một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 – 6 tuổi trường mẫu giáo minh tân xã minh tân huyện bảo yên tỉnh lào cai qua tổ chức hoạt động đọc thơ - Pdf 23


1

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Thạc sĩ Nguyễn Thùy Dung - ngƣời
đã tận tình hƣớng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.
Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, phòng KHCN và HTQT, Thƣ
viện, Ban chủ nhiệm Khoa Tiểu học Mầm non - Trƣờng Đại học Tây Bắc và các
bạn sinh viên lớp K51 ĐHGD Mầm non đã tạo điều kiện giúp đỡ em nghiên cứu
để hoàn thành luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban giám hiệu cùng
toàn thể các cô và các cháu mẫu giáo 5 – 6 tuổi trƣờng Mẫu giáo Minh Tân –
Bảo Yên – Lào Cai đã tạo điều kiện giúp đỡ để em hoàn thành đề tài đúng thời
gian. Sơn La, tháng 05 năm 2014
Ngƣời thực hiện
Kim Thị Hơn

3
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU……………………………………………………………… 1
1. Lí do chọn đề tài………………………………………………………………1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề……………………………………………….……2
3. Mục đích nghiên cứu………………………………………………………….4
4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu…………………………………… ……4
5. Giả thiết khoa học…………………………………………………………… 4
6. Nhiệm vụ nghiên cứu…………………………………………………………5
7. Phạm vi nghiên cứu…………………………………………………….…… 5
8. Phƣơng pháp nghiên cứu…………………………………………………… 5
9. Cấu trúc của luận văn…………………………………………………………6
PHẦN NỘI DUNG…………………………………………………………… 7
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 7
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN……………………………………………………….….7
1.1.1.Đặc điểm tâm lý của trẻ 5 – 6 tuổi…………………………………………7
1.1.2. Chức năng, vai trò của ngôn ngữ, đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ
mẫu giáo 5 – 6 tuổi…………………………………………………………… 9
1.1.3. Đặc điểm của các tác phẩm thơ dành cho thiếu nhi…………… ………15
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN………………………………………………………21
1.2.1.Tác phẩm thơ trong chƣơng trình “Chăm sóc – giáo dục trẻ mầm non”…21
1.2.2. Khảo sát điều tra thực trạng phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo qua các
tác phẩm thơ……………………………………………………………………25
Tiểu kết chƣơng 1……………………………………………………… …… 30
CHƢƠNG 2: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 5– 6
TUỔI QUA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG ĐỌC THƠ……………… ……… 31

5
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
1.1. Một quốc gia hùng mạnh là một quốc gia có nền giáo dục phát triển. Vì
vậy đầu tƣ cho giáo dục là đầu tƣ cho sự phát triển bền vững, đảm bảo đào tạo
một thế hệ kế tiếp có đầy đủ phẩm chất và năng lực phục vụ cho đất nƣớc. Đại
hội Đảng khóa IX đã khẳng định “giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu,
phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực của con
ngƣời”.
1.2. Hiện nay giáo dục đã trở thành mối quan tâm của toàn xã hội, đặc biệt
giáo dục mầm non chiếm một vị trí quan trọng, là khâu đầu tiên trong hệ thống
giáo dục quốc dân, là bậc học đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách con
ngƣời mới xã hội chủ nghĩa.
Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai, trẻ em là nguồn hạnh phúc của mỗi gia
đình, là tƣơng lai của đất nƣớc, là lớp ngƣời sẽ tiếp tục sự nghiệp của ông cha để
lại, gánh vác mọi công việc xây dựng tổ quốc. Mọi trẻ em sinh ra đều có quyền
đƣợc giáo dục chăm sóc, đƣợc tồn tại và phát triển, đƣợc yêu thƣơng trong gia
đình cộng đồng. Khi xã hội càng phát triển thì giá trị con ngƣời càng đƣợc nhận
thức và đánh giá đúng đắn, do vậy việc chăm sóc và giáo dục trẻ lại càng mang

