MỤC LỤC
STT
NỘI DUNG
TRANG
1
Mở đầu
1
2
Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2
2.1
Cơ sở lý luận
2
2.2
Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN
3
ngôn ngữ:
15
2.3.5
Biện pháp 5: Phối hợp giữa gia đình và nhà trường
17
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
18
Kết luận, kiến nghị
19
2.4
3
1. Mở đầu:
1.1. Lý do chọn đề tài:
Như chúng ta đã biết ngôn ngữ có vai trò vô cùng quan trọng đối với con
người. Ngôn ngữ được sử dụng như một phương tiện tư duy hay còn được hiểu
ngôn ngữ là “cái vỏ” của tư duy, là phương thức biểu đạt, nhờ có ngôn ngữ con
người có thể trao đổi cho nhau những kinh nghiệm, bày tỏ với nhau những
nguyện vọng và ý muốn và cùng nhau thực hiện những dự định của tương lai.
Ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời, đứa trẻ đã được tiếp xúc
với ngôn ngữ qua những lời trò chuyện, những câu hát ru của mẹ, ngôn ngữ của
nhiều thắc mắc trước những đồ vật, hiện tượng mà trẻ nhìn thấy, nghe thấy. Trẻ
luôn đặt ra rất nhiều câu hỏi như: Ai đây?, cái gì đấy?, con gì?, màu gì?….
Để giúp trẻ giải đáp được những thắc mắc hàng ngày, người lớn cần trả lời
những câu hỏi của trẻ rõ ràng, ngắn gọn đồng thời cần cung cấp cho trẻ thêm về
những hiểu biết về thế giới xung quanh bằng ngôn ngữ giao tiếp mạch lạc.
Chính vì vậy mà mỗi giáo viên như chúng tôi chăm sóc giáo dục trẻ mà còn chú
trọng đến việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Bởi
ngôn ngữ là phương tiện để trẻ tiếp thu kiến thức về thế giới xung quanh được
dễ dàng và hiệu quả nhất.
1.3: Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu tổng hợp một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhà trẻ
đặc biệt là nghiên cứu trẻ 25 - 36 tháng tuổi.
2
1.4: Phương pháp nghiên cứu:
Các phương pháp pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhà trẻ 25 - 36 tháng
bao gồm: Nhóm phương pháp trực quan; nhóm phương pháp dùng lời; nhóm
phương pháp thực hành; phương pháp trò chuyện; phương pháp giảng giải.
Ngoài ra tôi còn sử dụng thêm một số phương pháp khác để bổ sung cho
quá trình nghiên cứu của đề tài.
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loài
người, ngôn ngữ giúp trẻ bày tỏ ý kiến, đặt câu hỏi, phân loại và phát triển cách
tư duy và tạo nên cầu nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai.
Trong cuộc sống của mỗi chúng ta ai cũng phải sử dụng ngôn ngữ để giao
tiếp với mọi người xung quanh và ngôn ngữ chính là phương tiện cho việc dạy
và học. Đối với trẻ mầm non thì qua giao tiếp bằng ngôn ngữ trẻ tiếp thu được
nhiều kinh nghiệm sống làm phong phú thêm sự hiểu biết của trẻ cụ thể như trẻ
cách tự phát trong quá trình bắt chước lời nói của ông bà, bố mẹ, cô giáo… kết
quả là ngôn ngữ của trẻ được hình thành. Do đó nhiệm vụ của người giáo viên là
tổ chức xây dựng môi trường ngôn ngữ, tổ chức các hoạt động để trẻ được nghe,
được bắt chước và được nói một các chuẩn mực nhất.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1. Thuận lợi:
Trường mầm Cẩm Tú được quy hoạch theo đúng quy định điều lệ trường
mầm non, các lớp đảm bảo an toàn, sạch đẹp, có ánh sáng đủ và hợp lý, thoáng
mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, Nằm ở trung tâm khu dân cư cách xa các
sông hồ lớn, sân trường bằng phẳng, rộng rãi có nhiều cây xanh và bóng mát,
không bị lầy lội, ứ đọng nước khi trời mưa.
Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ban giám hiệu nhà trường rất quan tâm tạo
điều kiện về mọi mặt.
Trong năm học 2016 - 2017 tôi được phân công phụ trách dạy và chăm sóc
các cháu độ tuổi 25 - 36 tháng, lớp tôi có 12 cháu được phân chia theo đúng độ
tuổi. Trẻ đi học đều và các cháu ăn ở bán trú 100% tại trường.
