LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Thạc sĩ Nguyễn Thùy Dung ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.
Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, phòng KHCN và HTQT, Thƣ
viện, Ban chủ nhiệm Khoa Tiểu học Mầm non - Trƣờng Đại học Tây Bắc và các
bạn sinh viên lớp K51 ĐHGD Mầm non đã tạo điều kiện giúp đỡ em nghiên cứu
để hoàn thành luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban giám hiệu cùng
toàn thể các cô và các cháu mẫu giáo 5 – 6 tuổi trƣờng Mẫu giáo Minh Tân –
Bảo Yên – Lào Cai đã tạo điều kiện giúp đỡ để em hoàn thành đề tài đúng thời
gian.
Sơn La, tháng 05 năm 2014
Ngƣời thực hiện
Kim Thị Hơn
1
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
ĐC
: Đối chứng
TN
: Thể nghiệm
TB
: Trung bình
1.1.1.Đặc điểm tâm lý của trẻ 5 – 6 tuổi…………………………………………7
1.1.2. Chức năng, vai trò của ngôn ngữ, đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ
mẫu giáo 5 – 6 tuổi……………………………………………………………..9
1.1.3. Đặc điểm của các tác phẩm thơ dành cho thiếu nhi……………..………15
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN………………………………………………………21
1.2.1.Tác phẩm thơ trong chƣơng trình “Chăm sóc – giáo dục trẻ mầm non”…21
1.2.2. Khảo sát điều tra thực trạng phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo qua các tác
phẩm thơ……………………………………………………………………25 Tiểu
kết chƣơng 1………………………………………………………..……..30
CHƢƠNG 2: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 5– 6
TUỔI QUA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG ĐỌC THƠ………………..………..31
2.1. Sử dụng biện pháp đàm thoại……………………………..……………….31
2.1.1. Khái niệm……………………………………………..…………………31
2.1.2. Cách thức thực hiện……………………………………...………………31
2.1.3. Yêu cầu khi sử dụng phƣơng pháp đàm thoại…………………………...31
2.2. Dạy trẻ đọc diễn cảm bài thơ………………………………………………36
3
2.2.1. Rèn luyện trẻ phát âm đúng……………………………………...………38
2.2.2. Hình thành nhịp điệu của ngôn ngữ và chất liệu giọng nói…….……..…39
2.2.3. Dạy lời nói diễn cảm…………………………………………………….49
2.3. Biện pháp giảng giải, giải thích từ khó…………………………………….40
2.4. Sử dụng các phƣơng tiện trực quan trong việc đọc thơ cho trẻ nghe……...41
2.4.1. Cách thức thực hiện……………………………………………..……….41
2.4.2. Yêu cầu của việc sử dụng trực quan……………………………..………44
Tiểu kết chƣơng 2 ………………………………………………...……………45
CHƢƠNG 3 THIẾT KẾ VÀ THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM…….………….46
1.2. Hiện nay giáo dục đã trở thành mối quan tâm của toàn xã hội, đặc biệt
giáo dục mầm non chiếm một vị trí quan trọng, là khâu đầu tiên trong hệ thống
giáo dục quốc dân, là bậc học đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách con
ngƣời mới xã hội chủ nghĩa.
Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai, trẻ em là nguồn hạnh phúc của mỗi gia
đình, là tƣơng lai của đất nƣớc, là lớp ngƣời sẽ tiếp tục sự nghiệp của ông cha để
lại, gánh vác mọi công việc xây dựng tổ quốc. Mọi trẻ em sinh ra đều có quyền
đƣợc giáo dục chăm sóc, đƣợc tồn tại và phát triển, đƣợc yêu thƣơng trong gia
đình cộng đồng. Khi xã hội càng phát triển thì giá trị con ngƣời càng đƣợc nhận
thức và đánh giá đúng đắn, do vậy việc chăm sóc và giáo dục trẻ lại càng mang
ý nghĩa nhân văn cụ thể và trở thành đạo lí của thế giới văn minh.
1.3. Việc giáo dục trẻ mầm non phải dựa trên nhu cầu cơ bản, thỏa mãn
những mong muốn tốt đẹp của trẻ, khơi gợi sự phát triển khả năng vốn có của
trẻ.
