SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUAN SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
CHO TRẺ 3 – 4 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON
NA MÈO 2, HUYỆN QUAN SƠN
Người thực hiện: Phạm Thị Cảnh
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Mầm non Na Mèo 2
SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn
THANH HÓA, NĂM 2018
0
MỤC LỤC
MỤC
NỘI DUNG
Trang
Mục lục
1
2
Cơ sở lý luận của Sáng kiến kinh nghiệm
Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm
Các giải pháp giải đã được sử dụng để giải quyết vấn để
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động
giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
Kết luận và kiến nghị
2
1
2
2.1
2.2
2.3
2. 4
3
4
6
15
17
3.1
Kết luận
với các môn học khác, giúp trẻ khả năng phát triển tư duy và ngôn ngữ, cảm thụ
được cái hay, cái đẹp xung quanh trẻ. Phát triển ngôn ngữ là một trong các
nhiệm vụ quan trọng hàng đầu phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ mầm non.
Xuất phát từ những lý do trên và để trẻ phát triển tốt về ngôn ngữ, tôi đã
lựa chọn đề tài “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 – 4 tuổi ở
trường Mầm non Na Mèo 2” để thực hiện trong năm học này.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Trường mầm non Na Mèo 2 thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục
mầm non mới. Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những mục tiêu
phát triển toàn diện cho trẻ mầm non. Năm học 2017 – 2018 tôi được phân công
chủ nhiệm lớp Mẫu giáo bé, sỉ số 16 cháu. Đa số cháu đã biết nói, nhưng phát
âm chưa rõ ràng, một số cháu còn nói ngọng, nói chưa trọn câu… Do vậy là giáo
viên dạy trẻ 3 - 4 tuổi tôi đã nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc phát
triển ngôn ngữ cho trẻ.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
+ Các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 – 4 tuổi
* Đối tượng thực nghiệm:
+ Trẻ lớp mẫu giáo 3 – 4 tuổi trường Mầm non Na Mèo 2.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp thực hành
+ Phương pháp nghiên cứu
+Phương pháp hội thảo
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Muốn phát triển ngôn ngữ cho trẻ tốt, tôi phải dựa trên cơ sở lý luận sau:
2
a) Cơ sở tâm lý:
ngoài, do đó ở trẻ luôn xuất hiện câu hỏi “ Tại sao” với chúng ta.
Hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non được tổ chức nhằm thực
hiện những nhiệm vụ giáo dục sau: Hình thành ở trẻ khả năng về ngôn ngữ,
giúp trẻ phát triển vốn từ, giúp trẻ có khả năng phát âm đúng, chính xác, rõ
ràng, nói đủ câu, đúng ngữ pháp.
c) Cơ sở thực tiễn:
Hoạt động phát triển ngôn ngữ là một hoạt động được dạy xuyên suốt từ
khi trẻ lọt lòng đến mẫu giáo. Đối với trẻ ngôn ngữ là công cụ để trẻ giao tiếp,
học tập và vui chơi. Ngôn ngữ giữ vai trò quyết định sự phát triển của tâm lý trẻ
em. Bên cạnh đó ngôn ngữ còn là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn
diện bao gồm sự phát triển về đạo đức, tư duy nhận thức và các chuẩn mực hành
vi văn hoá.
Ngôn ngữ của trẻ tiến bộ nhanh hay chậm tùy thuộc vào điều kiện sống,
quan hệ giao tiếp với những người xung quanh. Đây là giai đoạn trẻ đang học
3
nói hay bắt chước người lớn và chính thời điểm này cô giáo sẽ dạy trẻ, uốn nắn
trẻ cách nói rõ câu, cách phát âm rõ ràng…
Muốn làm được điều đó người giáo viên phải có ý thức trau dồi ngôn ngữ,
tự học, tự rèn luyện cho mình cách nói rõ ràng, ngắn gọn, chính xác, nói chuyện
với trẻ đúng đắn, thân ái, lịch sự.
