PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN ĐÔNG TRIỀU
TRƯỜNG MẦM NON KIM SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
CHIẾN SĨ THI ĐUA CẤP CƠ SỞ
Đề tài
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 24-36 THÁNG THÔNG
QUA GIỜ KỂ CHUYỆN VÀ CÁC TRÒ CHƠI DÂN GIAN
Họ và tên:
Chức vụ:
Đơn vị công tác: Trường Mầm non Kim Sơn
Đông Triều,tháng 3 năm 2016
1
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 24 – 36
THÁNG TUỔI THÔNG QUA GIỜ KỂ CHUYỆN
VÀ CÁC TRÒ CHƠI DÂN GIAN
I .Phần mở đầu
1.Lý do chọn đề tài:
Trong quá trình phát triển toàn diện nhân cách con người nói chung và trẻ mầm
non nói riêng thì ngôn ngữ có một vai trò rất quan trọng đặc biệt không thể thiếu
được.
Trong quá trình phát triển toàn diện nhân cách, ngôn ngữ có vai trò là một
phương tiện hình thành và phát triển nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh.
Ngôn ngữ giúp trẻ tìm hiểu, khám phá và nhận thức về môi trường xung quanh,
thông qua cử chỉ và lời nói của người lớn trẻ làm quen với các sự vật, hiện tượng có
tranh bằng ngôn ngữ của trẻ
Giai đoạn lứa tuổi mầm non trẻ phát triển mạnh về thể chất, trí tuệ, tinh thần, trẻ
ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá xung quanh. Dưới sự hướng dẫn của cô giáo
trẻ sẽ lĩnh hội kiến thức được chính xác, đầy đủ hơn. Chính vì vậy mà hình thức tổ
chức các hoạt động cho trẻ càng phong phú hấp dẫn, càng gây hứng thú đối với trẻ,
trẻ càng dễ tiếp thu, trẻ dễ nhớ lâu quên, lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng.
Trẻ mẫu giáo có nhu cầu lớn về mặt nhận thức, trẻ khao khát khám phá, tìm tòi,
tìm hiểu thế giới xung quanh mình trong đó ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan
trọng nhất của con người. Trong giao tiếp trẻ sử dụng ngôn ngữ của mình để trình
bày ý nghĩ biểu cảm của mình với mọi người.
Đặc biệt hiện nay phát triển ngôn ngữ cho trẻ em là một trong những nhiệm vụ
quan trọng trong công tác chăm sóc giáo dục và nuôi dạy trẻ của các trường mầm
non. Chính vì vậy vai trò của người giáo viên hướng dẫn trẻ như thế nào để ngôn
ngữ của trẻ phát triển tốt ?
Ta thấy trẻ nhỏ thường phát âm không chính xác ( chẳng hạn như : lá – ná , cá rô
– cá gô , …. ) . Việc trẻ phát âm không đúng của trẻ chủ yếu là do cơ quan phát âm
của trẻ chưa linh hoạt, chưa nhạy cảm và chưa chính xác, trẻ chưa biết cách điều
chỉnh hơi thở ngôn ngữ và giọng nói cho phù hợp với nội dung nói
Vì vậy, để trẻ phát âm đúng cần phải được luyện tập thường xuyên, mọi lúc mọi
nơi, và thời gian lâu dài. Trong quá trình công tác chăm sóc nuôi dạy trẻ, sau một
thời gian cho trẻ làm quen với các bài đồng dao, em thấy việc cho trẻ đọc các bài
đồng dao kết hợp với các trò chơi đơn giản có tác dụng rất tốt cho việc phát triển
ngôn ngữ ở trẻ . Bởi vì nó có tính chất thi đua, bắt chước để kích thích trẻ luyện tập
tốt .
2. Mục đích nghiên cứu:
Đề xuất một số biện pháp nhằm “phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua giờ kể
chuyện, các trò chơi dân gian” và góp phần làm phong phú vốn từ, vốn ngôn ngữ
của trẻ nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
3. Thời gian, địa điểm
3
hội cho trẻ được tham gia vào các hoạt động một cách nhẹ nhàng mà hiệu quả, để
từ đó trẻ vừa được học, vừa được chơi. Trẻ em ở độ tuổi này các cháu đang học ăn,
học nói, học người lớn. Chính vì vậy người lớn chính là tấm gương để trẻ học tập
nhằm nâng cao và làm giàu thêm vốn ngôn ngữ của trẻ.