ngữ nhƣ: F.Dsaussre, R.O.shor, E.D.Polivanop, L.X.Vuwuwxxky, O.B.Encônhin,
K.D.Usinxky, Planton, Arítot,…
Những nghiên cứu tuy khác nhau về phƣơng pháp nhƣng luôn tìm hiểu chung
một vấn đề đó là ngôn ngữ.
Ví dụ:
A.VPetrovsky với “Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm”.
A.M.Barodis với “Phương pháp phát triển tiếng cho trẻ em”.
Những nhà khoa học nổi tiếng của Nga cũng có những khám phá vĩ đại về
những vấn đề hoàn thiện ngôn ngữ với lứa tuổi mầm non:
A.A.Leeonchiep với “Những cơ sở của lí thuyết hoạt động lời nói”.
N.I Giuwnkin với “Vấn đề hoàn thiện nội dung và phương pháp”.
A.N. Xookôlôp với “Lời nói bên trong và tư duy”.

7
Hay các nghiên cứu khác nhƣ:
M.M.Konxoova với “Dạy nói cho trẻ trước tuổi đi học”.
V.X.Mukhina với “Tâm lí học mẫu giáo”.
A.B.Zaporojets với “Cơ sở tâm lí học của trẻ mẫu giáo”.
Ở Việt Nam vấn đề phát triển ngôn ngữ, lời nói cho trẻ cũng đã đƣợc rất
nhiều các nhà giáo dục quan tâm và nghiên cứu nhƣ:
Các tác giả Nguyễn Quang Ninh, Bùi Kim Tuyến, Lƣu Thị Lan, Nguyễn
Thanh Hồng với: “Tiếng Việt và phương pháp phát triển lời nói cho trẻ”, đề cập
tới tiếng Việt dựa vào đó tác giả xây dựng các phƣơng pháp nhằm phát triển và
hoàn thiện lời nói cho trẻ.
Tác giả Hoàng Kim Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức với: “Phương
pháp phát triển ngôn ngữ”. Các tác giả đã đƣa ra các phƣơng pháp nhằm tăng
vốn từ cho trẻ.
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết, Phạm Hoàng Gia, Đoàn Thị Tâm với: “Tâm lí
trẻ em lứa tuổi mầm non” đã tiến hành nghiên cứu sự phát triển tâm lí của trẻ
mầm non qua các giai đoạn lứa tuổi.

4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Tìm hiểu và đề xuất một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 – 6 tuổi
thông qua hoạt động đọc thơ.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu trên 104 trẻ 5 – 6 tuổi trƣờng Mẫu giáo Minh Tân – Minh Tân –
Bảo Yên – Lào Cai.
5. Giả thuyết khoa học
Mức độ phát triển ngôn ngữ thông qua một số bài thơ cho trẻ mầm non từ 5 -
6 tuổi ở trƣờng mầm non hiện nay còn những hạn chế vì chƣa gây đƣợc hứng thú với
trẻ và có biện pháp truyền đạt đến gần hơn với trẻ thì sẽ gây đƣợc hứng thú, cảm giác
thoải mái đối với trẻ, qua đó giúp trẻ phát triển toàn diện về các lĩnh vực đức – trí -
thể - mĩ nhất là phát triển ngôn ngữ. Các biện pháp đề xuất chứng minh đƣợc tính
khả thi thì sẽ góp phần vào công cuộc đổi mới phƣơng pháp giáo dục mầm non hiện
nay nhất là ở lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ và có thể làm tài liệu tham khảo
cho giáo viên mầm non, sinh viên ngành giáo dục mầm non.

9
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu một số cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn có liên quan đến vấn đề cần
nghiên cứu.
Nghiên cứu lý luận: Đọc tài liệu, tổng hợp, phân tích tài liệu có liên quan đến
vấn đề nghiên cứu.
Khảo sát thực trạng phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi qua tổ chức hoạt
động đọc thơ ở trƣờng mầm non.
Xây dựng một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo trong độ
tuổi từ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động đọc thơ.
Tổ chức thể nghiệm để khẳng định tính khả thi của phƣơng án đề xuất.
Xử lí kết quả nghiên cứu.
7. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn những vấn đề liên quan đến đề tài.

