Mục lục
TT
Nội dung
Trang
Mục lục
1
Phần mở đầu
1
1.1
Lý do chọn đề tài
2
1.2
Mục đích nghiên cứu
3
1.3
Đối tượng nghiên cứu
3
Khó khăn
3
*
Kết quả khảo sát
4
2.3
Các biện pháp tổ chức thực hiện
5
2.4
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
15
3
Phần kết luận - kiến nghị
16
3.1
cách tốt cho trẻ, việc phát triển ngôn ngữ tốt cho trẻ trong giao tiếp sẽ giúp
cho trẻ dễ dàng tiếp cận với các môn học khác như : Môn toán, môn tạo
hình, chữ cái, môn âm nhạc ...đặc biệt cho trẻ làm quen với văn học thông
qua hoạt động kể chuyện ở lứa tuổi nhà trẻ, là tạo môi trường để trẻ tham
gia nhiều hoạt động phong phú để trẻ mạnh dạn tự tin hơn, từ đó, phát
triển vốn từ luyện phát âm và là tiền đề dạy trẻ nói đúng ngữ pháp,nói
mạch lạc khi sang tuổi mẫu giáo. Ngôn ngữ của trẻ phát triển tốt sẽ giúp
cho trẻ nhận thức và giao tiếp tốt góp phần quan trọng vào việc hình thành
và phát triển nhân cách cho trẻ sau này.
Trong quá trình phát triển toàn diện nhân cách, ngôn ngữ có vai trò đăc
biệt là một phương tiện hình thành và phát triển nhận thức của trẻ về thế giới
xung quanh. Ngôn ngữ giúp trẻ tìm hiểu, khám phá và nhận thức về môi
trường xung quanh, thông qua cử chỉ và lời nói của người lớn, trẻ làm
quen với các sự vật, hiện tượng có trong môi trường xung quanh, trẻ hiểu
những đặc điểm, tính chất, công dụng của các sự vật cùng với từ tương
ứng với nó. Nhờ có ngôn ngữ trẻ nhận biết ngày càng nhiều các sự vật,
hiện tượng mà trẻ được tiếp xúc trong cuộc sống hàng ngày.
Ngoài ra, ngôn ngữ còn là phương tiện phát triển tình cảm, đạo đức,
thẩm mĩ. Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp quan trọng nhất đặc biệt là
đối với trẻ nhỏ, đó là phương tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những
người xung quanh hình thành những cảm xúc tích cực. Ngôn ngữ là công
cụ giúp trẻ hoà nhập với cộng đồng và trở thành một thành viên của cộng
đồng. Nhờ có những lời chỉ dẫn của người lớn mà trẻ dần dần hiểu được
những quy định chung của cộng đồng mà mọi thành viên trong cộng đồng
phải thực hiện, mặt khác trẻ cũng có thể dùng ngôn ngữ để bày tỏ những
nhu cầu mong muốn của mình với các thành viên trong cộng đồng, điều
đó giúp trẻ hoà nhập với mọi người.
2
khích trẻ hoạt động một cách chủ động, tích cực, hồn nhiên vui tươi. Đồng
thời, tạo điều kiện cho giáo viên phát huy khả năng sáng tạo trong việc lựa
chọn và tổ chức các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ một cách linh hoạt,
thực hiện phương châm “Học bằng chơi – Chơi mà học” đáp ứng mục tiêu
phát triển của trẻ một cách toàn diện về mọi mặt. Chính vì vậy, nên tôi chọn
đề tài : “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 25 - 36 tháng
tuổi thông qua hoạt động kể chuyện”.
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu thực trạng và một số biện pháp phát triển ngôn ngữ
cho trẻ 24-36 tháng tuổi thông qua hoạt động kể chuyện, giúp phát triển
cho trẻ khả năng hiểu ngôn ngữ, tự tin, bước đầu có khả năng sử dụng từ
trong giao tiếp đơn giản .
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
3
“ Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 25-36 tháng tuổi thông
qua hoạt động kể chuyện.”
1.4 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu lý luận: đọc các giáo trình, tài liệu có liên
quan đến phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhà trẻ. Tham khảo sách báo, tạp chí,
Internet và các phương tiện thông tin đại chúng, về các hình thức phát
triển ngôn ngữ cho trẻ nhà trẻ.