2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
a) Thực trạng chung:
Năm học 2017 – 2018, bản thân tôi được phân công chủ nhiệm nhóm lớp 3–4
tuổi. Trường mầm non Na mèo 2 Với số trẻ là: 16 cháu (Trong đó có 7 cháu trai và
9 cháu gái). Đây là ngôi trường thuộc diện miền núi đặc biệt khó khăn, với điều
kiện cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn, phần lớn là sự trong chờ vào đầu tư hỗ trợ
của cấp trên. Đa số dân cư ở đây là công nhân viên chức nhà nước, một số sống
bằng nghề kinh doanh buôn bán nhỏ, số ít là dân tộc thiểu số. Trình độ dân trí
nói ngọng, nói lắp. Trí nhớ của trẻ cũng hạn chế, trẻ chưa biết hết khối lượng các
âm, cũng như trật tự các từ trong câu. Vì thế trẻ bỏ bớt từ, bớt câu khi nói.
4
- Do trình độ nhận thức không đồng đều, một số trẻ mới lần đầu tiên đến
lớp. Nên việc hình thành các thói quen, nế nếp rất vất vả, một số cháu nói chưa
rõ, còn nói ngọng. Ở nhóm lớp tôi phụ trách 10% số trẻ trong lớp chưa qua nhà
trẻ nên trẻ còn nhút nhát, không giao lưu với cô giáo và các bạn, không tích cực
tham gia các hoạt động.
- Một số phụ huynh bận công việc ít quan tâm chăm lo, trò chuyện với trẻ
và nghe trẻ nói để uốn nắn cho trẻ về ngôn ngữ.
- Môi trường cho trẻ hoạt động còn nghèo nàn, đồ dùng để phục vụ cho
hoạt động ngôn ngữ còn hạn chế: Chưa có đầy đủ tranh, ảnh, sa bàn, máy chiếu,
tivi, đầu đĩa...phục vụ cho các hoạt động phát triển ngôn ngữ.
- Phòng học đang có nguy cơ xuống cấp và không đủ ảnh hưởng đến việc
học của học sinh.
- Phần lớn phụ huynh chưa nhận thức được đầy đủ về tầm quan trọng của
việc học, họ đang xem nhẹ ngành học mầm non. Một số phụ huynh tuy cũng có
quan tâm tới việc học của trẻ, song phương pháp dạy trẻ chưa đúng phương
pháp vì vậy chưa tạo điều kiện để trẻ phát huy hết khả năng ngôn ngữ của mình.
b) Kết quả thực trạng ban đầu qua khảo sát
Đầu năm tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng ban đầu trên trẻ để nắm bắt
khả năng phát triển của trẻ từ đó có các phương pháp biện pháp phù hợp.
Kết quả khảo sát đầu năm như sau:
Kết quả khảo sát đầu năm
Số
Cháu đạt
Không đạt
T Nội dung
2 Số trẻ phát
16
2
12%
3 11,6% 4
25%
6
37%
2 âm rõ
Số trẻ
3
không nói
16
2
12%
2
12%
4
25%
8
50%
3
ngọng
Số trẻ phát
4
16
2
12%
2
12%
Ví dụ:
- Tôi kể cho trẻ nghe vài câu chuyện ngắn tương đối dễ, sau đó đặt ra các
câu hỏi như:
+ Cô vừa kể cho các con nghe câu chuyện gì?
+ Trong câu chuyện có những ai? ..
- Hoặc cho trẻ kể về gia đình bé:…
+ Gia đình con có mấy người? Là những ai?
+ Bố con tên là gì? Mẹ con tên là gì? Anh (chị) con tên là gì?...
Trong quá trình đó tôi luôn chú ý quan sát đàm thoại với trẻ và tiến hành
khảo sát đặc điểm ngôn ngữ của trẻ, từ đó đề ra phương hướng giáo dục cho
từng các nhân và cho cả lớp một cách thích hợp.
Mặt khác, gia đình là một yếu tố rất quan trọng để giúp trẻ phát triển ngôn
ngữ. Từ những lời ru của bà, câu chuyện kể của ông, lời trò chuyện của cha mẹ,
anh chị là những bài học hiệu quả nhất để giáo dục trẻ, giúp trẻ phát triển hơn về
ngôn ngữ tiếng việt. Một số trẻ ở đây có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn thường ít
được quan tâm chăm sóc, nên khả năng phát triển ngôn ngữ của các cháu còn
gặp nhiều hạn chế….
Từ hoàn cảnh và đặc điểm tình hình nhận thức của trẻ, qua đó tôi có kế
hoạch giảng dạy và bồi dưỡng thích hợp cho trẻ.
b) Trò chuyện với trẻ :
- Tôi phải tích cực trò chuyện cùng trẻ ở mọi lúc mọi nơi, nhất là trong giờ
đón trẻ, trò chuyện sáng. Cô đặt ra các câu hỏi và yêu cầu trẻ lời các câu hỏi của
cô rõ ràng, rành mạch.