đọc thơ.
Ở chƣơng này tôi đã xây dựng một số biện pháp, quy trình vận dụng phƣơng
pháp giáo dục mầm non mới để tổ chức dạy thơ cho trẻ 5 -6 tuổi với mục đích
phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Chương 3: Thể nghiệm sư phạm.
Từ những cơ sở lí luận, thực tiễn đã thấy tôi tiến hành thiết kế một số mẫu
giáo án và tiến hành giảng dạy ở một số lớp sau đó xử lý số liệu, vẽ biểu đồ thể
hiện tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất.

11
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN

Trẻ càng lớn tình cảm sẽ dần ổn định, sự hiểu biết của trẻ sẽ phong phú,
phức tạp dần theo mối quan hệ và những hiểu biết về thế giới xung quanh.
Chính vì vậy từ những xúc cảm, tình cảm đƣợc nảy sinh trong quá trình cảm thụ
văn học trẻ sẽ biết yêu thƣơng mọi ngƣời cũng nhƣ vạn vật xung quanh.
Các tác phẩm thơ mở ra cho trẻ thế giới tình cảm của con ngƣời, một thế
giới náo nức sinh động, đáng yêu đầy màu sắc hƣơng vị của thế giới bên ngoài,
của thiên nhiên cây cỏ đƣợc đƣa vào trong thơ qua trí tƣởng tƣợng hồn nhiên
của trẻ thơ mang một màu sắc riêng ngộ nghĩnh, đáng yêu.
Các tác phẩm thơ nói lên niềm vui, nỗi buồn của nhân vật làm cho trẻ hồi
hộp, cảm động nhƣ chính đó là niềm vui nỗi buồn của bản thân trẻ. Cùng với
những cảm xúc trong các tác phẩm thơ, trẻ cảm thấy cái cảm giác hồi hộp trong
những giây phút căng thẳng, cảm giác bằng lòng, khoan khoái, gây cho trẻ niềm
vui và sự hứng thú.
Thế giới thơ luôn bắt đầu từ những cảnh quen thuộc, gần gũi với cuộc sống
hàng ngày của trẻ. Đó là những hình ảnh rất quen thuộc của làng quê Việt Nam,
các tác giả đã cảm nhận về những cảnh vật ấy không chỉ bằng tâm hồn của một
ngƣời nghệ sĩ mà còn bằng trái tim của những con ngƣời yêu thơ. Thiên nhiên
trong thơ mầm non là một thiên nhiên trong trẻo kì diệu và đầy chất thơ.
Có thể tìm thấy trong các tác phẩm văn chƣơng những từ ngữ chính xác biểu
cảm, những bài thơ có nhịp điệu uyển chuyển, những bức tranh thiên nhiên đầy
màu sắc.
Học thơ ca, trẻ sẽ làm quen với cách so sánh, nhân hóa đầy sức thu hút.
“Sân nhà em sáng quá
Nhờ ánh trăng sáng ngời
Trăng tròn nhƣ cái đĩa
Lơ lửng mà không rơi
Những đêm nào trăng khuyết
Trông giống con thuyền trôi