Trường chúng tôi đang thực hiện chương trình giáo dục mầm non đa số các
cháu rất hứng thú tham gia các hoạt động.
Lớp có diện tích rộng rãi, thoáng mát, có đủ đồ dùng dồ chơi phục vụ cho
việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ phong phú, đa dạng về màu sắc, hình ảnh thu
hút trẻ tích cực hoạt động.
Bản thân tôi cũng đựơc sự giúp đỡ của BGH và các đồng nghiệp tạo điều
kiện cho tôi vững vàng trong công tác dạy và chăm sóc trẻ của nhóm, tôi luôn
học hỏi và phấn đấu bản thân để nâng cao trình độ chuyên môn của mình.
2.2.2. Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi trên bản thân tôi khi thực hiện đề tài này cũng
gặp một số khó khăn như:
Ở địa bàn xã tôi các cháu đến độ tuổi này mới bắt đầu đi học nên còn quấy
khóc nhiều chưa thích nghi với điều kiện sinh hoạt ở lớp nên còn lạ lẫm, bỡ ngỡ.
Ở lớp còn 70 % trẻ phát âm chưa chính xác còn hay nói ngọng, nói lắp ví
Vốn từ
2
TB
%
%
Số
Trẻ
%
2
16,6
5
41,6 3
25
16,6
2
16,6
16,6
4
33,3 4
25
Số
trẻ
2
Số
trẻ
2. 3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Trẻ ở lứa tuổi 25 - 36 tháng còn nhỏ vì thế nên các cháu rất hiếu động.Trẻ
thích tìm tòi khám phá mọi thứ xung quanh, trẻ thường hay thắc mắc trước
những đồ vật, hiện tượng mà trẻ nhìn thấy, nghe thấy trẻ và thường đặt ra câu
hỏi như: Ai đây?, cái gì đây?, con gì đây? Màu gì?...
Để giải đáp được những thắc mắc hàng ngày người lớn cần trả lời những
câu hỏi của trẻ rõ ràng, ngắn gọn, đồng thời cần cung cấp cho trẻ thêm những
hiểu biết thêm về thế giới xung quanh bằng ngôn ngữ giao tiếp mạch lạc. Chính
vì vậy mà mỗi giáo viên chăm sóc và giáo dục trẻ cần chú trọng đến việc phát
triển ngôn ngữ cho trẻ, đó chính là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu.
Ở lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhà trẻ là giáo dục cho trẻ khả năng
nghe, hiểu ngôn ngữ và phát âm chuẩn, phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ
pháp, phát triển ngôn ngữ mạch lạc, giáo dục văn hoá giao tiếp lời nói. Ngoài ra
ngôn ngữ còn là phương tiện phát triển thẩm mỹ, tình cảm, đạo đức. Đặc biệt
góc này các bạn nhỏ sẽ thấy những hình ảnh các chú công nhân đang xây dựng.
Cô giáo khi cho các cháu đến góc xây dựng có thể trò chuyện cùng trẻ về chú
công nhân đang xây nhà:
- Ai đây các con?
- Chú công nhân đang làm gì?
- Áo chú công nhân mặc màu gì?
- Tay chú công nhân đang cầm gì đây?
Mỗi câu cô hỏi trẻ yêu cầu trẻ trả lời nếu trẻ trả lời còn bị lắp hoặc ngọng
cô sửa sai cách phát âm cho trẻ.
Còn ở góc “ Bé đến lớp” cô trang trí những bông hoa có gắn hình ảnh của các
bạn trong lớp, mỗi khi đến cô cho trẻ đến lấy ảnh của mình gắn lên bông hoa và
6
trò chuyện về tên các bạn trong lớp để trẻ nhớ tên các bạn của mình hơn.
Hình ảnh góc bé đến lớp
Ở bên ngoài của lớp cũng là một không gian lý tưởng với nhứng ánh nắng
và gió tôi tận dụng làm góc thiên nhiên của lớp nơi mà các bạn mỗi ngày cùng
cô trồng và chăm sóc cây hoa. Sau mỗi giờ học tôi và trẻ cùng nhau ra góc
thiên nhiên để tưới cho hoa và cùng trò chuyện các loại cây và hoa:
- Cây hoa gì đây con?
- Hoa nhài có màu gì đây?
- Lá có màu gì?
- Còn đây là cây gì?