* Phương pháp thực nghiệm: thực nghiệm các biện pháp phát triển
ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuổi thông qua hoạt động kể chuyện.
* Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu nhập thông tin: Khảo sát
thực tế các biện pháp dạy trẻ 25-36 tháng tuổi thông qua hoạt động kể
chuyện và mọi lúc mọi nơi.
* Phương pháp thống kê, xử lý số liệu.
* Phương pháp trực quan, dùng lời: Lời nói cụ thể và có thực hành của
những người thân và những người xung quanh trẻ. Biết làm những việc
tốt, biết yêu cái đẹp, yêu cái thiện ghét cái ác, lòng biết ơn và kính yêu
Bác Hồ...Ngoài ra ngôn ngữ còn là phương tiện hình thành phẩm chất đạo
đức trong sáng, mà đặc biệt, trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ thì vốn từ và ngôn ngữ
của trẻ phát triển rất mạnh mẽ nên cần phải được quan tâm và chú trọng
một cách nghiêm túc.
- Cơ sở thực tiễn :
Qua thực tiễn giảng dạy chương trình chăm sóc giáo dục trẻ ở nhóm
lóp nhà trẻ 25-36 tháng tuổi từ năm 2015 - 2016 đến nay. Cùng với sự đổi
mới của giáo dục mầm non, tôi nhận thấy rằng việc nâng cao chất lượng
chăm sóc giáo dục trẻ ở từng độ tuổi là hết sức cần thiết. Việc nâng cao
tạo ra chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở từng độ tuổi đòi hỏi người giáo
viên, hoặc người chăm sóc trẻ phải thật sự am hiểu chương trình, phương
pháp giáo dục mầm non mang tính quốc gia. Cơ sở vật chất, trang thiết bị
và sự linh động trong việc tổ chức các sinh hoạt cho trẻ, bố trí thời gian
hợp lý cộng với sự nhạy bén yêu nghề, mến trẻ, hiểu được tâm sinh lý của
trẻ ở từng độ tuổi của mỗi giáo viên, là yếu tố quan trọng dẫn đến sự thành
công của việc nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục ở từng độ tuổi,
từng bộ môn và cụ thể ở đây là môn phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua
hoạt động kể chuyện –lứa tuổi nhà trẻ 25-36 tháng tuổi.
- Dựa vào đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ, ta thấy :
* Sinh lý:
Trong sự phát triển về ngôn ngữ của trẻ thì đây là giai đoạn bắt đầu
của ngôn ngữ chủ động. Do vậy, trong quá trình phát triển ngôn ngữ trẻ
còn mắc một số hạn chế sau:
+ Phát âm chưa chính xác hay ngọng : chữ c – ch; n – ng; dấu ngã dấu sắc; dấu hỏi – dấu nặng.
+ Đồng thời, do vốn kinh nghiệm còn ít ỏi nên trẻ còn nhầm lẫn, khi
tri giác,trẻ chủ yếu dựa vào những đặc điểm bên ngoài để nói.
+ Một số đặc điểm nữa là, trẻ giai đoạn tuổi này, tư duy trực quan
hành động cụ thể là chủ yếu, nghĩa là lời nói luôn luôn gắn liền với mọi
hồn nhiên, đạt yêu cầu về phát triển thể chất và các lĩnh vực khác. Đó là
một thuận lợi lớn để tôi rèn luyện phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhà trẻ
thông qua hoạt động kể chuyện. Ngoài ra, nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ
cho trẻ lứa tuổi này còn được thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi trong sinh hoạt
hằng ngày của trẻ.
+ Khó khăn :
- Do sự phát triển của trẻ không đồng đều, có một số cháu lúc đầu đến
lớp vẫn chưa có được vốn ngôn ngữ cần thiết mà độ tuổi cần đạt được,
một số cháu mới nói được một số từ ngữ đơn giản, trẻ phát âm chưa rõ,
còn nói ngọng nhiều, chưa diễn tả được ý hiểu của mình đối với người
khác
- Sự quan tâm của gia đình dành cho các cháu là không đồng đều. Kiến
thức dạy trẻ phát triển ngôn ngữ trong độ tuổi nhà trẻ của các bậc phụ
huynh còn nhiều hạn chế.