Ví dụ:
+ Sáng nay ai đưa con đi học? (Mẹ con ạ).
+ Mẹ con đưa con đi học bằng phương tiện gì? (Bằng xe máy a).
+ Con tên gì? Bố (mẹ) con tên là gì? Anh (chị) của con tên là gì?
6
học tập, trò chơi dân gian để tổ chức cho trẻ chơi.
Tôi cho trẻ tham gia chơi cùng bạn bè trong lớp theo từng nhóm nhỏ.
Thông qua hoạt động ở các góc chơi và khi trẻ chơi tự do. Đây là cơ hội cho trẻ
được trò chuyện với các bạn và phát triển khả năng giao tiếp của trẻ, trẻ sớm học
được cách truyền tải, suy nghĩ, cảm giác thành lời khi chơi với đồ chơi.
Ví dụ: Tôi cho trẻ chơi ru em. Mỗi nhóm ngồi 3 - 5 trẻ, mỗi trẻ ôm 1 con
búp bê, tôi nói trẻ: Ru em à ơi và lắc lư người, từ đó cũng làm cho trẻ gia tăng trí
tưởng tượng và nâng cao khả năng giao tiếp với mọi người xung quanh.
- Cho trẻ chơi các trò chơi dân gian theo từng nhóm như: Trò chơi “Chi chi
chành chành”, “Nu na nu nống”, “ Rồng rắn lên mây”... trẻ vừa chơi vừa làm
động tác vừa đọc lời của trò chơi.
- Trò chơi “ Nu na nu nống” cho một nhóm 4 – 5 trẻ ngồi xúm vòng tròn
và kết hợp đọc lời trò chơi:
“Nu na nu nống
Đánh trống phất cờ
Mở hội thi đua
Chân ai sạch sẽ
Gót đỏ hồng hào
Được vào đánh trống.”
...
8
- Tương tự như vậy với các trò chơi khác.
Khi trẻ tham gia các trò chơi như vật sẽ giúp trẻ được đọc và làm quen với
ngôn từ nhiều hơn, trẻ cũng vui vẽ, thoái mái và tự tin hòa đồng cùng bạn bè
hơn. Hay trong trò chơi xếp hình, xâu hạt. Tôi cũng tổ chức cho từng nhóm trẻ
ngồi cùng nhau thường xuyên để trẻ được hoạt động với đồ vật để trẻ phát triển
tư duy ngôn ngữ và trẻ có thói quen sử dụng các trò chơi.
Ví dụ: Trong hoạt động khám phá khoa học: “Đồ dùng của bé” tôi thấy trẻ
tham gia hoạt động học một cách tích cực. Tôi sử dụng các câu hỏi đàm thoại:
+ Khi đi học con mang theo những gì?
+ Khi nắng bé phải đội gì?
+ Bé dùng gì để rửa mặt?
Qua đó các chuẩn mực hành vi và thói quen tự phục vụ cho trẻ cũng được
hình thành.
- Tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi tự lập để phát triển lời nói
- Tôi đã hướng dẫn trẻ cách chơi, các kĩ năng cơ bản, trong quá trình chơi
trẻ đã được phát âm nhiều lần các từ khác nhau
Ví dụ: Khi cho trẻ làm quen với chủ đề “Động vật” Tôi cho trẻ quan sát các con
vật ở trên máy vi tính, các con vật này đang hoạt động đúng với bản chất của
chúng.
+ Như hình ảnh con mèo đang ngồi rình bắt chuột.Tôi hỏi trẻ:
“Đây là con gì?”. Trẻ trả lời: “Đây là con mèo”
“Con mèo đang làm gì?”. Trẻ trả lời: “Con mèo đang rình chuột”
“Con mèo kêu như thế nào?”. “Con mèo đang kêu meo...meo”
+ Hay cho trẻ quan sát hình ảnh con thỏ đang ăn cà rốt. Tôi hỏi trẻ:
“Đây là con gì?” Trẻ trả lời: “Đây là con thỏ”
“Con thỏ như thế nào? Tai làm sao? Mắt làm sao? Thỏ đang ăn gì?