Trong nhà trƣờng mầm non, việc “cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học”
là môn học trọng tâm có vị trí quan trọng trong tất cả các môn học, thông qua
môn học giúp trẻ phát triển ngôn ngữ một cách tốt nhất và sâu sắc nhất đặc biệt
là qua hoạt động dạy thơ cho trẻ. Dạy thơ giúp trẻ tiếp cận cái hay, cái đẹp trong
tiếng nói của dân tộc để từ đó làm giàu cảm xúc của trẻ, phát triển trí tƣởng
tƣợng, giúp trẻ khám phá những điều mới lạ trong xung quanh. Để làm đƣợc
5
những điều đó cần phải cho trẻ tiếp xúc và làm quen với các tác phẩm thơ gần
gũi với trẻ, ngôn ngữ thơ phải dễ hiểu, đơn giản mang màu sắc ngộ nghĩnh, vui
tƣơi hồn nhiên nhí nhảnh, yêu đời. Ngôn ngữ thơ đƣợc đánh giá là một hiện
tƣợng ngôn ngữ độc đáo, mang nhiều hình ảnh với các từ láy, từ tƣợng thanh,
tƣợng hình và các phƣơng tiện tu từ. Tuy nhiên để phát triển ngôn ngữ cho trẻ
qua thơ đạt hiệu quả cao rất cần tìm hiểu nghiên cứu một cách đầy đủ. Chính vì
với “Cơ sở tâm lí học của trẻ mẫu giáo”.
Ở Việt Nam vấn đề phát triển ngôn ngữ, lời nói cho trẻ cũng đã đƣợc rất
nhiều các nhà giáo dục quan tâm và nghiên cứu nhƣ:
Các tác giả Nguyễn Quang Ninh, Bùi Kim Tuyến, Lƣu Thị Lan, Nguyễn
Thanh Hồng với: “Tiếng Việt và phương pháp phát triển lời nói cho trẻ”, đề cập
tới tiếng Việt dựa vào đó tác giả xây dựng các phƣơng pháp nhằm phát triển và
hoàn thiện lời nói cho trẻ.
Tác giả Hoàng Kim Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức với: “Phương
pháp phát triển ngôn ngữ”. Các tác giả đã đƣa ra các phƣơng pháp nhằm tăng
vốn từ cho trẻ.
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết, Phạm Hoàng Gia, Đoàn Thị Tâm với: “Tâm lí
trẻ em lứa tuổi mầm non” đã tiến hành nghiên cứu sự phát triển tâm lí của trẻ
mầm non qua các giai đoạn lứa tuổi.
Luận án Tiến sĩ của Lƣu Thị Lan: “Những bước phát triển ngôn ngữ của trẻ
từ 1 – 6 tuổi”. Nội dung luận án nói về các bƣớc, giai đoạn hình thành phát triển
ngôn ngữ cho trẻ trong độ tuổi từ 1 đến 6 tuổi.
Luận án Phó tiến sĩ tâm lý học: “Đặc trưng tâm lý của trẻ có năng khiếu
thơ”. Tác giả nghiên cứu các đặc trƣng tâm lý trẻ em, trong đó đặc điểm tâm lý
có chứa năng khiếu cảm thụ các tác phẩm thơ ca là đặc trƣng cơ bản nhất.
Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Khoa về: “Phương pháp phát triển ngôn ngữ
cho trẻ mẫu giáo từ 0-6 tuổi”, đã nghiên cứu về sự phát triển về vốn từ ngữ của
trẻ qua các độ tuổi và đƣa ra các phƣơng pháp nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ
em ở lứa tuổi mầm non.
Luận án Tiến sĩ Nguyễn Thị Oanh: “Cơ sở của việc tác động sư phạm đến
sự phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non”. Dựa trên cơ sở của ngành sƣ phạm tác
giả đã nghiên cứu tới sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em mầm non.
7
mầm non hiện nay nhất là ở lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ và có thể làm tài
liệu tham khảo cho giáo viên mầm non, sinh viên ngành giáo dục mầm non.
8
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu một số cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn có liên quan đến vấn đề cần
nghiên cứu.
Nghiên cứu lý luận: Đọc tài liệu, tổng hợp, phân tích tài liệu có liên quan đến
vấn đề nghiên cứu.
Khảo sát thực trạng phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi qua tổ chức hoạt
động đọc thơ ở trƣờng mầm non.
Xây dựng một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo trong độ
tuổi từ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động đọc thơ.
Tổ chức thể nghiệm để khẳng định tính khả thi của phƣơng án đề
xuất. Xử lí kết quả nghiên cứu.
7. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn những vấn đề liên quan đến đề tài.
Vì điều kiện thời gian có hạn và không có thời gian để nghiên cứu nhiều
trƣờng nên chúng tôi chỉ tiến hành điều tra, khảo sát và thực nghiệm tại trƣờng
Mẫu giáo Minh Tân – Minh Tân – Bảo Yên – Lào Cai.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận
Đọc sách báo và các tài liệu liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu, từ đó
chọn lọc để xây dựng nên cơ sở lí luận của đề tài.