- Kinh nghiệm sống của trẻ chưa có nhiều, nhận thức hạn chế, dẫn đến
tình trạng trẻ dùng từ không chính xác, câu lủng củng. Trẻ nói, phát âm do
ảnh hưởng ngôn ngữ của người lớn xung quanh, trẻ nói tiếng địa
phương ...
- Đa số phụ huynh làm công chức có ảnh hưởng ít nhiều trong việc
dành thời gian trò chuyện với trẻ và nghe trẻ nói. Phụ huynh thường chiều
theo ý của trẻ... đây cũng là một trong những nguyên nhân của việc chậm
phát triển ngôn ngữ.
6
- Một số trẻ mới đi học còn khóc nhè, còn nhút nhát, chưa mạnh dạn,
tự tin nhất là nơi đông người.
+ Kết quả của thực trạng
Kết quả khảo sát chất lượng đầu năm học 2016 - 2017 tại lớp Mầmtrường mầm non Trường Thi B như sau :
%
10
33
5
17
7
8
27
23
BẢNG ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI LẦN 1
Từ thực tế trên, nên tôi mạnh dạn đưa ra“Một số biện pháp phát triển
ngôn ngữ cho trẻ từ 25 - 36 tháng tuổi thông qua giờ kể chuyện”.
2.3. Các biện pháp tổ chức thực hiện
2.3.1. Chuẩn bị và sử dụng đồ dùng học cụ phong phú, sáng tạo thu hút
sự chú ý của trẻ.
Để có giờ dạy tốt, thu hút sự chú ý và gây hứng thú cho trẻ, làm tăng
thêm hiệu quả của giờ dạy thì trước hết, việc chuẩn bị đồ dùng học cụ là
hết sức cần thiết. Tôi để ý sưu tầm, nghiên cứu và cải tạo sử dụng các
nguyên liệu mở hoặc vật liệu phế thải như : vải vụn, bông mút, thanh tre,
bìa cứng, gỗ, hộp xốp, đất ...để làm thành những con vật xinh xắn, những
Ngoài ra, việc sưu tầm, làm thêm một số đồ dùng đồ chơi phục vụ cho
giờ kể chuyện là không thể thiếu. Chính vì vậy tôi sưu tầm các nguyên
liệu vật liệu có sẵn ở địa phương như; sách báo, lịch cũ, ống lon, chai
nhựa, xốp, vải vụn, cành cây khô, sau đó cùng trẻ tạo ra những học cụ, đồ
dùng phục vụ cho giờ kể chuyện. Từ những quần áo, vải vụn, ống giấy,
thật xinh xắn. Từ câu truyện cổ tích trẻ được học, được nghe, tôi sáng tạo
ra những nhân vật trẻ thích.
Ví dụ: Tôi đã làm đồ dùng, đồ chơi tự tạo từ những quả bóng và những
mảnh vải vụn để thành những con rối rất đẹp, phục vụ cho các câu chuyện
mà tôi kể cho trẻ như: Truyện: “ Đôi bạn nhỏ” dùng (Rối gà, rối vịt);
Truyện “ Thỏ con không vâng lời” dùng ( Rối gấu, rối thỏ mẹ, thỏ con);
Truyện “ Cá và chim” dùng ( Rối cá, rối chim)....
+ Khi kể chuyện tôi dùng những tranh ảnh sáng tác màu sắc đẹp để
gây hứng thú cho trẻ nghe, xem, hướng dẫn trẻ bước đầu tập làm quen
cách sử dụng và có ý thức giữ gìn đồ dùng, đồ chơi .
9
Một số đồ dùng học cụ môn kể chuyện
2.3.2. Sử dụng các thiết bị dạy học hiện đại phù hợp như: micro cài,
máy chiếu…
- Khi sử dụng các thiết bị hỗ trợ cho việc kể chuyện, tôi thấy trẻ rất
hứng thú, vì trẻ được nghe trọn vẹn giọng kể thể hiện tính chất của các
nhân vật trong truyện, từ đó sẽ hấp dẫn cuốn hút trẻ hơn. Bởi khi kể qua
micro, giọng của người kể sẽ rất rõ ràng khiến việc điều chỉnh âm lượng
theo tính cách của các nhân vật và tính chất của câu truyện dễ hơn, phù
hợp hơn.
kỹ đề tài nội dung câu chuyện, để tìm ra giọng kể phù hợp và đặt ra được
hệ thống câu hỏi mở, kích thích sự hứng thú hoạt động của trẻ.