13


14
sự phát triển của cảm xúc, cảm xúc càng sâu sắc thì tƣởng tƣợng càng phát triển
để phù hợp với cảm xúc đó và ngƣợc lại tƣởng tƣợng cũng giữ vai trò làm giàu
thêm những kinh nghiệm cảm xúc của trẻ. Việc hình thành và phát triển tƣởng
tƣợng của trẻ cũng gắn chặt với hình thành và phát triển ngôn ngữ. Nhờ có ngôn
ngữ mà trẻ có thể hình dung ra đƣợc những gì trẻ nhìn thấy (tƣởng tƣợng). Vì
thế, nếu một đứa trẻ mà ngôn ngữ kém phát triển thì trí tƣởng tƣợng cũng nghèo
nàn. Tƣởng tƣợng giúp cho trẻ có thể sâu chuỗi đƣợc những sự vật, hiện tƣợng
riêng lẻ vào một thể thống nhất, tƣởng tƣợng của trẻ có thể đƣợc phát hiện trong
hoạt động giáo dục, qua các hoạt động giáo dục trẻ sâu chuỗi đƣợc các sự vật,
hiện tƣợng bằng trí tƣởng tƣợng phong phú của mình và tích luỹ đƣợc vốn biểu
tƣợng trong từng hoạt động, sau đó trong những thời điểm hoàn cảnh cụ thể, trẻ
sẽ có sự liên tƣởng cần thiết. Trẻ thơ cần có trí tƣởng tƣợng vì vậy việc nuôi
dƣỡng trí tƣởng cho trẻ là một trong những nhiệm vụ của giáo dục mầm non.
Có thể nói, tƣởng tƣợng là một năng lực không thể thiếu để cảm thụ và sống
với những tác phẩm văn học. Trẻ đã sẵn có trong đầu trí tƣởng tƣợng phong phú,
bay bổng nên khi gặp những hình ảnh đẹp đẽ, kì ảo của tác phẩm văn học thì trí
tƣởng tƣợng của trẻ sẽ càng đƣợc thăng hoa. Nhƣ vậy trí tƣởng tƣợng phong phú
của trẻ chính là tiền đề để chúng ta đƣa những tác phẩm văn học đến với trẻ. Trẻ
dùng trí tƣởng tƣợng của mình để tiếp thu những sáng tạo nghệ thuật, và ngƣợc
lại, trí tƣởng tƣợng phong phú, bay bổng trong các tác phẩm văn học sẽ chắp
cánh cho những ƣớc mơ, những hoài bão và sự sáng tạo của trẻ.
1.1.2. Chức năng, vai trò của ngôn ngữ, đặc điểm phát triển ngôn ngữ của
trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
1.1.2.1. Chức năng của ngôn ngữ
Một trong những chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ là nó đƣợc làm
phƣơng tiện chính cho sự tồn tại, truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch
sử xã hội của toàn nhân loại cũng nhƣ của từng cộng đồng ngƣời.
Những kinh nghiệm lịch sử của xã hội đƣợc đọng lại (chứa đựng) trong các

tuệ của con ngƣời. Nó bao gồm cả việc kế hoạch hóa hoạt động, thực hiện hoạt
động và đối chiếu kết quả hoạt động với mục đích đã đặt ra.
Nhờ có ngôn ngữ mà con ngƣời có thể lập ra kế hoạch, định ra mục đích
cần đạt tới trƣớc khi tiến hành bất cứ một công việc gì và kể cả trong khi tiến

16
hành công việc, hoạt động nhận thức (cảm tính, lý tính). Nhờ có ngôn ngữ mà
con ngƣời có thể tổ chức, hƣớng dẫn, điều khiển, điều chỉnh đƣợc hoạt động lao
động chân tay của mình. Điều đó đem lại cho con ngƣời những thành tựu vĩ đại
khác xa về chất so với động vật: hành động có ý thức.
Ba chức năng cơ bản nói trên của ngôn ngữ có mỗi quan hệ khăng khít với
nhau. Dƣới một góc độ nào đó, chúng ra có thể quy chúng về một chức năng là
giao lƣu (giao tiếp). Hơn nữa, nếu xét vai trò của ngôn ngữ nhƣ một công cụ của
hoạt động trí tuệ thì chính công cụ này cũng biểu hiện nhƣ một hoạt động giao
lƣu với bản thân mà thôi (độc thoại). Mặt khác, công cụ đó cũng đƣợc bộc lộ
nhƣ một hoạt động điều chỉnh hành vi và hành động của con ngƣời.
1.1.2.2. Vai trò của ngôn ngữ
a. Ngôn ngữ là công cụ của giao tiếp
Có thể nói bản chất của con ngƣời là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Vì
vậy, muốn tồn tại đƣợc trong cộng đồng ngƣời phải giao tiếp với nhau.
Ngôn ngữ làm cho con ngƣời xích lại gần nhau hơn. Nhờ ngôn ngữ mà con
ngƣời có thể hiểu đƣợc nhau, trao đổi với nhau những tâm tƣ, tình cảm, nguyện
vọng, rồi có thể cùng nhau hành động vì lợi ích chung. Không có ngôn ngữ thì
không thể giao tiếp thậm chí là không thể phát triển đƣợc nhất là đối với trẻ em
– những sinh thể yếu ớt cần đƣợc chăm sóc, bảo vệ của ngƣời lớn. Muốn bảo vệ,
chăm sóc và phát triển trẻ phải thông qua hoạt động ngôn ngữ. Và ngƣợc lại, khi
trẻ lớn lên trẻ đã biết nói thì việc sử dụng ngôn ngữ của trẻ là để bày tỏ nguyện
vọng, sự hiểu biết của mình. Nhƣ vậy, ngôn ngữ chính là một trong những
phƣơng tiện thúc đẩy trẻ để trẻ trở thành một thành viên của xã hội. Ngôn ngữ
cũng chính là một công cụ hữu hiệu để trẻ có thể bày tỏ đƣợc những tình cảm,