8.2. Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.1. Phương pháp điều tra
Dùng phiếu điều tra kết hợp trao đổi các thông tin có liên quan đến vấn đề
nghiên cứu với các giáo viên ở trƣờng mẫu giáo nhằm phát triển ngôn ngữ cho
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1. Đặc điểm tâm lý của trẻ 5 – 6 tuổi
1.1.1.1. Trẻ em rất giàu xúc cảm, tình cảm
Cảm xúc là những rung cảm xảy ra nhanh chóng, nhƣng mạnh mẽ và rõ rệt
hơn so với màu sắc xúc cảm của cảm giác. Nó mang tính chất khái quát hơn và
đƣợc chủ thể ý thức ít nhiều rõ rệt hơn so với màu sắc, xúc cảm của cảm giác.
Tình cảm là những thái độ thể hiện sự rung cảm của con ngƣời đối với
những sự vật, hiện tƣợng có liên quan tới nhu cầu và động cơ của họ.
Xúc cảm, tình cảm là nét tâm lý nổi bật của trẻ thơ, đặc biệt là trẻ lứa tuổi
mẫu giáo. Nhìn chung ở lứa tuổi này, tình cảm thống trị tất cả các mặt trong hoạt
động tâm lý của trẻ. Chính vì vậy mà nhận thức của trẻ cũng mang đậm màu sắc
cảm xúc. Trẻ luôn có nhu cầu đƣợc ngƣời khác quan tâm và cũng luôn bày tỏ
tình cảm của mình với mọi ngƣời xung quanh. Lứa tuổi này đặc biệt nhạy cảm
trƣớc sự thay đổi của thế giới xung quanh và xúc động, ngỡ ngàng trƣớc những
điều tƣởng chừng rất đơn giản. Một bông hoa nở, một chiếc lá rơi, một con kiến
tha mồi hay một đêm trăng sáng... cũng có thể làm trẻ xúc động một cách sâu
sắc. Chính đặc điểm đẹp đẽ nhạy cảm này làm cho trẻ khi nghe kể chuyện, đọc
thơ có thể dễ dàng hoá thân vào nhân vật trong tác phẩm. Trẻ thƣờng có những
phản ứng trực tiếp ngay tức thì khi tiếp xúc với tác phẩm. Chúng có thể cƣời, có
thể khóc, có thể sung sƣớng hay tức giận trƣớc những chi tiết, sự kiện của tác
phẩm, những tình huống mà nhân vật gặp phải. Đó là phản ứng hết sức tự nhiên,
biểu thị trạng thái tâm lý chƣa ổn định dễ dao động trƣớc những tác động bên
ngoài. Những phản ứng này tƣơng đồng với nội dung của tác phẩm và nó trở
nên mạnh mẽ nếu có sự đồng cảm của ngƣời lớn. Chính vì vậy, ngôn ngữ, giọng
điệu, ngữ điệu hoặc những cử chỉ, điệu bộ của ngƣời đọc, kể tác phẩm văn học
Nhờ ánh trăng sáng ngời
Trăng tròn nhƣ cái đĩa Lơ
lửng mà không rơi Những
đêm nào trăng khuyết Trông
giống con thuyền trôi
12
Em đi trăng theo buớc
Nhƣ muốn cùng đi chơi ....”
Hình ảnh vầng trăng đƣợc tác giả miêu tả với vẻ đẹp hồn nhiên, trong trẻo
rất đặc trƣng của những đêm trăng nông thôn, những đêm trăng mới thực sự có
ý nghĩa, thực sự là đêm hội của trẻ thơ.
Du ngoạn trong thế giới thơ giúp trẻ phát triển trí tƣởng tƣợng, kích thích
tƣ duy sáng tạo, giáo dục tinh thần nhân đạo, tinh thần đấu tranh, bảo vệ ngƣời
tốt và trừng phạt kẻ xấu…Quả thật các tác phẩm thơ đến với tâm hồn trẻ nhƣ
một sự tự nhiên tất yếu, nó là những tình cảm trong trẻo hồn nhiên nhất, đồng
thời cũng rất chân thành và mãnh liệt.
Viết về thiên nhiên không chỉ là để nói về thiên nhiên. Dƣới cái nhìn của
tác giả, hầu nhƣ tất cả hình ảnh về giới tự nhiên đều là biểu trƣng cho tinh thần
đấu tranh, lao động sản xuất của con ngƣời nông thôn.