Ví dụ: Trong câu chuyện “Thỏ con không vâng lời”, tính cách của
thỏ con: Ham chơi không vâng lời mẹ.
- Khi đã tìm hiểu kỹ nội dung, tính cách của từng nhân vật trong câu
chuyện thì cần phải tìm ngữ điệu cho từng nhân vật trong câu chuyện đó
phù hợp để khi kể câu chuyện đó được diễn cảm hơn.
Ví dụ: Trong câu chuyện “ Chú vịt xám”
+ Giọng người dẫn chuyện: Đầm ấm, nhẹ nhàng
+ Giọng của vịt mẹ: Nhẹ nhàng, dịu dàng
+ Giọng của vịt con: Sợ hãi
+ Giọng con cáo: Gian ác
Khi đã tìm hiểu kỹ nội dung, tính cách, ngữ điệu của các nhân vật
trong câu chuyện mà cô sẽ kể thì cô cần tập luyện và kể thử nhiều lần
12
trước khi kể chuyện cho trẻ nghe. Thông qua việc kể thử, kể lại nhiều lần
cô sẽ diễn đạt và thể hiện tính cách của các nhân vật một cách rõ nét hơn.
- Khi kể, kể lưu loát bằng giọng diễn cảm cuốn hút trẻ vào bài.
Ví dụ: Khi kể câu chuyện: “ Dê con thích húc” giọng người dẫn
chuyện thấp hơn so với giọng các nhân vật trong truyện.
+ Giọng của dê con : Thách thức
+ Giọng của bác gà trống tây: Nghiêm túc, trịnh trọng
+ Giọng của lợn con: Khó chịu
+ Giọng của bác cừu: Mệt mỏi
+ Giọng của chó con: Tinh nghịch, lém lỉnh
- Cô kể kết hợp giảng giải nội dung câu chuyện khi cô kể xong lần 2
để trẻ khắc sâu nội dung câu chuyện sau đó cô đặt câu hỏi đàm thoại.
Khi trẻ đã hiểu được nội dung câu chuyện. Cô khuyến khích trẻ làm
trẻ.
- Sử dụng câu đố :
Sử dụng câu đố để gây hứng thú cho trẻ, dẫn dắt trẻ vào câu truyện
cũng là cách tôi thường làm, để kích thích sự tò mò, suy nghĩ của trẻ.
Ví dụ: Ở chủ đề “ Những con vật đáng yêu”, tên bài dạy là “Đàn gà con”
tôi đọc câu đố để cho trẻ đoán tên con vật.
Tôi đã sử dụng búp bê, rối để gây hứng thú cho trẻ và trẻ lớp tôi đã rất
thích.
Ví dụ: Ở chủ đề “ Bé và những người thân yêu của bé”, tên bài dạy kể
truyện “ Cả nhà ăn dưa hấu” tôi đã sử dụng búp bê xách làn hoa quả đến
thăm lớp.
- Hoặc sử dụng các hình ảnh động trên máy chiếu.
Ví dụ: Trong chủ đề “ Những con vật đáng yêu”, tên bài dạy kể truyện
“Cá và chim” tôi gây hứng thú cho trẻ bằng cách cho trẻ đi thăm quan
vườn bách thú với những hình ảnh động của các con vật trên máy chiếu...
Hoặc ở chủ đề “ thế giới thực vật” tôi lại sử dụng mô hình sa bàn để
gây hứng thú cho trẻ…
2.3.5. Sắp xếp, bố trí môi trườnghoạt động hợp lý, khoa học
Việc sắp xếp môi trường lớp học hợp lý sẽ làm tăng thêm hiệu quả của
hoạt động kể chuyện. Nhờ việc sắp xếp đồ dùng, đồ chơi hợp lý tạo cho
trẻ không gian hoạt động tích cực vì vậy sẽ giúp trẻ khắc sâu hơn về tác
phẩm mà trẻ sẽ được học.