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
Giáo dục mầm non là giai đoạn đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là bộ
phận quan trọng trong sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ thành những con người có ích,
thành những con người mới. Một trong ba mục tiêu của cải cách giáo dục của nước ta là:
Làm tốt việc chăm sóc giáo dục thế hệ trẻ ngay từ thời thơ ấu nhằm tạo ra cơ sở
quan trọng của con người Việt Nam mới, người lao động làm chủ tập thể, phát triển
toàn diện nhân cách. Giáo dục mầm non đã góp phần thực hiện mục tiêu trên. Ngày
nay chúng ta không chỉ đào tạo những con người có trí thức có khoa học có tình
yêu thiên nhiên, yêu Tổ quốc, yêu lao động mà còn tạo nên những con người biết
yêu nghệ thuật, yêu cái đẹp, giầu mơ ước và sáng tạo. Những phẩm chất ấy con
người phải được hình thành từ lứa tuổi mầm non, lứa tuổi hứa hẹn bao điều tốt đẹp
trong tương lai.
Giai đoạn lứa tuổi mầm non trẻ phát triển mạnh về thể chất, trí tuệ, tinh thần, trẻ
ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá xung quanh. Dưới sự hướng dẫn của cô giáo
trẻ sẽ lĩnh hội kiến thức được chính xác, đầy đủ hơn. Chính vì vậy mà hình thức tổ
chức các hoạt động cho trẻ càng phong phú hấp dẫn, càng gây hứng thú đối với trẻ,
trẻ càng dễ tiếp thu, trẻ dễ nhớ lâu quên, lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng.
Trẻ mẫu giáo có nhu cầu lớn về mặt nhận thức, trẻ khao khát khám phá, tìm tòi,
tìm hiểu thế giới xung quanh mình trong đó ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan
trọng nhất của con người. Trong giao tiếp trẻ sử dụng ngôn ngữ của mình để trình
bày ý nghĩ biểu cảm của mình với mọi người.
Truyện và các trò chơi dân gian là một loại hình văn học, thông qua cơ sở ngôn
ngữ có nhịp điệu, nghĩa là ngôn ngữ thơ được xây dựng trên cơ sở hòa hợp thanh
điệu của các từ, bố trí tiết tấu trong mỗi câu, sự tổ chức cân đối các ý, lời bằng cách
láy tiếng, láy câu, gieo vần, tạo thành những hệ thống lôgic.
Tác phẩm văn học bằng những ngôn ngữ riêng tác động trực tiếp vào tâm hồn của
Trong quá trình phát triển toàn diện nhân cách con người nói chung và trẻ mầm
non nói riêng thì ngôn ngữ có một vai trò rất quan trọng đặc biệt không thể thiếu được.
Trong quá trình phát triển toàn diện nhân cách, ngôn ngữ có vai trò là một phương
tiện hình thành và phát triển nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh. Ngôn
ngữ giúp trẻ tìm hiểu, khám phá và nhận thức về môi trường xung quanh, thông
qua cử chỉ và lời nói của người lớn trẻ làm quen với các sự vật, hiện tượng có trong
môi trường xung quanh, trẻ hiểu những đặc điểm, tính chất, công dụng của các sự
vật cùng với từ tương ứng với nó. Nhờ có ngôn ngữ trẻ nhận biết ngày càng nhiều
các sự vật, hiện tượng mà trẻ được tiếp xúc trong cuộc sống hàng ngày.
6
Ngoài ra ngôn ngữ còn là phương tiện phát triển tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ.
Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp quan trọng nhất đặc biệt là đối với trẻ nhỏ,
đó là phương tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những người xung quanh hình
thành những cảm xúc tích cực. Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hoà nhập với cộng
đồng và trở thành một thành viên của cộng đồng. Nhờ có những lời chỉ dẫn của
người lớn mà trẻ dần dần hiểu được những quy định chung của cộng đồng mà mọi
thành viên trong cộng đồng phải thực hiện, mặt khác trẻ cũng có thể dùng ngôn
ngữ để bày tỏ những nhu cầu mong muốn của mình với các thành viên trong cộng
đồng điều đó giúp trẻ hoà nhập với mọi người.
