Skkn Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng trong trường mầm non - Pdf 42

PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO HUYỆN NGHĨA HƯNG
TRƯỜNG MẦM NON A NGHĨA THÀNH

BÁO CÁO SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ
độ tuổi 24- 36 tháng ở trường Mầm Non

Tác giả: Đỗ Thị Thanh Vy
Trình độ chuyên môn: Cao đẳng Sư phạm Mầm non
Chức vụ: Giáo viên
Nơi công tác: Trường mầm non A Nghĩa Thành - Huyện Nghĩa Hưng
Tỉnh Nam Định

Nghĩa Thành, ngày 12 tháng 5 năm 2016


BÁO CÁO SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
ĐỀ TÀI: “MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ
ĐỘ TUỔI 24-36 THÁNG Ở TRƯỜNG MẦM NON”

Lĩnh vực áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: Phát triển ngôn ngữ.
Thời gian áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
Từ ngày 12 tháng 08 năm 2015 đến ngày 12 tháng 05 năm 2016
Tác giả:
Năm sinh:

Đỗ Thị Thanh Vy
16/11/1972

Nơi thường trú: Xóm Mỹ Điền - Xã Nghĩa Thành - Huyện Nghĩa Hưng - Tỉnh
Nam Định

Là một cô giáo Mầm Non trực tiếp dạy trẻ 24- 36 tháng tôi luôn mong muốn
làm như thế nào để có những biện pháp phát triển tốt ngôn ngữ cho trẻ để từ đó rút
ra nhiệm vụ giáo dục cho phù hợp với yêu cầu phát triển của lứa tuổi. Chính vì vậy
nên tôi đã mạnh dạn chọn đề tài:
“Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ độ tuổi 24- 36 tháng
ở trường Mầm Non” nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ đối với
chương trình Giáo dục mầm non mới hiện nay.
2.Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ từ đó tìm ra một số biện
phát phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng, giúp trẻ có vốn từ phong phú, đa
dạng, giúp trẻ phát âm đúng, nói tốt Tiếng Việt, diễn đạt rõ ràng, mạch lạc là điều
kiện tốt để chuẩn bị cho trẻ học đọc, học viết sau này.
- Tuyên truyền rộng rãi đến các bậc phụ huynh về tầm quan trọng của việc phát
triển ngôn ngữ cho trẻ nhà trẻ.
3


3.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu : Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuổi.
- Phạm vi nghiên cứu: Trẻ 24-36 tháng tuổi, trường mầm non A Nghĩa Thành
-Huyện Nghĩa Hưng-Tỉnh Nam Định.
II. CÁC GIẢI PHÁP
1.Cơ sở lý luận:
Trong quá trình phát triển toàn diện nhân cách con người nói chung và trẻ
Mầm Non nói riêng thì ngôn ngữ có một vai trò rất quan trọng không thể thiếu
được. Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp quan trọng nhất đặc biệt đối với trẻ
nhỏ, đó là phương tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những người xung quanh
hình thành những cảm xúc tích cực. Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hoà nhập với
cộng đồng và trở thành một thành viên của cộng đồng. Nhờ có những lời chỉ dẫn
của người lớn mà trẻ dần dần hiểu được những quy định chung của xã hội mà mọi

c. Quá trình điều tra thực tiễn:
- Ngay từ đầu năm học tôi luôn quan tâm đến đặc điểm tâm sinh lý cũng như
ngôn ngữ giao tiếp của từng trẻ nhằm khám phá, tìm hiểu khả năng giao tiếp bằng
ngôn ngữ để kịp thời có những biện pháp giáo dục và nâng cao dần ngôn ngữ cho
trẻ. Khi tiếp xúc với trẻ tôi nhận thấy rằng ngôn ngữ của trẻ còn nhiều hạn chế về
câu từ, về cách phát âm. Khi trẻ nói hầu hết toàn bớt âm trong các từ, giao tiếp
không đủ câu cho nên nhiều khi giáo viên không hiểu trẻ đang nói về cái gì?
Cũng có một số trẻ còn hạn chế khi nói, trẻ chỉ biết chỉ tay vào những thứ mình
cần khi cô hỏi. Đây cũng là một trong những nguyên nhân của việc ngôn ngữ của
trẻ còn nghèo nàn, hạn chế.
- Qua quá trình tiếp xúc với trẻ bản thân tôi thấy quan tâm về vấn đề này và
đã mạnh dạn tìm tòi suy nghĩ và nghiên cứu tài liệu để tìm ra biện pháp phát triển
ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng một cách có hiệu quả nhất .
*Kết quả khảo sát đầu năm:
NỘI DUNG