- Chúng mình làm gì để bảo vệ hoa?
Sau mỗi lần đặt câu hỏi cho trẻ trả lời tôi đều củng cố lại để trẻ hiểu rõ và
khắc sâu hơn.
Ngoài ra việc trang trí lớp học hầu hết trẻ rất yêu thích đến trường vì nó
Bạn nào giỏi nói cho cô và các bạn biết con tôm có những bộ phận gì nào?
Cô chỉ từng bộ phận của con tôm như: chân tôm, mắt tôm, râu, đuôi…và
hỏi trẻ để trẻ trả lời.
Đố các bạn biết con tôm sống ở đâu? (Sống ở dưới nước)
Trong khi trẻ trả lời cô phải chú ý đến câu trả lời của trẻ. Trẻ phải nói được
cả câu theo yêu cầu câu hỏi của cô. Nếu trẻ nói cộc lốc, thiếu từ hoặc nói ngọng
thì cô phải sửa ngay cho trẻ.
Ví dụ: Bài nhận biết “Xe đạp”
Khi vào bài để gây hứng thú cho trẻ tôi đọc câu đố:
“Xe gì hai bánh
Đạp chạy bon bon
Chuông kêu kính coong
Đưng yên thì đổ”
Đó là xe gì? ( Xe đạp)
Trẻ trả lời đó là xe đạp sau đó tôi đưa chiếc xe đạp cho trẻ xem và hỏi:
+ Cô có xe gì đây? (Xe đạp ạ)
8
+ Bạn nào giỏi cho cô biết xe đạp có những bộ phận gì? (Cô chỉ
từng bộ phận của xe cho trẻ trả lời)
+ Xe đạp có mấy bánh? (hai bánh ạ)
+ Xe đạp đi ở đâu? (Xe đạp đi ở trên đường ạ)
+ Xe đạp dùng để làm gì? (Dùng để đi ạ)
+ Chuông xe đạp kêu như thế nào? (kính koong a...)
Cứ như vậy tôi đặt hệ thống câu hỏi từ tổng thể đến chi tiết, từ dễ đến khó
để trẻ trả lời nhằm kích thích trẻ phát triển tư duy và ngôn ngữ cho trẻ, qua đó
giáo dục trẻ về an toàn giao thông khi đi trên đường.
* Phát triển ngôn ngữ qua giờ thơ, chuyện:
ngôn ngữ của mình.
- Cô vừa kể cho các con nghe câu chuyện gì? (Thỏ con không vâng lời)
- Trong câu chuyện có những nhân vật nào? (Thỏ mẹ, thỏ con, bươm bướm,
bác gấu ạ)
- Thỏ mẹ dặn thỏ con điều gì?
- Ai đã đến rủ thỏ con đi chơi?
- Chuyện gì đã xảy ra với thỏ con?
- Bác gấu làm gì và giúp thỏ con?
- Được gặp lại mẹ thỏ con nói với mẹ như thế nào?
Hoặc là khi cô đọc cho trẻ đọc bài thơ: “Cây bắp cải” Tôi giải thích cho trẻ:
Các con nhìn này: Đây là cây bắp cải mà hàng ngày mẹ vẫn mua về để nấu cho
các con ăn đấy. Các con nhìn xem lá bắp cải rất to có màu xanh và khi cây bắp
cải càng lớn thì lá càng cuộn thành vòng tròn xếp chồng lên nhau lá non thì nằm
ở bên trong được bao bọc bằng những lớp lá già ở ngoài đấy. Bên cạnh đó tôi
cũng chuẩn bị câu hỏi để trẻ trả lời:
- Cô vừa đọc cho các con nghe bài thơ gì? (Cây bắp cải ạ)
- Cây bắp cải trong bài thơ có màu gì? (Xanh man mát)
10
- Còn lá bắp cải được nhà thơ miêu tả ra sao? (Sắp vòng quanh ạ)
- Búp cải non thì nằm ở đâu? (Nằm ở giữa ạ)
Qua bài thơ ngoài những từ ngữ trẻ đã biết tôi lại cung cấp thêm vốn từ
mới cho trẻ để ngôn ngữ của trẻ thêm phong phú.
Như vậy thơ truyện không những kích thích phát triển nhận thức của trẻ mà
còn phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách toàn diện. Trẻ nhớ nội dung câu truyện
và biết sử dụng ngôn ngữ nói là phương tiện để trả lời, trò chuyện, tiếp thu kiến
thức. Từ đó giúp vốn từ của trẻ cũng được nâng lên rõ rệt.