+ Ngoài các con trên con còn biết thêm con vật gì nữa nào? (Cho trẻ tự kể
theo hiểu biết của trẻ)
Tương tự với các chủ đề khác tôi cũng thực hiện cho trẻ được quan sát như
trên, đồng thời tôi kết hợp với các câu hỏi gợi mở cho trẻ trả lời, nếu trẻ chưa
biết tôi sẽ nhắc cho trẻ để trẻ nhắc theo.
g) Phát triển ngôn ngữ thông qua 1 số hoạt động (hoạt động học, hoạt
động góc, hoạt đông ngoài trời...):
Như chúng ta đã biết trẻ chính là trung tâm của quá trình giáo dục. Giáo
dục phát triển ngôn ngữ được tích hợp với các hoạt động giáo dục khác và được
tích hợp theo chủ đề.
*Xe đạp:
Đây là xe gì?
+ Cho cả lớp nhắc lại từ “ Xe đạp ” và gọi 4 – 5 trẻ nhắc lại.
+ Ai có nhận xét gì về xe đạp?
+ Xe đạp có mấy bánh?
+ Chuông xe đạp kêu như thế nào? Cho trẻ bắt trước tiêng còi)
*Xe máy:
+ Bạn nào còn biết loại xe nào có 2 bánh nữa
+ Xe máy dùng để làm gì?
+ Xe máy chở được nhiều người hay ít người
*Xe ô tô:
+ Đố các con biết xe gì 4 bánh/ chạy bon bon/ máy nổ giòn/ kêu píp píp.
+ Cô cho trẻ quan sát chiếc ô tô đồ chơi và hỏi trẻ:
+ Ai có nhận xét gì về ô tô?
+ Ô tô chở được nhiều người hay ít người?
+ Ô tô chạy ở đâu?
*Tàu hỏa:
+ Các con nghe xem đây là tiếng kêu của phương tiện giao thông nào?
+ Tu tu xình xịch... Tu tu xình xịch
+ Cho trẻ nhắc lại “ Tàu hỏa” 3 lần. Gọi 1 số cá nhân trẻ nhắc lại
+ Chúng mình cùng làm tiếng kêu của tàu hỏa nào!
+ Ai có nhận xét gì về tàu hỏa?
+ Tàu hỏa chạy ở đâu?
=>Cuối cùng cô khái quát lại và giáo dục trẻ. Tổ chức cho trẻ chơi lô tô các
phương tiện giao thông. Trẻ lấy lô tô và gọi tên theo yêu cầu của cô.
11
Thông qua tiết học bằng hệ thống câu hỏi của cô trẻ có thể mạnh dạn trả lời
cô theo hiểu biết của mình. Kết hợp với sự nhấn mạnh của cô ở những câu trả lời
- Cô kể chuyện diễn cảm, khi kể nên thay đổi giọng để phù hợp với tính
cách, tâm trạng của nhân vật, cho trẻ xem tranh minh họa, con rối, mô hình...
Bước 2: Trò chuyện đàm thoại:
- Cô vừa kể xong câu chuyện gì?
- Trong chuyện có những ai?
- Vì sao Thỏ Nâu không mở cửa cho Bác Gấu vào?
- Ai đã cho Bác Gấu vào trú mưa nhờ?
- Nếu là con gặp Bác Gấu như vậy con sẽ làm gì để giúp Bác Gấu?
- Các con yêu bạn thỏ nào? Vì sao?
Bước 3: Tập cho trẻ kể chuyện:
- Tôi kể lại chuyện cho trẻ nghe (có minh họa)
- Trẻ nhắc lại các câu nói trong truyện. chú ý đến giọng diệu, cử chỉ, thái
độ của từng nhân vật.
12
- Cho trẻ xem tranh truyện và cô kể đoạn đầu để trẻ tiếp theo cô
Bước 4: Chơi đóng kịch
- Tôi sử dụng trang phục (hoặc rối)
- Phân công trẻ đóng vai, mỗi vai là 1 trẻ đóng. Cho trẻ tập các cử chỉ, điệu
bộ, thái độ của từng nhân vật. Tôi cho trẻ lần lượt tập đóng kịch theo nhóm và
tôi sẽ làm người dẫn truyện cho trẻ.