Đặc biệt nhờ có ngôn ngữ, thông qua các câu chuyện trẻ dể dàng tiếp nhận
những chuẩn mực đạo đức của xã hội và hoà nhập vào xã hội tốt hơn. Trẻ từ 2 đến
3 tuổi có số lượng từ tăng nhanh, đặc biệt là ở trẻ từ 22 tháng tuổi và 30 tháng tuổi
vốn từ của trẻ phần lớn là những danh từ và động từ, các loại khác như tính từ, đại
từ, trạng từ xuất hiện rất ít và được tăng dần theo độ tuổi của trẻ. Trẻ ở lứa tuổi này
không chỉ hiểu nghĩa các từ biểu thị các sự vật, hành động cụ thể mà có thể hiểu
nghĩa các từ biểu thị tính chất màu sắc, thời gian và các mối quan hệ. Tuy nhiên
mức độ hiểu nghĩa của các từ này ở trẻ từ 2 đến 3 tuổi còn rất hạn chế và có nét
đặc trưng riêng, trẻ sử dụng các từ biểu thị thời gian chưa chính xác trẻ nhận thức
quan hành động. Đây là điều kiện thuận lợi nhất giúp trẻ cảm thụ tốt những hình
tượng nghệ thuật đặc biệt là nghệ thuật trong thơ.
1.2.2 Các phương pháp cơ bản sử dụng cho trẻ trong giờ kể truyện, các trò chơi
dân gian
Để tiến hành cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học ta sử dụng các phương pháp
sau:
1.2.2.1 Phương pháp đàm thoại:
+ Đàm thoại giới thiệu tác phẩm
+ Đàm thoại để hiểu tác phẩm
+ Đàm thoại để củng cố tác phẩm
1.2.2.2 Phương pháp đọc, kể diễn cảm các tác phẩm văn học
1.2.2.3 Phương pháp trực quan
1.2.2.4 Phương pháp đóng kịch.
2. Chương 2: Nội dung vấn đề nghiên cứu
2.1 Thực trạng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 - 36 tuổi ở trường
mầm non Kim Sơn.
* Thực trạng chung:
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các môn học, các hoạt động trong
trường mầm non là một vệc làm vô cùng quan trọng. Trong những năm qua đội ngũ
giáo viên mầm non đã từng bước khẳng định về chuyên môn nghiệp vụ của mình,
đã đầu tư vào bài dạy, các hoạt động một cách tích cực. Song đối với việc thực hiện
chương trình nhà trẻ vẫn còn nhiều lúng túng nhất là độ tuổi 24 đến 36 tháng giáo
viên vẫn còn xem nhẹ việc tạo cơ hội cho trẻ được hoạt động, giao tiếp để phát
triển ngôn ngữ. Có đầu tư vào bài dạy, nhưng phương pháp và biện pháp để cho trẻ
8
được tham gia vào các hoạt động ngôn ngữ là rất ít. Khi tổ chức giờ kể chuyện cho
trẻ môn học mà cô có thể khai thác nhiều biện pháp giúp trẻ phát triển ngôn ngữ,
giáo viên chưa biết linh hoạt tạo cơ hội cho trẻ hệ thống câu hỏi đàm thoại, giáo
Trung bình
9
Yếu
Số
Số
%
%
Số lượng %
lượng
lượng
19
8
53,3
3
20
8
53,3
Qua kết quả đó tôi miệt mài nghiên cứu tài liệu, các phương tiện thông tin đại
chúng đồng nghiệp và đưa một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ từ 24 đến
36 tháng tuổi thông qua giờ kể chuyện, chơi trò chơi dân gian.
2.2 Các giải pháp thực hiện
- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ từ 24
đến 36 tháng tuổi.
- Quan tâm đến tâm lý nhận thức đối với trẻ lứa tuổi từ 24 đến 36 tháng tuổi để
tìm ra phương pháp kể chuyện phù hợp đồng thời phát triển ngôn ngữ của trẻ.
- Nâng cao nhận thức và trình độ của bản thân thông qua việc học tập BDTX và
học hỏi đồng nghiệp.
- Biết lắng nghe và trả lời các câu hỏi của cô.
* Về kĩ năng:
- Trẻ nhận biết và phân biệt được quả to, quả nhỏ.
- Nhận biết và phân được ba màu: đỏ, vàng, xanh và đọc chính xác các từ:
“màu đỏ”, “màu vàng”, “màu xanh”.
* Về giáo dục.
- Trẻ biết “Ăn quả nhớ phải nhớ ơn người trồng cây”
- Biết lợi ích của việc ăn quả: Cung cấp vitamin và khoáng chất.