sáng tạo mới. Vì vậy, trong các trƣờng mầm non, khi cho trẻ tiến hành các hoạt
động chơi vui, lao động, học tập… cần phải tạo điều kiện và kích thích trẻ nói.
Một trong những phƣơng pháp để kiểm tra nhận thức của trẻ là phải thông
qua ngôn ngữ. Nhƣ vậy ngôn ngữ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc
giáo dục trí tuệ cho trẻ, thông qua ngôn ngữ trẻ có thể nhận thức về thế giới
xung quanh một cách sâu rộng, rõ ràng, chính xác. Ngôn ngữ giúp trẻ tích cực
sáng tạo trong hoạt động trí tuệ. Nhƣ vậy việc phát triển trí tuệ cho trẻ không thể
tách rời việc phát triển ngôn ngữ.

18
c. Vai trò của ngôn ngữ trong giáo dục đạo đức
Phát triển hoàn thiện dần ngôn ngữ cho các cháu ở lứa tuổi mầm non có ý
nghĩa to lớn trong việc phát triển tình cảm đạo đức. Ở lứa tuổi mầm non, đặc
biệt là lứa tuổi mẫu giáo các cháu bắt đầu hiểu biết và lĩnh hội những khái niệm,
những quy tắc, những chuẩn mực đạo đức của xã hội. Tuy mới chỉ là những khái
niệm ban đầu nhƣng lại vô cùng quan trọng, có tính chất quyết định đến việc
hình thành những nét tính cách riêng biệt của mỗi ngƣời trong tƣơng lai. Muốn
cho các cháu hiểu và lĩnh hội đƣợc những khái niệm đạo đức này, chúng ta
không thể chỉ thông qua những hoạt động cụ thể hoặc những sự vật, hiện tƣợng
trực quan đơn thuần mà phải có ngôn ngữ. Nhờ có ngôn ngữ mà các cháu có thể
thể hiện đầy đủ những nhu cầu, nguyện vọng và tình cảm của mình. Cũng nhờ
có ngôn ngữ mà các nhà giáo dục và các bậc cha mẹ có điều kiện để hiểu con
cháu mình hơn, để từ đó có thể uốn nắn, giáo dục và xây dựng cho các cháu
những tình cảm, hành vi đạo đức trong sáng nhất.
d. Vai trò của ngôn ngữ trong việc giáo dục thẩm mỹ
Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong quá trình tác động có mục đích, có hệ
thống nhằm phát triển ở trẻ năng lực cảm thụ cái đẹp và hiểu đúng cái đẹp trong
tự nhiên, trong đời sống xã hội, trong nghệ thuật, giáo dục cho trẻ lòng yêu cái
đẹp và năng lực tạo ra cái đẹp.
Thật vậy, trong cuộc sống hàng ngày, khi giao tiếp với ngƣời lớn, trẻ nhận