Bước 4: Đọc sách truyện Bác Gấu đen và hai chú Thỏ
- Tôi ngồi ngang hàng cùng với 2 – 3 trẻ. Cho trẻ xem sách, xem tranh vẽ
và đoán tên truyện. sau đó đưa sách cho trẻ xem để trẻ tự “đọc” truyện.
Trong quá trình dạy trẻ học tôi chú ý sửa sai câu từ cho trẻ khi trẻ trả lời
câu hỏi hoặc phát âm từ, luôn giao lưu gần gủi quan tâm trẻ, nhìn vào mắt trẻ
khi trò chuyện với trẻ, động viên khích lệ trẻ kịp thời để trẻ tự tin mạnh dạn
trong giao tiếp.
Phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động ngoài trời:
13
Tôi sẽ chú ý đến ngôn ngữ của trẻ, nếu trẻ nói sai hay gặp khó khăn trong
ngôn từ tôi sẽ nhanh chóng sữa sai cho trẻ ngay. Và đối với các góc chơi khác
cũng vậy.
h) Dạy cho trẻ phát triển ngôn ngữ ở mọi lúc, mọi nơi:
- Để phát triển tốt ngôn ngữ cho trẻ một cách toàn diện, tôi luôn chú trọng
dạy trẻ trong các giờ hoạt động khác như: Làm quen với tiếng viết (Dạy trẻ phát
âm các từ Tiếng việt, trẻ nghe, hiểu và trả lời được các câu hỏi của cô) Trong giờ
ăn (Nhắc trẻ mời cô giáo, mời các bạn trước khi ăn), Đến lớp phải biết chào cô
giáo, chào các bạn, tạm biệt bố (mẹ). Khi ra về phải biết chào tạm biệt cô và các
bạn. Khi trẻ chơi với bạn có lỗi với bạn phải biết xin lỗi, biết nói lời cảm ơn khi
được giúp đỡ. Đặc biệt tôi phải thường xuyên nhắc nhỡ trẻ biết lễ phép, kính
trọng người lớn thông qua ngôn ngữ giao tiếp. Khi nói nói đầy đủ câu từ, đúng
ngữ pháp.
Ví dụ: Khi đến lớp trẻ phải khoanh tay và chào cô: “Cháu chào cô ạ” Khi
trẻ được bố mẹ đón về trẻ chào tạm biệt cô: “ Cháu chào cô, cháu về ạ”
Hoặc trước khi ăn trẻ phải biết mời cô và các bạn: “Cháu mời cô mời cơm
ạ. Tôi mời các bạn mời cơm với tôi”...
- Khi tham gia các hoạt động trong ngày cùng với trẻ tôi đặt câu hỏi để trẻ
được gọi tên các đồ vật, đồ chơi xung quanh, tên bố mẹ, tên cô giáo, tên các bạn,
nhà cháu ở đâu? Cây gì đây? Đây là con gì? Kêu như thế nào? Hoặc chim bay ở
đâu?...Khi trẻ đang chơi với bạn tôi hỏi: Cháu đang chơi với bạn gì? Hoặc khi
chơi với đồ chơi tôi hỏi cháu đang chơi với đồ chơi gì?...Từ đó giúp trẻ phát
triển ngôn ngữ chính xác, mạch lạc, rõ ràng.
- Ở lứa độ tuổi này trẻ nhiều khi hay hỏi và trả lời trống không hoặc nói
những câu không có nghĩa. Vì vậy bản thân tôi thường xuyên nhắc nhở trẻ hoặc
nói mẫu cho trẻ nghe, động viên khuyến khích trẻ nhắc lại. Tôi luôn tạo điều
kiện đáp ứng mọi câu hỏi của trẻ một cách tỉ mỉ, chu đáo, ngắn gọn, dễ hiểu.
trọn ý, trọn câu. Các cháu đọc thơ đã hay hơn. Các giờ âm nhạc cháu đã hát
được đúng giai điệu, rõ lời và nhịp nhàng
Trong giao tiếp với cô trẻ đã trả lời rõ nghĩa. Khi tham gia các trò chơi tập
thể trẻ trò chuyện với bạn rất vui. Trẻ có yêu cầu gì trẻ đều thể hiện qua lời nói
rất rõ ràng.