- Biết giữ gìn vệ sinh rửa quả, rửa tay trước khi ăn, Biết bỏ vỏ, hạt vào thùng
rác,
- Biết chăm sóc bảo vệ cây (Tưới nước, bắt sâu không vin lá, bẻ cành).
* Biện pháp 2: Chuẩn bị giáo án
- Giáo án cho giờ kể truyện phải soạn một cách chu đáo, đầy đủ các bước,
đảm bảo nội dung với hệ thống câu hỏi mở, phù hợp với nhận thức của trẻ và nội
dung tích hợp phù hợp, các bước chuyển tiếp linh hoạt, xuyên xuốt từ đầu đến cuối
giáo án.
- Giáo án phải trình bày sạch sẽ, khoa học.
Ví dụ:
I. Mục đích yêu cầu.
* Kiến thức.
* Kĩ năng.
* Giáo dục.
II. Chuẩn bị.
III. Trình tự tiến hành.
• Hoạt động 1.
• Hoạt động 2.
• Hoạt động 3
• ..................
11
Tranh chuẩn bị cho giờ kể truyện
* Biện pháp 4: Nội dung tích hợp.
Sau khi xác định được mục đích yêu cầu của giờ kể chuyện. Tôi suy nghĩ để
tích hợp các môn học khác vào giờ kể chuyện sao cho hợp lý, logíc phù hợp với giờ học.
Ví dụ: Trong câu chuyện cây táo tôi có thể tích hợp thêm các môn:
- Nhận biết tập nói: cô hỏi trẻ: câu chuyện cô kể cho các con nghe nhắc đến quả
gì?
+ Qủa táo có màu gì?
+ Ăn táo có vị ngọt hay chua nhỉ?
- Hát và vận động: cô cho trẻ hát và vận động cùng cô bài hát nói về các loại
quả đẻ dẫn dắt trẻ vào nội dung câu chuyện.
- Dinh dưỡng và vệ sinh chăm sóc: cô giáo dục trẻ trước khi ăn táo phải rửa táo
thật sạch, vỏ và hạt bỏ vào thùng rác. Ăn táo rất là ngon và có nhiều vi ta min
giúp da dẻ các con hồng hào.
* Biện pháp 5. Mọi lúc, mọi nơi.
Cô cho trẻ xem tranh liên quan đến câu chuyện, bài thơ
Ví dụ: Tranh cây táo trong chuyện cây táo:
Tôi có thể cho trẻ tiếp xúc với vật thật trong sinh hoạt hàng ngày.
Ví dụ: Cho trẻ quan sát và tiếp xúc với cây táo, quả táo.
13
Nói chuyện âu yếm, trò chuyện đàm thoại nhẹ nhàng cùng với trẻ.
+ Cô hỏi trẻ: ở vườn nhà các con có trồng táo không?
+ Qủa táo trong như thế nào?
+ Vỏ nó có màu gì?
+ Ai là người trồng cây táo đó?
+ Khi ăn táo các con phải làm gì?
* Biện pháp 6: Tiến trình hoạt động.
- Trong truyện có những nhân vật nào?( Ông, bé, gà trống, bươm bướm và Mặt
trời)
- Ai trồng cây táo? (ông). Cô cho trẻ đọc từ “ông”.
- Ai tưới nước cho cây táo? (Em bé). Cô cho trẻ đọc từ “Em bé”.
- Con gì đến động viên cây mà nó gáy “ò ó o”? (Con gà trống). Cô cho trẻ đọc từ
“con gà trống”.
- Cả con gì đến động viên cây nữa?(con bươm bướm).Cô cho trẻ đọc từ “bươm bướm”.
+ Sau đó tôi giảng nội dung câu chuyện, giải thích các từ khó và cho trẻ đọc
các từ khó.
Ví dụ: Trong truyện cây táo có từ “sưởi nắng”, “bật ra”, cô cho trẻ đọc các từ này.
+ Cuối cùng tôi kể cho trẻ cho trẻ nghe câu chuyện lần 3 bằng sa bàn.
* Hoạt động 3. Kết thúc giờ học.
Bằng nhiều cách khác nhau tôi cho trẻ kết thúc giờ học một cách nhẹ nhàng
thoải mái.
Ví dụ: Kết thúc giờ học tôi cho trẻ tôi cho trẻ cùng hát bài “Đố quả” và cho
trẻ thăm vườn cây ăn quả.
