Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ (3 4 tuổi) trường mầm non ánh sao, xã chiềng pằn huyện yên châu tỉnh sơn la qua tổ chức hoạt động kể chuyện - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

HÀ THỊ DUNG

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
CHO TRẺ 3 - 4 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON ÁNH SAO,
XÃ CHIỀNG PẰN - HUYỆN YÊN CHÂU - TỈNH SƠN LA
QUA HOẠT ĐỘNG KỂ TRUYỆN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

HÀ THỊ DUNG

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
CHO TRẺ 3 - 4 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON ÁNH SAO,
XÃ CHIỀNG PẰN - HUYỆN YÊN CHÂU - TỈNH SƠN LA
QUA HOẠT ĐỘNG KỂ TRUYỆN

Chuyên ngành: Khoa học giáo dục

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: ThS. Nguyễn Thùy Dung

SƠN LA, NĂM 2016


: Nhà xuất bản Đại học quốc gia

NXBĐHSP

: Nhà xuất bản Đại học sư phạm

ĐHSP

: Đại học sư phạm

CĐSP

: Cao đẳng sư phạm

TCSP

: Trung cấp sư phạm

ĐVTCĐ

: Đóng vai theo chủ đề

VD

: Ví dụ



: Mức độ

8. Giả thuyết khoa học........................................................................................... 5
9. Cấu trúc của đề tài ............................................................................................. 6
PHẦN NỘI DUNG .............................................................................................. 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ........................................... 7
1.1. Cơ sở lí luận ................................................................................................... 7
1.1.1. Khái niệm, chức năng, vai trò của ngôn ngữ ............................................. 7
1.1.2. Khái niệm, phân loại, vai trò của kể chuyện ............................................. 12
1.1.3. Đặc điểm phát triển tâm lí của trẻ mẫu giáo (3 - 4 tuổi) ........................... 19
1.2. Cơ sở thực tiễn ............................................................................................. 25
1.2.1. Mục đích khảo sát ..................................................................................... 25
1.2.2. Đối tượng khảo sát .................................................................................... 25
1.2.3. Thời gian khảo sát ..................................................................................... 25
1.2.4. Phương pháp khảo sát ............................................................................... 26
1.2.5. Xây dựng các tiêu chí đánh giá việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ MGB
thông qua hoạt động kể chuyện ........................................................................... 26
1.2.6. Phân tích kết quả điều tra .......................................................................... 26
1.2.7. Những nhận xét từ khảo sát....................................................................... 32
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 ...................................................................................... 33
CHƯƠNG 2 : MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO
TRẺ 3 - 4 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN .................... 34
2.1. Đặc điểm vốn từ và sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo (3-4 tuổi) . 34


2.1.1. Đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáo (3-4 tuổi) ............................................ 34
2.1.2. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo (3-4 tuổi) .................................. 34
2.1.3. Đặc điểm về khả năng kể chuyện của trẻ mẫu giáo (3-4 tuổi).................. 35
2.2. Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ (3-4 tuổi) thông qua hoạt động
kể chuyện............................................................................................................. 36
2.2.1. Sử dụng đồ dùng trực quan trong giờ kể chuyện ...................................... 36
2.2.2 Kể chuyện diễn cảm ................................................................................... 43