Nghe hiểu ngôn ngữ và phát âm
Vốn từ
Nói đúng ngữ pháp
Giao tiếp

Tốt
SL
%
5
6
5
7

16.6


33.3
30
36.7
26.8

TB

Yếu
SL
%
4
6
6
5

13.4
20
20
16.6


Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ có những đặc điểm khác nhau tùy thuộc và
từng giai đoạn tuổi của trẻ. Việc nắm vững những đặc điểm này sẽ giúp cho người
giáo viên có những kiến thức và kỹ năng tốt nhất trong quá trình hỗ trợ trẻ phát
triển ngôn ngữ, đặt ra những phương pháp phù hợp, linh hoạt để đạt được những
mục tiêu cho giai đoạn nền móng này.
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là khả năng nghe, hiểu ngôn ngữ và phát âm
chuẩn, phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ mạch lạc,
giáo dục văn hoá giao tiếp lời nói. Ngoài ra ngôn ngữ còn là phương tiện phát triển

Cô bế Búp bê trên tay và nói : “Búp bê chào các anh, các chị. Các anh, các chị
đang làm gì đấy?
- Cô cùng trẻ trả lời : “Anh chị đang chơi đồ chơi.”
- Cô tạo tình huống: “Ôi sao tự nhiên em bé nóng quá, sờ trán thử xem em có
sốt không nào!”. Cô giả vờ làm động tác sờ trán Búp bê vẻ mặt lo lắng.
- Cô nói : “Trán em nóng quá! Em sốt rồi, tội nghiệp em quá.”
Cô hỏi trẻ :
- Làm sao bây giờ?
- Mình tiêm thuốc cho em nhé !
Qua giờ chơi cô không những dạy trẻ kỹ năng sống mà còn dạy trẻ nghe, hiểu
giao tiếp cùng nhau và trao cho nhau những tình cảm yêu thương, gắn bó của con
người.

Các bé chơi ở góc chơi thao tác vai

Ví dụ 2: Với góc “ Hoạt động với đồ vật” ở chủ đề “ Mẹ và những người thân yêu
của bé ” cô cho trẻ xâu những chiếc vòng tặng mẹ bằng những nụ hoa trứng gà.
Tôi hỏi trẻ:
+ Thảo An ơi, con đang xâu gì vậy? ( Con đang xâu vòng ạ)
+ Con xâu vòng bằng gì đấy?

(Con xâu bằng dây xâu ạ)

+ Muốn có chiếc vòng tặng mẹ con phải làm thế nào? ( Xâu hoa rồi buộc lại ạ !)
7


* Giáo dục ngôn ngữ thông qua hoạt động ngoài trời:

Quan sát cây hoa ngọc lan

vật có mấy chân, các bộ phận chính của con vật, cách di chuyển…), ích lợi của
chúng. Cho trẻ quan sát lần lượt con gà trống, gà mái, con vịt và hỏi trẻ các câu
hỏi :
- Con gì đây ? (con vịt)
- Nó kêu như thế nào ? (cạc cạc cạc)
- Cái gì đây ? (cái mào)
- Con gì có mào đỏ ? (con gà trống)
- Con vịt có mào đỏ không ? (không ạ !)
- Con gà có bơi ở dưới nước không ? (không ạ !)
Cô đặt tiếp các câu hỏi :
- Gà trống gáy như thế nào ?
- Gà trống hay gà mái có mào đỏ ?
Khuyến khích trẻ trả lời để nhận ra tên gọi và một số đặc điểm của các con vật
như :
- Gà trống gáy ò ó o…o, có mào đỏ ; mỏ gà nhỏ, nhọn để mổ thóc ; chân gà có
móng sắc nhọn…
- Gà mái kêu cục tác, cục tác ; mỏ gà nhỏ, nhọn để mổ thức ăn ; gà mái đẻ quả
trứng tròn…
- Con vịt kêu cạc…cạc… ; vịt không có mào đỏ ; mỏ vịt to ; chân vịt có màng
để bơi dưới nước.
Hoặc cô có thể hỏi trẻ các câu hỏi sau :
+ Con gì đấy ? (con vịt )
+ Kêu thế nào ? (cạc cạc cạc )
+ Con gà gì đẻ trứng ? ( con gà mái)
+ Gà trống gáy thế nào ? (ò ó o o )
9