ngƣời lớn phải tập cho trẻ nói đúng cấu trúc câu: Có chủ ngữ, có vị ngữ, sử dụng
trạng từ, bổ ngữ phù hợp. Cần phải tạo nhiều tình huống, cơ hội để trẻ giao tiếp,
bộc lộ những ý muốn, hiểu biết của mình với ngƣời lớn, bạn bè bằng lời nói của
chính trẻ, quan sát trẻ nói với nhau qua đó sửa sai uốn nắn cho trẻ.
d. Phát triển ngôn ngữ mạc lạc
Trong quá trình giao tiếp và trong quá trình tổ chức cho trẻ hoạt động để kích
thích trẻ nói năng mạch lạc ngƣời lớn cần tạo điều kiện để trẻ nói rõ ràng, sắp
xếp các ý theo một trình tự hợp lý, nêu bật đƣợc các ý cần nhấn mạnh để ngƣời
nghe hiểu một cách dễ dàng.
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1. Tác phẩm thơ trong chƣơng trình “Chăm sóc – giáo dục trẻ Mầm
non” lứa tuổi 5 – 6

20
1.2.1.1. Đặc điểm các tác phẩm thơ trong chương trình “chăm sóc – giáo dục”
trẻ mẫu giáo 5 -6 tuổi
Các tác phẩm thơ nói chung và những tác phẩm thơ dành cho thiếu nhi nói
riêng đều thuộc nghệ thuật sáng tác văn học, vì vậy nó cũng mang đầy đủ đặc
điểm của sáng tác nghệ thuật ngôn từ. Nó thực hiện các chức năng chung của
văn học. Chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mĩ, chức
năng giao tiếp, chức năng giải trí. Các chức năng này không tồn tại tách rời, mà
gắn bó chặt chẽ với nhau trong mối quan hệ chuyển hoá lẫn nhau. Nhƣng do đối
tƣợng phục vụ chủ yếu là trẻ em nên nó có những đặc điểm đƣợc nhấn mạnh.
Trƣớc hết tính giáo dục đƣợc coi là một trong những đặc trƣng cơ bản nhất
của văn học thiếu nhi. Văn học thiếu nhi có vai trò vô cùng to lớn trong việc
giáo dục toàn diện nhân cách trẻ em, cả về đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ, bên cạnh
tính giáo dục thì khả năng khơi gợi, kích thích trí tƣởng tƣợng sáng tạo của trẻ
cũng là một đặc điểm không thể thiếu của văn học viết cho các em. Hơn bất cứ
loại hình nghệ thuật nào, sáng tác văn học thiếu nhi phải quan tâm tới đặc điểm
tâm lý của văn học thiếu nhi. Chính điều này cũng làm nên sự khác biệt giữa văn

- Ngỗng ơi! Học! Học!”

(Ngỗng và Vịt – Phạm Hổ)

“Bé này, bé ơi!
Đừng chơi đất cát
Hãy vào bóng mát
Khi trời nắng to
Sau lúc ăn no,
Đừng cho chân chạy
Mỗi sớm ngủ dạy
Rửa mặt đánh răng
Sắp đến bữa ăn rửa tay đã nhé!
Bé ơi! Bé này ”
( Bé ơi! – Phong Thu)
22
Sự ngắn gọn của những bài thơ viết cho trẻ lứa tuổi mầm non còn đƣợc thể
hiện ở ý nghĩa của từ vựng. Với cách miêu tả trực tiếp, trẻ có thể dễ dàng hình
dung ra và hiểu rõ sự việc, hiện tƣợng đƣợc thể hiện trong các tác phẩm.
* Về thể thơ
Các tác phẩm trong chƣơng trình đều viết dƣới dạng câu thơ ngắn, cụ thể là:
Thơ ba chữ: Anh xe lu, Ấm và chảo, Mười ngón tay, Bập bênh.
Thơ bốn chữ: Bé ơi, Lời chào, Không vứt rác ra đường, Mẹ và con
Thơ năm chữ: Ông mặt trời, Đi bừa, Con đường của bé, Cải chíp.
Thơ lục bát: Vườn cải, Em yêu nhà em, Cây cau, Ếch con học bài.
Với thể thơ ngắn gọn các tác phẩm thơ giúp trẻ dễ thuộc dễ nhớ qua đó tạo
hứng thú cho trẻ. Đây là điều kiện thuân lợi để giáo viên phát triển lời nói mạch