từ ngữ của cá nhân phản ánh năng lực tư duy, năng lực trí tuệ của cá nhân đó.
Chính vốn từ đã mở rộng tầm hiểu biết của cá nhân đó.
1.2. Nhu cầu nhận thức của trẻ tăng dần theo lứa tuổi, để đáp ứng nhu
cầu chính đáng đó thì những người trực tiếp quản lí và giáo dục trẻ phải luôn
làm mới kiến thức và mở rộng kho tàng tri thức cho trẻ. Để thực hiện được điều
đó đối với đối tượng chưa có khả năng đọc thì phải thông qua lời kể của người
lớn, thông qua các tác phẩm văn học, có kết hợp hình ảnh trực quan. Trẻ có nhu
cầu rất lớn trong nhận thức thế giới xung quanh. Khi đã có một vốn ngôn ngữ
nhất định, trẻ sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện biểu hiện nhận thức của mình.
Thông qua ngôn ngữ, trẻ nhận thức được về thế giới xung quanh một cách sâu
rộng, rõ ràng và chính xác. Ngôn ngữ giúp trẻ tích cực, sáng tạo trong hoạt động
trí tuệ. Chính vì vậy, trong công tác giáo dục thế hệ măng non của đất nước,
chúng ta càng thấy rõ vai trò của ngôn ngữ đối việc giáo dục trẻ nhỏ. Ngôn ngữ
đã góp phần đào tạo con người phát triển toàn diện.
1.3. Trẻ lứa tuổi mầm non xuất hiện nhu cầu dùng ngôn ngữ để biểu đạt
thái độ, tình cảm một cách sinh động và truyền cảm. Trẻ đã biết sử dụng ngữ âm
và ngữ điệu khi biểu đạt cảm xúc khi đọc một bài thơ hay kể một câu chuyện.
Vốn từ trẻ mẫu giáo bé tích lũy được khá phong phú không chỉ về danh từ mà
còn về tính từ, động từ… trẻ nắm được vốn từ trong tiếng mẹ đẻ đủ để diễn đạt
các mặt trong đời sống hàng ngày. Nhu cầu đó vừa phản ánh sự phát triển về
ngôn ngữ của trẻ vừa cho thấy khả năng có thể tác động, rèn luyện cho trẻ cách
1


nói tiếng Việt thông qua các tác phẩm thơ, truyện. Phát triển tính linh hoạt, tính
nghệ thuật trong ngôn ngữ nói của trẻ em lứa tuổi 3 - 4 tuổi là một nhiệm vụ cực kì
quan trọng của người giáo viên mầm non. Nhiệm vụ này được thực hiện thông qua
nhiều hình thức dạy học, nhưng chủ yếu nhất và cũng đạt hiệu quả cao nhất là hình
thức cho trẻ tiếp xúc với các tác phẩm truyện qua hoạt động kể chuyện.
1.4. Trong nhà trường mầm non, việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn

Ở Việt Nam cũng có những nghiên cứu:
Trong “Văn học thiếu nhi với giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non’’ của tác
giả Lã Thị Bắc Lý, NXB ĐHSP (2008) dựa trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm tiếp
nhận văn học của trẻ mầm non để khẳng định vai trò quan trọng của văn học đối
việc giáo dục trẻ một cách toàn diện. Theo đó các tác phẩm truyện tham gia tích
cực vào phát triển các lĩnh vực phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ, phát
triển tình cảm xã hội, phát triển thẩm mỹ và phát triển thể chất cho trẻ là cần
thiết và có ý nghĩa.
Hoàng Thị Hồng Mát - Dạy trẻ 5 - 6 tuổi kể chuyện sáng tạo nhằm phát
triển ngôn ngữ mạch lạc.
Tạ Thị Thanh Ngọc với tác phẩm “Dạy trẻ phát âm đúng và làm giàu vốn
từ cho trẻ”.
Phạm Thị Phú và Lê Thị Ánh Tuyết với “Phương pháp làm quen với văn
học ở mẫu giáo”.
Gần đây vấn đề giúp trẻ mẫu giáo tiếp nhận văn học cũng được nhiều
sinh viên quan tâm: Nguyễn Thị Kim Anh - K45 Đại học Giáo dục Mầm non,
Đại học Tây Bắc (2008) với khóa luận “Nâng cao chất lượng hoạt động cho trẻ
làm quen với tác phẩm văn học lứa tuổi 5 - 6 tuổi”…
Các khóa luận này trên nhiều góc độ khác nhau đã nêu ảnh hưởng to lớn
của văn học đến sự hình thành, phát triển nhân cách của trẻ mầm non cũng như
tầm quan trọng của việc giúp trẻ phát triển ngôn ngữ và khả năng cảm thụ văn
học qua các câu chuyện, bài thơ của lứa tuổi mầm non.
Những công trình nghiên cứu này đã dựa vào đặc điểm phát triển tâm
sinh lí và ngôn ngữ của trẻ. Đó là những đóng góp vĩ đại trên các phương diện lí
3


luận và thực tiễn. Song nghiên cứu về ngôn ngữ nói chung và việc phát triển
ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động kể chuyện nói riêng vẫn còn
chưa nhiều, gần như chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về vấn