+ Gà mái khi đẻ trứng xong nó kêu thế nào ? (cục ta cục tác)
- Trong khi trẻ trả lời cô phải chú ý đến câu trả lời của trẻ. Trẻ phải nói được


Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học là phương tiện hữu hiệu phát triển
ngôn ngữ nói cho trẻ và còn hình thành phát triển ở trẻ kỹ năng nói mạch lạc.
Muốn làm được như vậy trẻ phải có vốn từ phong phú hay nói cách khác là trẻ có
cơ hội bổ sung vốn từ qua giờ học thơ, kể truyện.
Để hoạt động này đạt kết quả cao cũng như hình thành ngôn ngữ cho trẻ bản
thân tôi đã chuẩn bị tốt các yêu cầu sau:
+ Đồ dùng phải đẹp, màu sắc phù hợp đảm bảo tính an toàn và vệ sinh cho
trẻ.
+ Nếu là tranh vẽ phải đẹp, phù hợp với câu truyện, phía dưới phải có chữ to
giúp cho việc phát triển vốn từ của trẻ được thuận lợi.
+ Bản thân giáo viên phải thuộc truyện, ngôn ngữ của cô phải trong sáng,
giọng đọc phải diễn cảm, thể hiện đúng ngữ điệu của các nhân vật.

Các bé 24-36 tháng tuổi nghe cô kể chuyện

Hoạt động làm quen với văn học

Ví dụ 1: Cô đọc cho trẻ nghe câu chuyện “Chiếc áo mùa xuân”. Tôi cung cấp vốn
từ cho trẻ đó là từ “ Mùa xuân” “Mùa đông” “lạnh cóng”. Giải thích cho trẻ hiểu
màu xuân, mùa đông là các mùa trong năm, mùa xuân thời tiết mát mẻ, mùa đông
thì trời lạnh, gió thổi. Cô đọc truyện diễn cảm nhấn mạnh những từ chỉ thời tiết,
cảnh vật của hai mùa trong truyện : mùa đông lạnh cóng, mùa xuân sang cây cối,
cảnh vật đều khoác chiếc áo mùa xuân.
Trò chuyện với trẻ về truyện cô vừa đọc:
- Trong câu chuyện cô vừa đọc có những ai? (Thỏ mẹ, Thỏ con, Gà Gô,
Nhái Bén, Châu Chấu)
- Các mùa nào được nhắc đến ? (mùa đông, mùa xuân)
11



12


Trong câu truyện “Thỏ ngoan” ngoài việc giúp trẻ thể hiện ngữ điệu, sắc thái tình
cảm của các nhân vật trong truyện tôi còn sửa sai những từ trẻ hay nói ngọng để
giúp trẻ phát âm chuẩn và động viên những trẻ nhút nhát mạnh dạn hơn khi trả lời.
+ Trẻ nói Thỏ ngoan

-

Thỏ ngan

+ Bác Gấu

-

Bác hấu

+ Con Cáo

-

Con áo

- Mỗi khi trẻ nói sai tôi dừng lại sửa sai luôn cho trẻ bằng cách: tôi nói mẫu
cho trẻ nghe 1-2 lần sau đó yêu cầu trẻ nói theo, kết hợp động viên, khuyến khích
trẻ, nhất là những trẻ nhút nhát hay khả năng phát âm còn hạn chế.
- Như vậy việc làm quen với những bài thơ, câu chuyện là phương tiện giúp trẻ
phát triển ngôn ngữ một cách toàn diện qua đó giáo dục trẻ tình yêu thiên nhiên,