Ví dụ: Khi dạy truyện : “Đôi bạn nhỏ” Tôi sắp xếp bố trí các thảm cỏ
xanh sao cho có cảm giác như là bờ ao, nơi cáo rình bắt gà con..hay việc
bật tắt các bóng đèn sao cho tình huống thêm phần hấp dẫn..
Hoặc ví dụ: Giờ kể truyện “Quả trứng” tôi sắp xếp các đồ dùng trong
lớp như:
- Treo tranh ở các góc truyện.
- Sắp xếp mô hình sao cho trẻ dễ nhìn, dễ thấy.
- Tôi dã sử dụng môi trường hoạt đông một cách linh hoạt và khoa học.
Giờ kể chuyện hấp dẫn và góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ thì
việc kết hợp các lĩnh vực phát triển cũng được xác định là một yếu tố
không thể thiếu trong hoạt động học.
Ví dụ : câu chuyện : “Đôi bạn nhỏ” cho trẻ hát bài hát “Đàn gà con”.
Hoặc như : (Làm động tác minh họa của các nhân vật trong câu
chuyện).Ví dụ: Trong câu chuyện “Con cáo” cô cho trẻ làm động tác “
Cáo vồ mồi” và cho trẻ làm theo.
Ví dụ :Trong câu chuyện “Cây táo”, “Quả thị” trẻ nhận biết màu sắc:
Biết quả táo khi chín có màu đỏ, khi chưa chín có màu xanh. Quả thị khi
chưa chín có màu xanh, khi chín có màu vàng. Trẻ nhận ra quả thị và quả
táo có dạng hình tròn.
2.3.7. Ôn luyện ở mọi lúc mọi nơi và phối kết hợp với phụ huynh phát
triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động kể chuyện
Ôn luyện mọi lúc mọi nơi cũng là biện pháp giúp trẻ khắc sâu, nhớ lâu,
thông qua các hoạt động, tổ chức ngày lễ, ngày hội, cô tổ chức cho trẻ
hoạt động tập kể chuyện cùng cô, mà nhiều trẻ được tham gia nhằm giúp
trẻ hứng thú với bộ môn làm quen với văn học thể loại truyện kể. Góp
phần củng cố các kiến thức đã học, đồng thời rèn kỹ năng phát triển ngôn
ngữ cho trẻ.
15
Ví dụ :
- Giờ đón trẻ: Cô cho trẻ quan sát tranh, ảnh một số câu chuyện trong chủ
đề. như trong chủ đề “ Cây và những bông hoa đẹp” Cô cho trẻ quan sát
hình ảnh Quả táo, Quả thị để cho trẻ làm quen trước khi tìm hiểu câu
chuyện.
- Giờ ngủ: Cô kể cho trẻ nghe câu chuyện hay, nhẹ nhàng để trẻ dễ dàng đi
vào giấc ngủ.
Ví dụ: Câu chuyện “ Thỏ ngoan” “ Khỉ con biết vâng lời’ “ Chú gấu con
16
- Trẻ rất thích nghe kể chuyện, hưởng ứng và hứng thú khi tham gia kể
chuyện cùng cô. Biết trả lời câu hỏi của cô theo gợi ý... Thông qua đó mà
việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ đạt hiệu quả cao. Vốn từ của trẻ được
tăng lên rất nhiều
- Trẻ mạnh dạn tự tin, hồn nhiên, cởi mở khi được tham gia vào các hoạt
động mang tính chất khám phá, trải nghiệm cho nên kinh nghiệm, kĩ năng
và kiến thức trẻ lĩnh hội được rất nhẹ nhàng nhưng bền vững, để lại ấn
tượng khó phai mờ trong trẻ và cũng chính môi trường hoạt động phong
phú, đã giúp trẻ mạnh dạn, tích cực, hứng thú trong giao tiếp, trong việc
thể hiện mình, giúp trẻ phát triển ngôn ngữ. Biết sử dụng các loại câu
phong phú và đa dạng hơn nhiều.