động kể chuyện nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1.Phương pháp nghiên cứu lí luận: Thu thập và phân tích dữ liệu, sách
báo, tạp chí,... có liên quan đến vấn đề nghiên cứu để xây dựng cơ sở lí luận cho đề.
6.2. Phương pháp khảo sát bằng phiếu anket: Nhằm tìm hiểu thực trạng
về việc dạy ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo (3 - 4 tuổi) qua hoạt động tổ chức kể
chuyện, thực trạng hiệu quả của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các
biện pháp đề xuất.
6.3. Phương pháp quan sát: Quan sát và ghi chép việc sử dụng các biện pháp
phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo (3 - 4 tuổi) qua tổ chức hoạt động kể chuyện.
6.4. Phương pháp thống kê toán học: Dùng phương pháp thống kê xử lí
số liệu thu được.
6.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
Tác động vào nhóm thực nghiệm 6 biện pháp phát triển ngôn ngữ đã
được đề xuất và soạn giảng theo giáo án nhằm kiểm tra tính khả thi của các biện
pháp này.
7. Những đóng góp của đề tài
Khóa luận được nghiệm thu sẽ bổ sung thêm biện pháp phát triển ngôn
ngữ cho trẻ mẫu giáo (3 - 4 tuổi) thông qua hoạt động kể chuyện.
Khóa luận còn làm tài liệu tham khảo về công tác nghiên cứu khoa học về
ngôn ngữ ở lứa tuổi mẫu giáo cho sinh viên khoa Tiểu học - Mầm non trường Đại
hoc Tây Bắc nói riêng và những độc giả quan tâm đến vấn đề này nói chung.
Đề xuất và vận dụng được một số phương pháp giúp trẻ mẫu giáo (3 - 4
tuổi) phát triển ngôn ngữ qua tổ chức hoạt động kể chuyện.
8. Giả thuyết khoa học
Trên thực tế, tại các trường mầm non, việc chú trọng phát triển ngôn
ngữ cho trẻ mẫu giáo (3 - 4 tuổi) thông qua hoạt động kể chuyện chưa được
5



1.1.1.1. Khái niệm về ngôn ngữ
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản và
quan trọng nhất của các thành viên trong cộng đồng người. Ngôn ngữ đồng thời
là phương tiện phát triển tư duy, truyền đạt truyền thống văn hóa lịch sử từ thế
hệ này sang thế hệ khác.
Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục trẻ trở thành
những con người phát triển toàn diện. Ngôn ngữ chính là cơ sở của mọi sự suy
nghĩ và là công cụ của mọi tư duy. Trẻ em có nhu cầu rất lớn trong việc nhận
thức thế giới xung quanh. Trong quá trình nhận thức sự vật, hiện tượng trẻ phải
dùng lời nói để nói lên những suy nghĩ cũng như cảm tưởng của mình về những
vấn đề đó.
1.1.1.2. Chức năng của ngôn ngữ
Một trong những chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ là nó được
làm phương tiện chính cho sự tồn tại, truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm
lịch sử xã hội của toàn nhân loại cũng như của từng cộng đồng người. Những
kinh nghiệm lịch sử xã hội được đọng lại (chứa đựng) trong các công cụ lao
động, đối tượng lao động, trong các chuẩn mực hành vi của các mối quan hệ qua
lại giữa con người với nhau… phần lớn được ghi lại để truyền bá cho thế hệ sau
nhờ ngôn ngữ. Thoạt tiên, đứa trẻ không thể tự nhận thức được thế giới, nó
thường đặt nhiều câu hỏi cho bố mẹ và những người xung quanh. Nhờ những
câu trả lời, giải thích… của người lớn mà trẻ nhận thức được một phần tri thức
chung, trẻ tiếp tục sử dụng trong quá trình hoạt động của mình. Những tri thức
mà trẻ chiếm lĩnh được trong đời sống hằng ngày cũng như thông qua dạy học,
giáo dục cũng được giữ lại dưới dạng ngôn ngữ. Như vậy, hoạt đông ngôn ngữ
có tác dụng xã hội hóa phản ánh của mỗi cá nhân và làm cho nó trở thành có ý
7