Nhà văn hào vĩ đại người Nga M.Gorky đã nói : “Vui chơi là cuộc sống của trẻ ”
Đặc biệt thông qua các trò chơi, hiệu quả của việc học ngôn ngữ sẽ rất cao.
- Đối với trẻ nhà trẻ, được phát triển ngôn ngữ thông qua trò chơi là một biện
pháp tốt nhất. Trò chơi đã trở thành phương tiện để cung cấp, tích luỹ được nhiều
vốn từ và trên cơ sở hiểu biết đầy đủ ý nghĩa của những từ đó trẻ biết sử dụng “số
vốn từ ” đó một cách thành thạo. Sử dụng trò chơi để phát triển ngôn ngữ tạo cho
trẻ một trạng thái học nói tự nhiên, là con đường nhanh nhất để trẻ bắt chước, tập
nói và ghi nhớ lâu những từ ngữ mới học được… Có nhiều trò chơi có thể sử dụng
được vào mục đích dạy nói cho trẻ. Đó là các trò chơi luyện phát âm, luyện thở
ngôn ngữ, phát triển vốn từ, nói đúng ngữ pháp, nói mạch lạc..
- Qua trò chơi trẻ sẽ được giao tiếp mạnh dạn hơn, ngôn ngữ cũng lưu loát
hơn, vốn từ của trẻ cũng được tăng lên, từ đó ngôn ngữ của trẻ ngày càng phong
phú. Vì vậy tôi đã mạnh dạn lựa chọn một số trò chơi giúp trẻ phát triển ngôn ngữ
sau đây :
*Trò chơi 1 : Lồng hộp

14


- Mục đích: Giúp trẻ phát triển với ngôn ngữ, nhận thức và các kĩ năng khác
mà trẻ có thể học được khi chơi với đồ chơi này.
- Chuẩn bị ; Mỗi trẻ một bộ lồng hộp tròn hoặc vuông.
- Hướng dẫn : Cô yêu cầu trẻ tháo, lắp xếp chúng vào nhau : “Con hãy xếp hộp
màu xanh ở trong hộp màu vàng”
+ Qua đó cung cấp vốn từ cho trẻ như: “bên trong” và “bên ngoài” khi trẻ xếp
những chiếc hộp có kích thước khác nhau.
+ Nhận thức ngôn ngữ không gian: như bên trong, phía dưới, bên cạnh, phía
trước, đằng sau, phía trên cùng, bên dưới và ở giữa trong hoạt động xếp vào và
tách ra.
+ Nhận biết về các màu sắc khác nhau.

“A lô ! Bác Nam đấy à ? Bác đang làm gì đấy ? Bác cho tôi gặp bác Thảo được
không ? (Trẻ ngồi cạnh được thay phiên nhau trò chuyện)
- Học được kĩ năng thay phiên lượt nói: trẻ sẽ hiểu được rằng khi cuộc trò
chuyện diễn ra, hai bên sẽ thay phiên nhau nói chuyện và trẻ sẽ biết cách để nhận
lượt nói của mình và dừng lại để chờ người đối thoại với mình tiếp tục câu chuyện.
*Trò chơi 3 : Xếp hình

16


Mọi trẻ em đều rất nên có một bộ đồ
chơi với những mảnh gỗ có hình thù và
màu sắc khác nhau; một bộ gỗ với chữ
cái hoặc chữ số trên nó cũng rất tốt để
làm quen với các con số và cách đánh
vần các chữ cái. Chơi với các khối gỗ
hình thù khác biệt giúp phát triển kĩ
năng ngôn ngữ và nhận thức của trẻ .
Các bé chơi xếp hình

- Mục đích: Giúp trẻ nhận thức ngôn ngữ không gian: như bên trong, phía dưới,
bên cạnh, phía trước, phía sau và ở giữa trong hoạt động xếp vào và tách những
khối gỗ ra.
- Chuẩn bị: Các khối gỗ có kích thước và hình hình học khác nhau
- Hướng dẫn : Yêu cầu trẻ xếp chồng các khối gỗ : xếp nhà, đường đi, xây hàng
rào...
Ví dụ : - Hưng ơi con đang làm gì đấy ? (con xếp đường đi ạ! )
- Con xếp như thế nào? ( xếp các khối gỗ cạnh nhau ạ)
- Khối gỗ này màu gì? (màu vàng ạ)
Với ngôn ngữ trong khi chơi giúp trẻ nhận biết về các màu sắc khác nhau,