* Thông qua giờ âm nhạc:
Hoạt động âm nhạc cũng là hoạt động nhằm cung cấp vốn ngôn ngữ của
2.3.3: Biện pháp 3: Giáo dục ngôn ngữ qua các hoạt động khác trong
ngày.
* Giờ đón trẻ:
Như ta đã biết giờ đón trẻ là thời điểm cần tạo không khí vui vẻ, giúp lôi
cuốn trẻ tới trường, tới lớp quan trọng nhất là cô giáo phải thật gần gũi, tích cực
trò chuyện với trẻ. Vì trò chuyện với trẻ là hình thức dễ dàng và nhẹ nhàng để
cung cấp vốn từ cho trẻ và phát triển ngôn ngữ cho trẻ, đặc biệt là ngôn ngữ
mạch lạc. Bởi qua cách trò chuyện với trẻ cô mới có thể cung cấp, mở rộng vốn
từ cho trẻ.
Ví dụ: Cô trò chuyện với trẻ về những người thân trong gia đình:
+ Con kể cho cô và các bạn nghe gia đình con có những ai?
+ Bố con tên gì?
+ Mẹ con tên gì?
+ Bố con làm nghề gì?
+ Sáng nay ai đưa con đi học?
+ Đến lớp con chào ai?
Hình ảnh cô đang đón trẻ vào lớp.
Khi trẻ trò chuyện với cô, được cô hướng dẫn, động viên trẻ trong khi trò
chuyện giúp trẻ tự tin hơn trong giao tiếp, từ đó giúp cho vốn từ của trẻ trở nên
phong phú hơn, ngôn ngữ của trẻ nhờ đó mà được mở rộng và phát triển hơn.
Ngoài ra trong giờ đón trẻ, trả trẻ tôi luôn nhắc trẻ biết chào ông, bà, bố, mẹ
như vậy sẽ kích thích trẻ trả lời câu trọn vẹn bên cạnh đó giáo dục trẻ có thói
quen lễ phép, biết vâng lời người lớn.
12
Ví dụ: Trẻ mới đi học thường hay nói chưa đủ câu hoặc khi cô giáo hỏi thì
Hoạt động chơi là một trong những hoạt động rất quan trọng trong việc phát
triển ngôn ngữ cho trẻ. Đây có thể coi là một hình thức quan trọng nhất, bởi giờ
chơi có tác dụng rất lớn trong việc phát triển vốn từ, đặc biệt là tích cực hoá vốn
từ cho trẻ.Thời gian chơi của trẻ chiếm nhiều nhất trong thời gian trẻ ở nhà trẻ,
là thời gian trẻ được chơi thoải mái nhất. Trong qúa trình trẻ chơi sử dụng các
loại từ khác nhau để giao tiếp, có điều kiện học và sử dụng các từ có nội dung
phong phú, đa dạng hơn.
Ví dụ: Trò chơi trong góc trẻ chơi trò chơi “Thao tác vai” trẻ được chơi với
em búp bê và khi trẻ chơi sẽ giao tiếp với các bạn bằng ngôn ngữ hàng ngày.
+ Bác đã nấu cơm cho búp bê ăn chưa?
+ Bác lau mặt cho búp bê chưa?
+ Bác xúc cơm cho búp bê nào.
+ Nào bây giờ mẹ ru cho búp bê ngủ nhé
+Trẻ ôm búp bê vào lòng và ru búp bê
Qua giờ chơi cô không những dạy trẻ kỹ năng sống mà còn dạy trẻ nghe,
hiểu giao tiếp cùng nhau và trao cho nhau những tình cảm yêu thương, gắn bó
tình cảm của con người.
Ví dụ 2: Trong góc “Hoạt động với đồ vật” ở chủ đề “Đồ chơi của bé” tôi
có thể giúp trẻ xâu các hột hạt lại tạo thành những chiếc vòng xinh xắn. Và khi
trẻ đang xâu vòng tôi luôn bao quát trẻ xâu và luôn động viên khuyến khích trẻ
xâu thật nhiều những chiếc vòng thật ngộ nghĩnh để tặng bạn búp bê.
+ Chúng mình hãy cùng nhau xâu thật nhiều chiếc vòng nhé.
+ Quang ơi, con đang xâu gì vậy? (con đang xâu vòng ạ)
+ Con xâu vòng để làm gì?
