn rụt rè nữa. Ngoài ra trong giờ hoạt động ngoài trời
tôi cho trẻ ôn kiến thức đã học qua trò chuyện, đọc thơ, kể chuyện, chơi các
trò chơi dân gian, cho trẻ đọc đồng dao, ca dao trong hoạt động này giúp trẻ
phát âm, đọc thành thạo hơn, lưu loát hơn.
Hay vào các giờ hoạt động góc, chủ yếu ở các góc phân vai, tôi chú ý
hướng dẫn gợi mở cho trẻ được giao lưu trao đổi mua bán trò chuyện với

xúc với chữ, với từ, tên của mình bằng cách: Viết các danh sách của ba tổ có
kèm theo kí hiệu để trẻ biết tên mình ở chổ nào, có những bạn nào trong tổ
của mình. Chữ của trẻ tôi thường viết ở dạng chữ in thường và chữ viết hoa
(vì đây là tên riêng) kèm theo kí hiệu. Trẻ được khắc sâu hình ảnh tên của
mình và được làm quen với các kiểu chữ. Vì thế mà trẻ dễ dàng nhận biết các
đồ dùng cá nhân như khăn mặt, ca, cốc, vở tập tô, vở toán, vở tạo hình…khi
trẻ hoạt động. Hàng ngày trẻ sử dụng đồ dùng, biết tên, kí hiệu của mình, của
bạn, biết tên của mình có chữ gì, biết thứ tự của từng chữ từ trái sang phải của
các chữ như thế nào.
Thực tế cho thấy, trẻ đến trường ngoài hoạt động có chủ đích, hoạt
động ăn, ngủ, còn các thời gian khác trẻ hoạt động với môi trường bên ngoài
như: mảng tuyên truyền, khu vực để đồ dùng cá nhân của trẻ. Đây là nơi trẻ
thường xuyên hoạt động nên có tác dụng ôn tập cũng cố chữ cái và từ rất tốt.
Ví dụ như nơi để đồ dùng cá nhân giày, dép, mũ, túi xách của trẻ tôi đều quy
định vị trí của mỗi trẻ cụ thể và kèm theo ký hiệu tên riêng của mỗi trẻ. Từ đó
mỗi khi trẻ hoạt động không những rèn khả năng tự phục vụ cho trẻ mà còn
bổ trợ rất hiệu quả trong việc phát triển ngôn ngữ, vốn từ cho trẻ.
Mỗi một môi trường hoạt động của trẻ, tôi đều chủ động tạo môi trường
để trẻ có cơ hội được luyện phát âm, ôn luyện chữ đã biết, làm quen chữ mới
và làm quen từ. Đây là một trong những hình thức phát triển vốn từ cho trẻ
một cách rất tự nhiên, thoải mái, không gò bó áp đặt trẻ và trẻ cũng rất thích
thú khi tham gia.

4. Cung cấp Tiếng Việt thông qua việc cho trẻ tập tô
Nghe, nói, đọc, viết là những nội dung cơ bản của phát triển ngôn ngữ.
Giữa những nội dung đó có sự gắn bó mật thiết, bổ trợ cho nhau. Hoạt động
tập tô là tiền đề của hoạt động tập viết, là một trong những hoạt động góp

5. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua việc làm quen công nghệ
thông tin
Để đáp ứng nhu cầu nhận thức của trẻ đồng thời thực hiện mục tiêu
nhiệm vụ của Nhà trường giao đó là việc ứng dụng công nghệ thông tin, giáo
án điện tử vào giảng dạy thông qua việc khai thác trò chơi Kidsmart, các
nguồn dữ liệu thiết kế trên máy tính.
Tôi tham khảo trong chương trình Kidsmart, cho trẻ ôn chữ đã học
thông qua các trò chơi: “Đuổi hình bắt chữ”, “Ô chữ kì diệu”, “Bé nhanh trí”,
“Trổ tài cùng gấu Pooh”, “Thử tài của bé”. Các trò chơi này được thiết kế sẵn,
có hình ảnh đẹp, hấp dẫn, phong phú, có tính thẩm mỹ và tính giáo dục cao,
kích thích sự hứng thú tham gia của trẻ. Có rất nhiều trò chơi nhưng điều
quan trọng là sử dụng làm sao cho phù hợp và trẻ luôn tỏ ra thích thú mới là
điều quan trọng. Tôi luôn tìm tòi, sắp xếp, lồng ghép sao cho trò chơi phải
phù hợp và có sự bổ trợ tích cực cho hoạt động chung. Trẻ được chơi dưới
hình thức chọn chữ cái theo yêu cầu, Trẻ quan sát phát âm các chữ cái tìm
được và đọc các từ dưới hình ảnh, và ngẫu nhiên trẻ được ôn luyện, phát triển
ngôn ngữ rất nhẹ nhàng thông qua các trò chơi này. Không chỉ bổ trợ cho hoạt
động chung mà ở các hoạt động mọi lúc mọi nơi như hoạt động góc, hoạt
động chiều tôi thường xuyên cho trẻ được chơi. Những câu chuyện bài thơ mà
trẻ lớp tôi dễ thuộc mà nhớ lâu cũng nhờ vào công nghệ thông tin. Các câu
chuyện với những hình ảnh sóng động, hấp dẫn, lời kể nhẹ nhàng truyền cảm
gây hứng thú làm cho trẻ không bao giờ nhàm chán. Qua đó tôi nhận thấy đa
số trẻ rất hứng thú và đặc biệt vốn từ của trẻ cũng được tăng dần lên đáng kể.
6. Kết hợp với phụ huynh

Qua quá trình thực hiện, bản thân tôi rất phấn khởi khi kết quả đạt được khá
cao.

* Đối với trẻ:
Nội dung
Tốt Khá Đạt yêu cầu
SL % SL % SL %
Nhận biết, phát âm chữ
cái
13 85 2 13.3
Phát triển vốn từ 8 53.3 6 40 1 20
Trả lời câu hỏi mạch lạc 7 46.6 6 40 2 13.3
Kĩ năng tô 8 53.3 5 33.3 2 13.3

Nhiều trẻ tỏ ra mạnh dạn tự tin trong giao tiếp, khả năng sáng tạo được
bộc lộ rõ rệt.

* Đối với giáo viên:
Giáo viên nắm chắc phương pháp, linh hoạt trong các tiết dạy, đúc rút
được nhiều kinh nghiệm cho bản thân.

* Đối với phụ huynh:
Đa số phụ huynh hưởng ứng nhiệt tình. Giữa nhà trường - giáo viên - phụ
huynh có sự hợp tác tích cực. Nhiều phụ huynh ngày càng tin tưởng, chăm lo
hơn đến phương pháp giáo dục trẻ, có ý thức đóng góp đồ dùng, đồ chơi.

V. Bài học kinh nghiệm
Qua quá trình thực hiện, bản thân tôi đã học tập và đúc rút được nhiều kinh
nghiệm quý.


bị cho các cháu nhiều phương diện cần thiết ở những mức độ sơ giản ban đầu.
Nội dung, phương pháp và hình thức chuẩn bị có hình thức rõ ràng, phù hợp
với lứa tuổi, tạo được sự liên thông với chương trình lớp 1 sẽ góp phần tạo
điều kiện thuận lợi giúp trẻ phát triển ngôn ngữ.
Kết quả thực hiện hoạt động phát triển ngôn ngữ ở lớp mẫu giáo lớn
Cụm Chuôn do bản thân tôi trực tiếp chủ nhiệm trong năm học 2009 – 2010
bước đầu có hiệu quả đáng trân trọng nhưng bản thân nhận thấy vẫn còn
nhiều vấn đề tiếp tục học hỏi, tìm kiếm giải pháp, đúc rút kinh nghiệm của các
đơn vị bạn để không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động phát triển ngôn
ngữ ở trường mầm non Kim Thủy nói riêng và các trường mầm non trên địa
bàn Lệ Thủy nói chung. Bản thân rất mong nhận được sự góp ý, trao đổi ý
kiến của Hội đồng khoa học các cấp để bản sáng kiến cải tiến kĩ thuật của tôi
hoàn thiện hơn, áp dụng rộng rãi hơn. Kim Thủy, ngày 20 tháng 05 năm
2010

Hội đồng khoa học nhà trường Người viết
Võ Thị Ngân


Trang 6
4. Cung cấp Tiếng Việt thông qua việc cho trẻ tập
tô Trang 7
5. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua việc làm quen
công nghệ thông
tin Trang 8
6. Kết hợp với phụ
huynh Trang 9
IV. Kết quả đạt
được Trang 9
V. Bài học kinh
nghiệm Trang 10
C. Kết
luận Trang 1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status