- Hướng dẫn : Cô ngồi phía trước trẻ, giới thiệu từng loại đồ dùng và gõ để trẻ
nhận biết tiếng kêu của từng đồ dùng. Sau đó, cô gõ vào từng thứ một và hỏi trẻ
xem đó là tiếng kêu của đồ dùng nào. Cuối cùng, cô để tất cả các thứ đó ra sau
lưng (không cho trẻ nhìn thấy, rồi gõ vào từng thứ một và đố trẻ đó là tiếng kêu
của cái gì ?).
*Trò chơi 6: Nghe tiếng kêu đoán tên các con vật
- Mục đích : Phát triển ngôn ngữ mạch lạc, rõ ràng.
- Chuẩn bị: Cô thiết kế các File động hình ảnh các con vật nuôi trưng gia đình
có lồng tiếng kêu của chúng ( con gà trống, con mèo, con chó, con bò...)
- Hướng dẫn chơi: Cô cho trẻ ngồi trước màn hình có đeo tai nghe, khi cô kích
chuột vào hình ảnh con gà trống và trẻ nghe tiếng gáy “Ò ó o o”đồng thời trẻ đoán
tên con vật và bắt chước tiếng kêu. Cô cho trẻ nhắc lại vài lần chính xác hóa các từ
trẻ vừa phát âm. Nếu trẻ phát âm chưa đúng cô giúp trẻ nhắc lại theo cô.
* Trò chơi 7 : Lộn cầu vồng.
Lộn cầu vồng
Nước trong nước chảy
Có cô mười bảy

18


Có chị mười ba
Hai chị em ta
Ra lộn cầu vồng
- Mục đích:
+ Luyện khả năng phát âm,
khả năng đọc lưu loát ở trẻ thông
qua cách gieo vần đồng dao, trẻ biết
phối hợp chơi cùng bạn.
Các bé chơi trò chơi “Lộn cầu vồng”

Cô và trẻ chơi : “Chi chi chành chành”

d.Phối kết hợp với phụ huynh :
Để ngôn ngữ của trẻ phát triển tốt không thể thiếu được đó là sự đóng góp của
gia đình. Việc giáo dục trẻ ở gia đình là rất cần thiết tôi luôn kết hợp chặt chẽ với
phụ huynh trao đổi thống nhất về cách chăm sóc nuôi dưỡng trẻ và thường xuyên
ghi vào bảng tin của nhóm lớp những nội dung mà trẻ học gì trong ngày để phụ
huynh nắm được.
Ví dụ trong chủ đề “Bé thích đi khắp nơi bằng phương tiện gì ?” tôi ghi lên
bảng tin dòng chữ: Bé học bài thơ “Con tàu” và tên chủ đề đang học của nhóm
lớp.
Vì đây là trẻ nhà trẻ, trẻ bắt đầu tập nói tôi trao đổi với phụ huynh về ý nghĩa
phát triển vốn từ cho trẻ và yêu cầu phụ huynh cùng phối hợp với cô giáo trong
việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Hàng ngày phụ huynh phải dành nhiều thời gian
thường xuyên trò chuyện cùng trẻ, cho trẻ được tiếp xúc nhiều hơn với các sự vật
hiện tượng xung quanh, lắng nghe và trả lời các câu hỏi của trẻ.
Chủ động trao đổi với phụ huynh về tầm quan trọng của việc phát triển ngôn
ngữ và giúp phụ huynh thấy được một số vấn đề giúp phụ huynh làm tốt nhiệm vụ
phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách tích cực sau:
- Gia đình luôn là bạn của trẻ
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ phụ thuộc rất nhiều vào môi trường trong gia
đình. Hay nói cách khác gia đình là cái “nôi” phát triển ngôn ngữ của trẻ. Trong
20


những năm phát triển đầu đời của trẻ mà gia đình bỏ buông, không thường xuyên
nói chuyện với trẻ thì việc trẻ bị chậm nói là điều sẽ xảy ra. Gia đình không tạo ra
môi trường để trẻ được trải nghiệm thì tư duy và ngôn ngữ của trẻ sẽ không phát
triển được. Vì vậy, gia đình luôn dạy trẻ những điều đơn giản nhất, những từ ngữ
đơn giản đến phức tạp. Dạy trẻ những cách diễn đạt những câu đơn giản mà có

này có một tầm quan trọng đặc biệt. Cô có thể mở rộng những câu nói còn ngắn
ngủn, vụng về, lộn xộn của trẻ thành những câu đơn giản nhưng mạch lạc, trong
sang để làm mẫu cho trẻ:
Trẻ thường chỉ nói được những câu ngắn, nhiều khi chỉ là 1-2 từ hoặc dùng
1 từ và thay đổi ngữ điệu để diễn đạt những mong muốn khác nhau của mình.
Ví dụ:

“Cô nước” - > Cô nói để trẻ nhắc lại thành: “Cô ơi con uống nước”
“Bạn trêu” -> “Bạn Nam trêu con”.