+ Vòng con xâu có màu gì vậy?
+ Con cầm dây bằng tay gì?
+ Con xâu vòng bằng gì đấy?(con xâu bằng dây ạ)
14
(Để múa, để xúc cơm, để tô màu ạ….)
Trong khi cho trẻ ăn cô luôn động viên khuyến khích trẻ ăn hết xuất của
mình và trò chuyện cùng trẻ:
+ Hôm nay chúng mình ăn cơm với thịt bò nấu củ quả nhé.
+ Bạn Anh Huy tự xúc ăn giỏi nào, con ăn cơm với gì đấy? (Con ăn
cơm với thịt bò ạ)
+ Bạn Hải giỏi quá con ăn được mấy bát cơm rồi?
+ Khi ăn cơm con có nói chuyện hay đùa nghịch trong lúc ăn không?
Hình ảnh trẻ ăn cơm
* Khi thay quần áo cho trẻ cô cũng cần vỗ về trẻ:
+ Cô Hồng mặc áo đẹp cho Lan Chi nhé? (Vâng ạ)
+ Ai mua áo đẹp này cho con? (Mẹ Vân ạ)
+ Mẹ mua áo đẹp này ở đâu? (ở chợ ạ)
2.3.4: Biện pháp 4: Lồng ghép giáo dục ngôn ngữ qua các trò chơi dân
gian
Đối với trẻ nhà trẻ, được phát triển ngôn ngữ thông qua trò chơi cũng là
một biện pháp tốt. Trò chơi đã trở thành phương tiện để cung cấp, tích luỹ được
16
nhiều vốn từ và trên cơ sở hiểu biết đầy đủ ý nghĩa của những từ đó trẻ biết sử
dụng “số vốn từ ” đó một cách thành thạo.
Qua trò chơi trẻ sẽ được giao tiếp mạnh dạn hơn, ngôn ngữ cũng lưu loát
hơn và tôi nhận thấy rằng khi thông qua trò chơi giúp trẻ hứng thú hơn khi tiếp
thu các bài học, khiến thức của trẻ được tiếp thu một cách nhẹ nhàng và thoải
mái hơn.
Bản thân tôi đã tìm tòi, tham khảo, đọc những tài liệu sách và tôi thấy rằng
trò chơi này thực sự có hiệu quả làm tăng thêm vốn từ cho trẻ, từ đó ngôn ngữ
đình phải quan tâm đến con em của mình nắm bắt được những đặc điểm của con
em mình để trao đổi với cô giáo để có biện pháp phát triển ngôn ngữ một cách
tốt nhất.
Để vốn từ của trẻ phát triển tốt không thể thiếu được đó là sự đóng góp của
gia đình. Việc giáo dục trẻ ở gia đình là rất cần thiết tôi luôn kết hợp chặt chẽ
với phụ huynh trao đổi thống nhất về cách chăm sóc nuôi dưỡng trẻ và kế hoạch
lịch sinh hoạt dạy học cho từng tháng, từng tuần cho phụ huynh nắm bắt được.
Vì đây là trẻ nhà trẻ, trẻ bắt đầu tập nói tôi trao đổi với phụ huynh về ý
nghĩa phát triển vốn từ cho trẻ và yêu cầu phụ huynh cùng phối hợp với cô giáo
trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Hàng ngày phụ huynh phải dành nhiều
thời gian thường xuyên trò chuyện cùng trẻ, cho trẻ được tiếp xúc nhiều hơn với
các sự vật hiện tượng xung quanh, lắng nghe và trả lời các câu hỏi của trẻ.
Ví dụ: Ở nhà mẹ có thể trò chuyện với con về những điều con học được ở
trường như:
- Con học với cô giáo gì?
- Hàng ngày cô giáo dạy con những điều gì?
Ở lớp con có những bạn nào?
- Các con chơi có vui không?
Cứ như vậy trẻ sẽ trả lời các câu hỏi rõ ràng hơn không còn nói ngọng nữa.
Hoặc tôi trao đổi với phụ huynh về những câu chuyện, bài thơ mà trẻ được học ở
lớp yêu cầu phụ huynh về nhà cho trẻ đọc lại những bài thơ, kể lại một số lời
thoại đơn giản, ngắn gọn của các nhân vật trong truyện mà trẻ được học.