nghĩa. Chức năng cơ bản thứ hai của ngôn ngữ là nó được dùng làm phương tiện
chính để giao lưu và điều chỉnh hành vi của con người.

bộc lộ như một hoạt động điều chỉnh hành vi và hành động của con người.
1.1.1.3. Vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục trẻ
Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong cuộc sống của con người, nhờ có ngôn
ngữ mà con người có thể trao đổi với nhau những hiểu biết, truyền cho nhau
những kinh nghiệm, tâm sự với nhau những điều thầm kín…
Trong công tác giáo dục thế hệ mầm non cho đất nước chúng ta càng
thấy rõ vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục trẻ thơ. Ngôn ngữ đã góp
phần đào tạo các em trở thành con người hoàn thiện.
a. Vai trò của ngôn ngữ đối với việc phát triển trí tuệ
U. Sinxki đã nhận định “tiếng mẹ đẻ là cơ sở của mọi sự phát triển, là
vốn quý của mọi tri thức”(phát triển ngôn ngữ. Nguyên bản tiếng Nga. NXB
Matxcơva, tr.3)
Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong việc giáo dục trí tuệ cho trẻ. Trước hết,
ngôn ngữ là phương tiện giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh. Song sự lĩnh
hội những tri thức đó lại không thể thực hiện được khi không có ngôn ngữ.
Ngôn ngữ chính là cơ sở của mọi suy nghĩ và công cụ của tư duy. Trẻ em
có nhu cầu rất lớn trong việc nhận thức thế giới xung quanh, trong quá trình
nhận thức những sự vật hiện tượng, muốn cho các cháu phân biệt các vật này
với vật khác, biết được tên gọi, hình dạng, công dụng, và những thuộc tính cơ
bản của vật, nếu chỉ cho các cháu xem xét mà không dùng từ ngữ để giải thích,
hướng dẫn và khẳng định những kết quả đã quan sát được thì những tri thức mà
các cháu thu được đó nhất định sẽ hời hợt, nông cạn, có khi còn sai lệch hẳn.
Trong khi nhận thức các sự vật đó, trẻ phải dùng từ để gọi tên sự vật, tên các chi
tiết, đặc điểm, tính chất, công dụng của sự vật, từ đó trẻ biết phân biệt sự vật này
với sự vật khác.
Khi đứa trẻ đã lớn nhận thức của trẻ phát triển. Trẻ không chỉ nhận thức
những sự vật, hiện tượng trẻ không trực tiếp nhìn thấy. Trẻ muốn biết cả về quá
khứ cả về tương lai: trẻ muốn biết cả công việc của người lớn, của bố mẹ, của
Bác Hồ, của chú bộ đội… Để đáp ững ngững nhu cầu đó trẻ không có cách nào
9