Kết quả khảo sát cuối năm như sau:
Kết quả khảo sát cuối năm
Không
Số
Cháu đạt
đạt
T
Nội dung
trẻ
Tốt
Khá
TB
Yếu
T
khảo sát
khảo
sát Số
Số
Số
Số
Đạt
%
%
%
trẻ
âm trọn câu
Số trẻ đặt và
5
trả lời được
5
các câu hỏi
5
đơn giản
16
8
50%
6
31%
2
12%
2
12%
16
7
0
16
10
62%
5
31%
1
6%
0
0
So sánh kết quả khảo sát trước và sau khi có biện pháp thực hiện:
Nội dung
Trước khi
chưa có biện
pháp thực
hiện
Giảm 23%
Số trẻ phát âm chưa trọn câu
10/16
Không
Giảm: 100%
Số không biết trẻ đặt và trả
lời được các câu hỏi đơn
10/16
Không
Giảm: 100%
giản
* Đối với giáo viên:
Giáo viên đã nắm chắc phương pháp, tự tin, linh hoạt hơn trong các tiết
dạy. Bản thân cũng đã biết lập kế hoạch thực hiện phù hợp với nhóm tuổi mình
phụ trách, nắm vững được đặc điểm tâm lý, tình hình của từng trẻ để từ đó đưa
ra những biện pháp có phương hướng giáo dục trẻ thích hợp hơn.
* Đối với cha mẹ và người chăm sóc trẻ:
Từ những kết quả đạt được trên, bản thân tôi đã tạo được lòng tin với cha
mẹ và người chăm sóc trẻ, làm cho cha mẹ và người chăm sóc trẻ càng tin
tưởng, yên tâm đưa con đến trường. Qua đó bản thân cũng đã nâng cao nhận
thức cchawcha mẹ và người chăm sóc trẻ về việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc
cho trẻ là rất cần thiếchawCha mẹ và người chăm sóc trẻ rất quan tâm, phấn
khởi, thường xuyên chăm lo, trao đổi hỏi thăm học lực của con mình. Tôi cảm
thấy rất vui mừng và các bậc cha mẹ và người chăm sóc trẻ cũng tỏ ra hài lòng
ngữ cho trẻ. Đây là việc làm không phải dễ nhưng đầy lý thú. Vì vậy để trẻ đạt
hiệu quả cao thì giáo viên cần tổ chức hoạt động này một cách khéo léo, nhằm
phát triển tư duy, trí tưởng tượng cũng như năng lực sử dụng ngôn ngữ cho trẻ.
Dạy trẻ phát triển ngôn ngữ cũng là dạy trẻ biết giao tiếp, cũng là dạy trẻ
học làm người. Không chỉ về ngôn từ, cấu trúc câu mà cả học về cái tâm, cái
tình, cái hồn, hay nói cách khác là học giá trị của người đó. Với trẻ thơ thì đây
là sự khởi đầu nhưng lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình hình
thành và phát triển nhân cách cho trẻ. Vì vậy khi gần trẻ người lớn phải có ý
thức nói năng mẫu mực, không nói lắp, nói ngọng hay nhái giọng, lời nói phải
có văn hóa, lịch thiệp để làm gương cho trẻ noi theo. Từ thực tế lớp tôi phụ
trách với những khó khăn mà bản thân tôi gặp phải, tôi đưa ra những biện pháp
nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho
trẻ.
Mong rằng những biện pháp này sẻ áp dụng hiệu quả hơn khi được các cấp
lãnh đạo, các đồng nghiệp góp ý, bổ sung thêm và tích cực đổi mới trong quá
trình vận dụng để giúp trẻ phát triển toàn diện đáp ứng với yêu cầu giáo dục
trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Kiến nghị
* Đối với nhà trường:
- Ban giám hiệu nhà trường nên tổ chức thêm hội nghị phụ huynh để tuyên
truyền vận động, nắm bắt tình hình của trẻ: về đặc điểm tâm lí, về khả năng ngôn
ngữ, nhận thức...của trẻ từ đó phối kết hợp giáo dục trẻ một cách phù hợp nhất.
17
- Ban giám hiệu nhà trường tham mưu với lãnh đạo địa phương tạo điều
kiện về cơ sở vật chất để trẻ có môi trường hoạt động, phát triển tốt nhất.
- Tạo điều kiện giúp đỡ giáo viên trong việc làm đồ dùng dạy học cho trẻ.
Sắp xếp tạo điều kiện cho giáo viên được thường xuyên dự giờ để trao đổi kinh
nghiệm lẫn nhau và đi dự các tiết mẫu do phòng tổ chức.