toàn diện. Thơ văn mang lại cho trẻ cái đẹp, cái cao quý, cái chân, cái thiện.
Phạm vi phản ánh của tác phẩm này rất phong phú, rộng rãi nhƣng là những
vấn đề rất cụ thể. Trƣớc hết lòng nhân ái đƣợc biểu hiện trong tình yêu thƣơng
giữa con ngƣời với con ngƣời.
Một trong những nội dung cơ bản của văn học thiếu nhi nói chung và thơ
nói riêng đều đề cập tới tình cảm gia đình với ông bà, cha mẹ, anh chị em.
VD: Mời trầu, Bà và cháu, Mẹ ốm…
“Mẹ ốm” là câu chuyện cảm động thể hiện tình yêu của con cái đối với mẹ.
Hình ảnh ngƣời con hết lòng chăm sóc, lo lắng, quan tâm, động viên khi ngƣời
mẹ mình bị ốm.
“Mẹ vui con có quản gì
Ngâm thơ kể chuyện, rồi thì múa ca
Rồi con diễn kịch giữa nhà
Một mình con sắm cả ba vai chèo”
Với tình cảm trong trẻo, ngây thơ, hồn nhiên của con ngƣời và niềm mong
mỏi luôn muốn cho mẹ khỏi ốm đƣợc thể hiện qua những vần thơ giản dị, mộc
mạc, chân thành.
“Con mong mẹ khỏe dần dần
Ngày ăn ngon miệng, đêm nằm ngủ say”

24
Thật cảm động biết bao trƣớc tình cảm đẹp đẽ của ngƣời con – một cậu bé
chƣa đầy 10 tuổi, chỉ bằng một câu thơ:
“Mẹ là đất nƣớc tháng ngày của con”
Đã nói lên biết bao tình cảm của ngƣời con dành cho ngƣời mẹ. Tình cảm
đó thật thiêng liêng cao cả, ngƣời mẹ trong suy nghĩ của con luôn là hình tƣợng
vĩ đại nhất, giữ vị trí vô cùng quan trọng, mẹ là nơi che chở, là cuộc sống của
con.
Tình cảm với thầy cô, bạn bè và những ngƣời lao động, những nguời có
công với đất nƣớc cũng là một nội dung đƣợc nhắc đến trong thơ Trần Đăng

VD:
Bài thơ: Con bướm vàng
Mở đầu bài thơ, tác giả viết một cách tự nhiên:
“Con bƣớm vàng!
Con bƣớm vàng!”

Lời thơ rất hồn nhiên nhƣ chính tiếng reo vui sƣớng của cậu học trò. Con
bƣớm nhƣ một nàng tiên “bay nhẹ nhàng” nổi bật lên “bên bờ có”. Gợi cho chú
bé tính tò mò thèm muốn đƣợc quan sát.
“Em thích quá
Em đuổi theo”.
Nhƣng tiếc thay:
“Con bƣớm vàng.
Có bộ cánh
Vút lên cao”
Để lại chú bé ngẩn ngơ bên đám cỏ xanh với bao nuối tiếc:
“Em nhìn theo.
Con bƣớm vàng!
Con bƣớm vàng.”
Hai câu thơ đầu và câu thơ cuối vẫn chỉ là ”Con bƣớm vàng” nhƣng diễn tả
hai tâm trạng khác nhau. Đó là tâm trạng của sự mời mọc thèm muốn và tâm
trạng của sự tiếc nuối, thất vọng. Lời thơ tự nhiên nhƣ lời kể chuyện, nhƣng lại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status