+ Kết quả cụ thể như sau:
Xếp loại
Tổng số
trẻ
33
Tốt
Khá
Trung bình
Yếu
Số
0
09
BẢNG ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI LẦN 2
- 90 % vốn từ của trẻ phát triển rõ rệt. Trẻ biết nói rõ ràng hơn, đỡ nói
ngọng hơn, trẻ nói nhiều câu có nghĩa khá đầy đủ.
- 85% số trẻ đã mạnh dạn tự tin hơn, kinh nghiệm sống của trẻ đã
phong phú hẳn lên, trẻ hứng thú tham gia vào hoạt động, thích giơ tay trả
lời, thích kể chuyện cùng cô theo gợi ý hướng dẫn của cô.
- 70% trẻ kể được truyện theo trí nhớ và gợi ý của cô .
- 80%Trẻ phát âm chính xác hơn, ít sử dụng ngôn ngữ địa phương.
- 98% Phụ huynh ủng hộ vật liệu, tham gia làm đồ dùng đồ chơi cho
các cháu như : tranh ảnh, sách báo, truyện theo chủ đề, truyện tranh, khâu
rối tay bằng vải…giúp trẻ hứng thú khi tham gia vào hoạt động, góp phần
phát triển ngôn ngữ cho trẻ .
- Trẻ đạt loại tốt là những trẻ đã biết nghe hiểu lời nói, nghe nhắc lại
các âm và các tiếng trong câu sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp thành thạo.
Trẻ nói được câu đơn câu có 5 - 7 tiếng. Sử dụng lời nói với các mục đích
khác nhau: Nói to, đủ nghe, lễ phép.
- Trẻ xếp loại khá là những trẻ biết nghe hiểu lời nói, nghe nhắc lại các
âm và các tiếng trong câu sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp thành thạo. Trẻ
nói được câu có 4-5 tiếng.
- Trẻ xếp loại trung bình là những trẻ biết nghe hiểu lời nói. Nghe nhắc
lại các âm các tiếng và các câu. Trẻ phát âm còn ngọng. Khi sử dụng ngôn
ngữ để giao tiếp. Trẻ chỉ nói được câu đơn câu có 2-3 tiếng.
17
+ Đối với cô:
đóng một vị trí rất quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của trẻ, giúp trẻ
có thêm nhiều vốn từ mới làm giàu cho kho tàng kiến thức của trẻ, từ đó
trẻ biết diễn đạt câu đúng ngữ pháp, cũng như sự mạnh dạn tự tin trong
giao tiếp, làm cơ sở vững chắc cho việc học tập của trẻ những năm tiếp
theo. Hơn nữa cô giáo phải là người gương mẫu để trẻ noi theo, phải nói
chuẩn, phát âm chuẩn… phải luôn học hỏi không ngừng, rèn luyện bản
thân để có trình độ chuyên môn dạy tốt, mang tri thức thắp sáng các thế hệ
mầm non tương lai của đất nước, luôn phấn đấu tất cả “vì trẻ thơ thân
yêu” .
3.2. Kiến nghị.
18
Để thực hiện tốt hoạt động Giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ
mầm non, đặc biệt là trẻ lứa tuổi nhà trẻ 25-36 tháng tuổi trong giai đoạn
hiện nay, thông qua việc thực hiện các biện pháp trên đã phần nào đạt
được một số kết quả như đã nêu. Bản thân tôi xin có một số đề xuất sau :
- Xây dựng nhiều giờ dạy mẫu, mới, sáng tạo để nhiều giáo viên
cùng dự giờ lẫn nhau.
- Tạo điều kiện hơn nữa cho giáo viên đi tham quan, học tập kinh
nghiệm các trường bạn trong và ngoài tỉnh.
Trong quá trình thực hiện đề tài này chắc không thể tránh khỏi những
thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của bạn đồng nghiệp các cấp
lãnh đạo để đề tài này của tôi được hoàn thiện hơn và phục vụ cho quá
trình giảng dạy của bản thân sau này. Bản thân tôi sẽ cố gắng học hỏi hơn
nữa để tìm ra những giải pháp tối ưu, giúp trẻ phát triển tốt ngôn ngữ theo
chương trình hiện hành.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hóa, ngày 20 tháng 03
năm 2017