con cháu mình hơn, để từ đó có thể uốn nắn, giáo dục và xây dựng cho các cháu
10


những tình cảm và những hành vi đạo đức trong sáng nhất.
c. Vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục thẩm mĩ
Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong quá trình tác động có mục đích, có
hệ thống nhằm phát triển ở trẻ năng lực cảm thụ cái đẹp và hiểu đúng đắn cái
đẹp trong tự nhiên, trong đời sống xã hội, giáo dục trẻ lòng yêu cái đẹp và năng
lực tạo ra cái đẹp.
Thông qua ngôn ngữ trẻ nhận thức được cái đẹp ở thế giới xung quanh,
qua đó làm cho tâm hồn trẻ càng thêm bay bổng, trí tưởng tượng càng phong
phú. Đồng thời trẻ càng yêu quý cái đẹp, trân trọng cái đẹp và có ý thức sáng tạo
ra cái đẹp.
Thông qua ngôn ngữ văn học, trẻ cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong
ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ, cái đẹp trong hành vi và cái đẹp trong cuộc sống.
Có thể khẳng định rằng ngôn ngữ đóng vai trò không nhỏ vào quá trình
giáo dục cho trẻ những tình cảm thẩm mĩ cao đẹp.
d. Vai trò của ngôn ngữ đối với việc phát triển thể lực
Để phát triển thể lực cho trẻ cần kết hợp nhiều phương pháp khác nhau,
trong đó ngôn ngữ góp một vai trò quan trọng đáng kể.
Trong các hoạt động góp phần phát triển thể lực như các trò chơi vận
động, các giờ thể dục, trong chế độ ăn,...giáo viên đều cần dùng đế ngôn ngữ để
hướng dẫn trẻ thực hiện tốt những yêu cầu cần đạt.
Hoạt động nói năng liên quan đến các cơ quan hô hấp, thính giác, bộ máy
phát âm. Quá trình phát âm là quá trình rèn luyện bộ máy cầu âm, rèn luyện
phổi, khí quản và các bộ phận khác của cơ thể.
Để có thể lực tốt cần có một chế độ sinh hoạt hợp lý, ngôn ngữ cũng
tham gia vào quá trình chăm sóc sinh hoạt để trẻ phát triển thể lực.
e. Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hòa nhập với cộng đồng và trở thành

1.1.2.2. Phân loại truyện trong chương trình giáo dục mầm non
a. Truyện cổ tích
Truyện cổ tích là sự đúc kết, khái quát những khát vọng từ xa xưa của
loài người, luôn ước mơ vươn tới một cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc, thấm đượm
tình yêu thương.
12


Truyện cổ tích mang đậm yếu tố kì ảo, hư ảo, trong truyện luôn có một
đáng siêu nhiên như: bà tiên, ông bụt nhưng có thể chỉ là một cây gậy, hạt dẻ,
cái sọ dừa. Đấng siêu nhiên đó luôn ở mọi nơi mọi chỗ, luôn dõi theo mọi người
để khi cần thì sẽ kịp thời ra tay cứu giúp. Đây chính là yếu tố nhân văn cơ bản
của truyện cổ tích làm cho nó tạo được một sức hấp dẫn bền lâu đối với loài
người, đặc biệt là đối với trẻ thơ. Như chúng ta đều biết trẻ thơ luôn có một tâm
hồn trong sáng, luôn nhạy cảm với cái tốt, cái đẹp, cái cao thượng, có thể nói
rằng truyện cổ tích là một bài học đạo đức có tác động mạnh mẽ và hiệu quả đối
với trẻ thơ.
Ví dụ qua truyện “Thạch Sanh” với những nội dung cốt truyện hấp dẫn,
với những tình tiết diễn biến li kì của truyện nó đã làm nên một sức hút mạnh
mẽ đối với trẻ. Trẻ có thể ngồi nghe một cách tập trung, trẻ luôn dõi theo những
nhân vật, có sự căng thẳng, hồi hộp với những tình tiết “gay cấn”. Trẻ dường
như đang sống trong câu truyện Thạch Sanh. Trẻ cũng muốn trở thành một
người dũng cảm như Thạch Sanh.
b. Truyện đồng thoại
Đồng thoại là thể loại truyện cho trẻ em trong đó loài vật và các vật vô tri
vô giác được nhân cách hóa để tạo nên một thế giới thần kỳ, thích hợp với trí
tưởng tượng của các em.
Bằng những hình tượng ngộ nghĩnh ngây ngô của các con vật, truyện
đồng thoại đã khơi dậy ở trẻ những cảm xúc thú vị, khiến cho trẻ từ một thính
giả thụ động trở thành một người tham gia tích cực vào các sự kiện của các nhân