Trong các giờ kể chuyện tôi cho trẻ tự kể lại câu chuyện mà trẻ đã được học.
2.2.1.2 Phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua các trò chơi dân gian
Hiện nay các trò chơi dân gian đang dần quay trở lại và ngày càng được trẻ em
thích thú vì chúng rất gũi với tâm sinh lý trẻ nhỏ. Chính vì vậy cho trẻ làm
quen với
các bài đồng dao, em thấy việc cho trẻ đọc các bài đồng dao kết hợp với các trò
chơi đơn giản có tác dụng rất tốt cho việc phát triển ngôn ngữ ở trẻ. Bởi vì nó có
tính chất thi đua, bắt chước để kích thích trẻ luyện tập tốt.
Sau đây, là một số bài đồng dao được viết lời mới và một số trò chơi kèm
theo mỗi bài đồng dao .
*Trò chơi 1:
CHI CHI CHÀNH CHÀNH
Chi chi chành chành
cùng một lúc cho nhiều trẻ làm dê con và 1 trẻ bị bịt mắt .
CẶP KÈ
*Trò chơi 3:
Cặp kè
An muối mè
Ngồi xuống đất
Ăn rau muống
Đứng lên
Cách chơi
Các cháu vừa đi vừa đọc bài đồng dao , và thực hiện theo lời bài đồng dao .
Có thể phân từng nhóm cho trẻ chơi , đây là một trò chơi rất thu hút trẻ .
*Trò chơi 4:
DUNG DĂNG DUNG DẺ
Dung dăng dung dẻ
Dắt trẻ đi chơi
16
Đến hỏi ông trời
Xin vài cái bánh
Gặp xe thì tránh
Đội mũ trên đầu
Đi chậm đi mau
Lâu lâu lại ngồi !
Cách chơi
Các cháu cùng nắm tay , vừa đi vừa đung đưa theo nhịp bài đồng dao . Đến câu “
lâu lâu lại ngồi” thì tất cả cùng ngồi xổm một lát , rồi lại đứng dậy vừa đi vừa đọc
tiếp bài đồng dao .
*Trò chơi 5:
NU NA NU NỐNG
muốn lấy khúc nào “đuôi”, “giữa” hay “cuối”, tất cả trẻ phải bảo vệ bạn ở nơi mà
thầy thuốc muốn bắt . Trẻ nào bị bắt được thì lên làm thầy thuốc và chơi tiếp .
*Trò chơi 6:
TẬP TẦM VÔNG
Tập tầm vông
Tay đàng đông
Tay đàng tây
Tay nào mây
Tay nào gió
Tập tầm vó !
Tay nào có
Tay nào không
Tay nào phồng
Tay nào đẹp ?
Cách chơi
Trẻ vừa đọc bài đồng dao vừa đưa tay theo nhịp bài đồng dao . Trò chơi này cũng
có tác dụng rèn cơ tay cho trẻ . GV có thể sử dụng nhiều hình thức khác nhau như :
thay đổi bằng chân , làm nhiều kiểu tay , ….
*Trò chơi 6:
THẢ ĐỈA
Thả đải ba ba
Làm ngỗng , làm gà
Làm voi , làm gấu
Làm anh cá sấu
Làm chị ễnh ương
Làm bác linh dương
Cùng chạy bốn phương .
Cách chơi
18
1
6,8
Đặc biệt nổi bật lên có 30% số trẻ trong số các trẻ đạt loại khá có khả năng ngôn
ngữ rất tốt, hiểu được lời nói của mọi người, biết trả lời các câu hỏi, biết kể lại các
câu truyện đã được nghe. Biết chơi các trò chơi một cách mạnh dạn, biết trao đổi
với bạn trong khi chơi một cách mạch lạc. Vốn từ phong phú và dần dần hoàn thiện
theo độ tuổi.
2.4 Bài học kinh nghiệm:
*/Bài học chung:
Để học sinh phát triển ngôn ngữ một cách tốt nhất người giáo viên có năng
lực trình độ chuyên môn vững vàng, phải yêu nghề, yêu trẻ, phải tận tụy, tỉ mỉ, phải
coi trẻ như con đẻ của mình, coi việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở độ tuổi này là
nhiệm vụ hàng đầu, là việc làm thường xuyên, xuyên suốt quá trình chăm sóc, giáo
dục trẻ. Cô giáo phải là tấm gương để trẻ học tập và noi theo.