Cách lựa chọn từ ngữ, cách nói có ngữ điệu, trọng âm, truyền cảm của cô giúp
trẻ nhanh chóng học được những vẻ đẹp của ngôn ngữ mạch lạc, tạo tiền đề để trẻ
nói năng lưu loát, mạch lạc ở giai đoạn sau, khi mà vốn từ của trẻ đã phát triển khá.
Giọng điệu của cô khi đọc thơ, kể truyện có một sức mạnh lay động và lan tỏa rất
lớn. Trẻ sẽ nhớ mãi những giây phút thần tiên của thời thơ ấu, khi mà được nghe
cô kể một câu chuyện thật xúc động hay đọc một bài thơ diễn cảm. Trẻ sẽ nhận ra
được sức mạnh của ngôn ngữ, biết cách sử dụng thứ của cải quý giá đó. Chất trữ
tình, vẻ đẹp của vần điệu, tình yêu quê hương đất nước…thấm vào trẻ một cách tự
nhiên, nhuần nhị mà tinh tế. Vì vậy, cô giáo mầm non phải ghi nhớ, khắc sâu điều
này để có thể giúp trẻ trở thành những con người tinh tế, sâu sắc, có tâm hồn trong
sáng, cao đẹp trong tương lai. Nếu trẻ chỉ được nghe những lời nói cộc cằn, thô lỗ
thì tất yếu ngôn ngữ của trẻ sẽ không thể trong sáng, lễ phép; trước cũng không thể
trở thành một trẻ ngoan, một công dân tốt của xã hội tương lai được. Ngôn ngữ
chính là nhân cách, là tâm hồn, là con người. Dân gian ta có câu:
“Chim khôn kêu tiếng rảnh rang
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.”
III. HIỆU QUẢ DO SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐEM LẠI:
1.Đối với giáo viên:
- Trình độ chuyên môn được nâng lên rõ rệt, lớp và bản thân giáo viên đã đạt
được những thành công nhất định : được nhà trường chọn là lớp điểm toàn diện để

Giao tiếp

Yếu

Khảo sát cuối năm
Khá
TB

Tốt

Yếu

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL


13.4

10

33.3

16

53.3

4

13.4

0

0

6

20

9

30

9

30


26.8

8
10

26.7
33.3

6
5

20
16.6

16
18

53.3
60

11
8

36.7
26.6

3
2

10

khăn để tìm ra phương tiện, điều kiện cần thiết cho sự phát triển toàn diện của trẻ.
2. Bài học kinh nghiệm:
Muốn có được kết quả trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ, cô giáo cần:
- Có những hiểu biết lý luận về cách tổ chức hướng dẫn trẻ phát triển ngôn ngữ
một cách thường xuyên, liên tục.
- Cần có lòng nhiệt tình, kiên trì, tỉ mỉ, yêu thương gần gũi trẻ, quan tâm đến
trẻ.
- Cần luôn cải tiến phương pháp, hình thức giảng dạy để phù hợp với đặc điểm
tâm sinh lý của từng độ tuổi
- Giáo viên cần hiểu rõ tầm quan trọng của ngôn ngữ với việc hình thành và
phát triển nhân cách cho trẻ, không ngừng học tập để nâng cao trình độ chuyên
môn, rèn luyện ngôn ngữ của mình để phát âm chuẩn.
- Làm giầu vốn từ của trẻ qua việc hướng dẫn trẻ quan sát, vui chơi, kể truyện
và đọc truyện cho trẻ nghe. Tổ chức nhiều trò chơi sử dụng ngôn ngữ.
- Tích cực làm đồ dùng đồ chơi sáng tạo hấp dẫn với trẻ và phù hợp với nội
dung của bài dạy.
- Luôn tạo không khí vui tươi, thoải mái cho trẻ, tạo điều kiện quan tâm đến
những trẻ nhút nhát, dành thời gian gần gũi trò chuyện với trẻ để trẻ mạnh dạn, tự
tin tham gia vào các hoạt động tập thể giúp trẻ được giao tiếp nhiều hơn.
- Cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa cô giáo và phụ huynh để nắm được đặc điểm
tâm sinh lý của trẻ từ đó có kế hoạch phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
3 .Một số ý kiến đề xuất, kiến nghị:
24


a.Đối với nhà trường:
- Tham mưu, đầu tư cơ sở vật chất phục vụ chuyên đề ...
- Tiếp tục cho giáo viên đi thăm quan môi trường sư phạm và các tiết dạy mẫu
ở trường bạn để học hỏi kinh nghiệm.
b.Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status