Đối với những cháu mới đi học vốn từ của trẻ còn hạn hẹp, hơn nữa trẻ còn
hay nói ngọng, nói lắp thì vai trò của phụ huynh trong việc phối hợp với cô giáo
18
trong việc trò chuyện với trẻ là rất cần thiết bởi nó giúp trẻ được vận dụng
những kiến thức đã học vào cuộc sống của trẻ, trẻ được giao tiếp, được sửa âm,
sửa ngọng.
ngôn ngữ của trẻ lứa tuổi nhà trẻ trong năm học tôi thấy ngôn ngữ của các cháu
trong lớp tôi tăng lên rõ rệt và đạt được kết quả như sau:
* Đối với phụ huynh:
19
Phụ huynh quan tâm đến việc phát triển ngôn ngữ cho con em mình hơn.
Việc trao đổi với giáo viên về tình hình của trẻ thường xuyên hơn. Quan tâm đến
việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở tại nhà.
Phụ huynh rất phấn khởi, hài lòng trước sự tiến bộ rõ rệt của con em mình,
vì con mình đã nói được mạch lạc hơn, rõ ràng hơn và tự tin hơn khi giao tiếp
với những người xung quanh mà không cần đến cô giáo và bố mẹ giúp đỡ đó là
điều mà nhiều phụ huynh rất mừng.
Bảng thống kê kết quả đạt được
Khảo sát cuối năm
Đạt
Tốt
Phân loại khả năng
Khá
Chưa đạt
TB
Số
trẻ
17
0
0
Vốn từ
9
75
2
17
1
8,3
0
0
Khả năng nói đúng
ngữ pháp
8
0
3: Kết luận, kiến nghị.
* Kết luận:
Bài học kinh nghiệm:
Để có được kết quả trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua quá trình
thực hiện tôi rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
Giáo viên cần hiểu rõ tầm quan trọng của ngôn ngữ với việc hình thành và
phát triển nhân cách cho trẻ, không ngừng học tập để nâng cao trình độ chuyên
môn, rèn luyện ngôn ngữ của mình để phát âm chuẩn.
Làm giầu vốn từ của trẻ qua việc hướng dẫn trẻ quan sát, vui chơi, kể
truyện và đọc truyện cho trẻ nghe.
20
Tích cực làm đồ dùng đồ chơi sáng tạo hấp dẫn với trẻ và phù hợp với nội
dung của bài dạy.
Luôn tạo không khí vui tươi, thoải mái cho trẻ, tạo điều kiện quan tâm đến
những trẻ nhút nhát, dành thời gian gần gũi trò chuyện với trẻ để trẻ mạnh dạn,
tự tin tham gia vào các hoạt động tập thể giúp trẻ được giao tiếp nhiều hơn.
Cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa cô giáo và phụ huynh để nắm được đặc
điểm tâm sinh lý của trẻ từ đó có kế hoạch phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Tổ chức nhiều trò chơi sử dụng ngôn ngữ để trẻ được phát triển ngôn ngữ
một cách tốt nhất.
Cô giáo tạo điều kiện cho trẻ nghe nhiều và nói chuyện nhiều với trẻ, luôn
tìm cách thúc đẩy trẻ sử dụng ngôn ngữ một cách chủ động.
Tích cực cho trẻ làm quen với thiên nhiên để phát triển khả năng quan sát,
giúp trẻ củng cố và tư duy hoá các biểu tượng bằng ngôn từ.
Khả năng nhận định của sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp
phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhà trẻ 25 - 36 tháng”. Đây là một việc làm
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Điều lệ trường MN – ban hành theo QĐ số 14/2008/QĐ – BGDĐT
1- Tuyển chọn những trò chơi, bài hát, thơ ca, câu đố theo chủ đề.
2- Hướng dẫn thực hiện chương trình GDMN trẻ 25 - 36 tháng.
3- Các trò chơi và hoạt động cho trẻ 25- 36 tháng.
5- Tạp chí giáo dục mầm non
6- Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên. Nội dung bồi dưỡng 2.
7- Tài liệu đào tạo giáo viên mầm non.
22
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Hà Thị Hồng
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường mầm non Cẩm Tú.
TT
1.
Tên đề tài SKKN
Cấp đánh giá
xếp loại (Phòng,
Sở, Tỉnh...)
Xếp loại: ………………………………………………………………………….
ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI SKKN CỦA HĐKH PHÒNG GIÁO DỤC
24
...
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
Xếp loại: …………………………………………………………………………
25