Ngay từ đầu năm học giáo viên phải xây dựng kế hoạch cụ thể cho từng hoạt
động, từng tiết dạy, lồng ghép các hoạt động để trẻ phát triển tốt nhất ngôn ngữ của
mình.
Thường xuyên tổ chức các hoạt động tham quan, khám phá môi trường xung
quanh trẻ, cho trẻ tiếp xúc với các câu chuyện, bài thơ trên các phương tiện truyền
19
thông, các tranh ảnh, mô hình để trẻ cảm nhận tác phẩm một cách nhẹ nhàng, tự trẻ
có thể đọc theo cô, kể theo cô các câu chuyện mà trẻ đã được nghe
*/ Bài học riêng:
Để phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách tốt nhất là một giáo viên, một tổ
trưởng chuyên môn bản thân tôi đã xây dựng kế hoạch các hoạt động được lồng
ghép với các tiết dạy một cách nhẹ nhàng, linh hoạt, đồng thời tôi luôn chú trọng
tới việc khai thác và phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Trẻ độ tuổi 24 -36 tháng khi nghe kể chuyện rất mau quên, không ghi nhớ lâu, nên
tôi phải tìm hiểu và đưa ra một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ.Để trẻ ghi
nhớ lâu hơn về câu chuyện và hiểu nội dung câu chuyện.
Để phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong giờ kể chuyện giáo viên cần đầu tư về thời
gian nghiên cứu để lựa chọ nội dung truyện kể hay, chuẩn bị được nhiều đồ dùng
trực quan đẹp, hấp dẫn trẻ. Cô càn xác định được giọng kể phù hợp để gây hứng
thú cho trẻ nhiều, dạy trẻ kể đi kể lại nhiều lần giúp trẻ thực sự in dấu trong lòng
trẻ để đảm bảo cho trẻ được phát triển ngôn ngữ một cách toàn diện hơn.
2. Kiến nghị
* Đối với cấp trường:
Đề nghị Ban giám hiệu nhà trường tham mưu với các cấp, các ngành, lãnh đạo
địa phương mua sắm trang thiết bị, đồ chơi ngoài trời cho trẻ. Xây dụng trường
chuẩn quốc gia để các cháu có điều kiện học tập và vui chơi tốt hơn. Xây dựng
khuôn viên có vườn hoa cây cảnh, vườn cây ăn qủa và vườn cây của bé để giúp trẻ
hoạt động đạt được kết quả tốt hơn.
* Đối với Phòng giáo dục
+ Đề nghị với các cấp, các ngành và Nhà nước quan tâm hơn nữa đến vật chất
và tinh thần của cấp học mầm non nói chung và giáo viên mầm non nói riêng để
chúng tôi những giáo viên mầm non thực sự yên tâm công tác và cống hiến nhiều
hơn nữa cho sự nghiệp giáo dục của nước ta, xứng đáng với phương châm: “Giáo
dục là quốc sách hàng đầu”.
Trên đây chỉ là một trong những kinh nghiệm của bản thân và rất mong được
sự giúp đỡ, ý kiến đóng góp của các đồng chí trong ban giám hiệu nhà trường, các
đồng chí lãnh đạo phòng giáo dục và đào tạo Huyện Đông Triều, đặc biệt là các
đồng chí phụ trách chuyên môn ngành học mầm non, hội đồng xét duyệt thi đua bổ
sung thêm những ý kiến để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn và rút kinh nghiệm
cho những lần sau và quá trình giảng dạy của bản thân sau này.
Đông triều, ngày 19 tháng 4 năm 2014
Người viết
1.2
1.2.1
NỘI DUNG
TRANG
Phần mở đầu
1- 3
Lý do chọn đề tài
1
Mục đích nghiên cứu
2-3
Thời gian, địa điểm
3
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
3
Phần nội dung
3 - 20
Chương 1: Tổng quan
4
Cơ sở lý luận của đề tài
4-5
Cơ sở thực tiễn của đề tài
5-7
Đặc điểm tâm – sinh lý của trẻ 24 - 36 tháng tuổi liên
6-7
quan đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ.
1.2.2
Các phương pháp cơ bản sử dụng cho trẻ trong giờ kể
14 - 18
2.2.1.2
2.3
Kết quả nghiên cứu
2.4
III
IV
Rút ra bài học kinh nghiệm
Phần kết luận – kiến nghị
Tài liệu tham khảo – phụ lục
18 - 19
19 - 20
20 - 21
21 - 23
24