tinh thần đoàn kết, ý thức về quan hệ giống nòi.
Như vậy, chúng ta thấy rằng mỗi thể loại truyện đều có những đặc điểm
ý nghĩa giáo dục riêng đối với trẻ. Mỗi trẻ, mỗi độ tuổi đều có những cách dạy
khác nhau. Với trẻ 2 - 3 tuổi thì phải chọn những câu chuyện ngắn, dễ hiểu. Còn
trẻ 3-4 tuổi thì chọn những câu chuyện có nội dung sâu hơn một chút. Ngoài ra
mỗi trẻ còn có tâm lý sở thích khác nhau. Chính vì thế mà giáo viên phải hiểu
được tâm sinh lý để từ đó mà lựa chọn những câu chuyện phù hợp với trẻ.
Thông qua hoạt động kể chuyện bồi dưỡng cho trẻ nhữnng tri thức thông
thường về tự nhiên và đời sống xã hội. Song chức năng cơ bản của môn kể
14


chuyện là kích thích sự linh hoạt của trí tuệ, mở ra một chân trời mới cho trí
tưởng tượng, làm phong phú các hình thức màu sắc của lý tưởng sống đang từng
bước hình thành trong tâm trí trẻ. Những ánh mắt vui tươi, những tiếng cười
sảng khoái, không khí thư giãn thoải mái trong giờ kể chuyện tạo ra sự gần gũi
thông cảm, lòng tin cậy giữa người kể và người nghe đặc biệt giữa cô và trẻ. Kể
chuyện cũng là một biện pháp tốt giúp trẻ rèn luyện thói quen chú ý và đó là
điều kiện cần cho sự tiếp thu tri thức khoa học.
1.1.2.3. Vai trò của kể chuyện trong việc giáo dục trẻ
Kể chuyện có vai trò rất quan trọng đối với đời sống của con người nói
chung và đặc biệt đối với trẻ lứa tuổi mầm non nói riêng. Nó như một món ăn
tinh thần không thể thiếu trong đời sống của trẻ, ngay từ khi mới sinh ra trẻ đã
được các bà, các mẹ,... kể cho nghe những câu chuyện cổ tích những câu chuyện
đời thường... tất cả những điều đó dường như nó đã ăn sâu vào tiềm thức của
mỗi đứa trẻ, nó nuôi dưỡng tâm hồn và phát triển tình cảm của trẻ. Trước hết
phải nói rằng kể chuyện góp phần thỏa mãn nhu cầu nghe kể chuyện của trẻ. Và
không chỉ dừng lại ở đó kể chuyện còn có vai trò rất quan trọng, nó là một
phương tiện giáo dục toàn diện đối với sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ.
a. Kể chuyện có tác dụng giáo dục đạo đức

cho chúng qua con đường giảng giải, nhưng chúng lại dễ dàng tiếp nhận điều đó
thông qua câu chuyện và điều đó sẽ trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn nếu ta biết
biến nó thành trò chơi thông qua các câu chuyện kể. Chính vì thế mà người giáo
viên mầm non cần phải có nghiệp vụ sư phạm tốt, biết cách lựa chọn những tác
phẩm truyện kể phù hợp với tâm, sinh lý của trẻ. Cô phải tự trau dồi khả năng kể
chuyện của mình. Cô cần phải kể chuyện với ngôn ngữ giản dị, truyền cảm, có
như vậy mới thu hút được sự chú ý của trẻ, từ việc gây được sự thu hút đó của
trẻ mà giáo dục đạo đức cho trẻ được dễ dàng hơn.
b. Kể chuyện trong việc giáo dục trí tuệ cho trẻ
Trẻ luôn khao khát nhận thức, khám phá thế giới hiện thực xung quanh.
Thế giới xuất hiện trước mắt trẻ thơ với toàn bộ sự phong phú và phức tạp của
nó. Trong điều kiện ấy, ngoài ca dao, thơ thì truyện kể cũng là bài học đầu tiên
giúp trẻ nhận thức thế giới, chính xác hóa biểu tượng đã có về biểu hiện thực tế
16


xã hội và nó dần dần từng bước cung cấp cho trẻ những khái niệm mới và mở
rộng kinh nghiệm sống.
Theo H. Read một đại diện lớn của nền giáo dục Anh nhận định rằng:
“Mục đích của giáo dục thông qua tác phẩm nghệ thuật chính là khả năng nhận
thức mới liên hệ trong thế giới”.
Ví dụ: Truyện “Chú đỗ con” của Viết Linh đã giúp trẻ có những kiến
thức về khoa học, trẻ sẽ biết được quá trình nảy mầm của hạt thành cây dưới
mưa xuân và ánh nắng mặt trời.
Hay câu chuyện Trăng thức giải thích cho trẻ hiểu những hiện tượng
thiên nhiên về hôm trăng tròn, trăng khuyết, chu kì xuất hiện của trăng.
Hay trong đồng thoại “Mắt Diếc đỏ hoe” của Võ Quảng đã giải thích cho
trẻ thấy về đôi mắt đỏ hoe của con cá Giếc là do quá xấu hổ vì thói lười biếng
không chịu luyện tập, đến khi gặp nguy hiểm, không thể cứu lấy mình còn cá Rô
có những chấm lốm đốm là do Rô chăm chỉ tập luyện và là hoa mà các bạn rải

xung quanh mình, đó là vẻ đẹp của con vật, đồ vật,... Chúng ta sẽ thấy điều đó
qua những câu chuyện kể cho trẻ như: Quạ và công, Tấm Cám,...
VD: Trong truyện “Gấu con bị đau răng” nói về một bạn Gấu lười đánh
răng sau khi ăn bánh kẹo xong cậu nhảy lên giường đi ngủ. Gấu con đã bị những
con sâu răng gặm, cạy, đục khoét những chiếc răng bám đầy bánh kẹo. Gấu ta
gào thảm thiết vì nhau nhức răng. Qua câu chuyện giáo dục trẻ phải biết đánh
răng trước khi đi ngủ và mỗi sáng hàng ngày, biết chăm sóc bản thân như vậy
mới khỏe mạnh không bị ốm đau.
d. Kể chuyện trong việc phát triển ngôn ngữ
Kể chuyện không chỉ là một phương tiện hiệu quả mạnh mẽ trong việc
giáo dục trí tuệ, đạo đức, thẩm mĩ mà nó còn ảnh hưởng vô cùng to lớn đến sự
phát triển ngôn ngữ của trẻ. Nhà văn M.Goocki đã khẳng định “Văn học là nghệ
thuật của ngôn từ”. Ngôn từ là chất liệu để xây dựng lên hình tượng văn học.
Các hình tượng làm phong phú thêm xúc cảm, tình cảm đem đến cho trẻ những
hình tượng tuyệt diệu của ngôn từ dân tộc. Từ những hình tượng trong truyện trẻ
nhận thức được tính rõ ràng, chính xác của từ, sự hoàn hảo của câu với cấu trúc

18


ngữ pháp phong phú. Những câu chuyện cổ dân gian là sự mẫu mực của ngôn
ngữ giản dị, có nhịp điệu nó mở ra trước mắt trẻ sự biểu cảm ngôn ngữ.
Kể chuyện giúp trẻ rèn kỹ năng nghe nói, phát triển ngôn ngữ mạch lạc.
Ngôn ngữ mạch lạc là phương tiện vạn năng, đặc sắc, trọn vẹn và có hiệu quả giao
tiếp có văn hóa. Chúng ta đều biết rằng các tác phẩm truyện kể vốn là các văn bản
nghệ thuật, văn bản thẩm mĩ chứa đựng những nội dung, tư tưởng, chủ đề nhất định
và nó được diễn đạt bằng ngôn ngữ hàm xúc, giàu hình ảnh, giàu sức biểu cảm,
sinh động. Tiếp xúc với ngôn ngữ nghệ thuật ở trẻ nảy sinh thái độ sáng tạo ngôn
ngữ, sáng tạo trong biểu cảm lời nói, ý thức lời hay ý đẹp, hứng thú sáng tạo ra
những câu chuyện sáng tạo, hình thành ở trẻ phong cách sống.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status