Các tác phẩm thơ còn đem đến cho các em tình cảm nồng hậu đối với ông
bà, cha mẹ, anh em, bạn bè, thầy cô giáo, với những ngƣời lao động vất vả, với
những chú bộ đội…
1.1.1.2. Trẻ rất giàu trí tưởng tượng
Tƣởng tƣợng là một quá trình tâm lí phản ánh những cái chƣa từng có
trong kinh nghiệm của mỗi cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới
trên cơ sở những biểu tƣợng đã có.
tƣởng tƣợng của trẻ sẽ càng đƣợc thăng hoa. Nhƣ vậy trí tƣởng tƣợng phong phú
của trẻ chính là tiền đề để chúng ta đƣa những tác phẩm văn học đến với trẻ. Trẻ
dùng trí tƣởng tƣợng của mình để tiếp thu những sáng tạo nghệ thuật, và ngƣợc
lại, trí tƣởng tƣợng phong phú, bay bổng trong các tác phẩm văn học sẽ chắp cánh
cho những ƣớc mơ, những hoài bão và sự sáng tạo của trẻ.
1.1.2. Chức năng, vai trò của ngôn ngữ, đặc điểm phát triển ngôn ngữ của
trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
1.1.2.1. Chức năng của ngôn ngữ
Một trong những chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ là nó đƣợc làm
phƣơng tiện chính cho sự tồn tại, truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch
sử xã hội của toàn nhân loại cũng nhƣ của từng cộng đồng ngƣời.
Những kinh nghiệm lịch sử của xã hội đƣợc đọng lại (chứa đựng) trong các
công cụ lao động, đối tƣợng lao động, trong các chuẩn mực hành vi của các mối
quan hệ qua lại giữa con ngƣời với nhau…Phần lớn đƣợc ghi lại để truyền bá
14
cho thế hệ sau nhờ ngôn ngữ. Thoạt tiên, đứa trẻ không thể tự nhận thức đƣợc
thế giới, nó thƣờng đặt ra nhiều câu hỏi cho bố mẹ và những ngƣời xung quanh.
Nhờ những câu trả lời, giải thích…của ngƣời lớn mà trẻ nhận thức đƣợc một
phần tri thức chung, trẻ tiếp tục sử dụng trong quá trình hoạt động của mình.
Những tri thức mà trẻ chiếm lĩnh đƣợc một phần tri thức chung, trẻ tiếp tục sử
dụng trong quá trình hoạt động của mình. Những tri thức mà trẻ chiếm lĩnh
đƣợc trong đời sống hàng ngày cũng nhƣ thông qua dạy học, giáo dục cũng
đƣợc giữ lại dƣới dạng ngôn ngữ. Nhƣ vậy, hoạt động ngôn ngữ có tác dụng xã
hội hóa sự phản ánh của mỗi cá nhân và làm cho nó trở thành có ý nghĩa.
Chức năng cơ bản thứ hai của ngôn ngữ là nó đƣợc dùng làm phƣơng tiện
chính để giao lƣu và điều chỉnh hành vi của con ngƣời.
Trong cuộc sống của con ngƣời nhiều khi con ngƣời trao đổi thông tin với
lộ nhƣ một hoạt động điều chỉnh hành vi và hành động của con ngƣời.
1.1.2.2. Vai trò của ngôn ngữ
a. Ngôn ngữ là công cụ của giao tiếp
Có thể nói bản chất của con ngƣời là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Vì
vậy, muốn tồn tại đƣợc trong cộng đồng ngƣời phải giao tiếp với nhau.
Ngôn ngữ làm cho con ngƣời xích lại gần nhau hơn. Nhờ ngôn ngữ mà con
ngƣời có thể hiểu đƣợc nhau, trao đổi với nhau những tâm tƣ, tình cảm, nguyện
vọng, rồi có thể cùng nhau hành động vì lợi ích chung. Không có ngôn ngữ thì
không thể giao tiếp thậm chí là không thể phát triển đƣợc nhất là đối với trẻ em
– những sinh thể yếu ớt cần đƣợc chăm sóc, bảo vệ của ngƣời lớn. Muốn bảo
vệ, chăm sóc và phát triển trẻ phải thông qua hoạt động ngôn ngữ. Và ngƣợc lại,
khi trẻ lớn lên trẻ đã biết nói thì việc sử dụng ngôn ngữ của trẻ là để bày tỏ
nguyện vọng, sự hiểu biết của mình. Nhƣ vậy, ngôn ngữ chính là một trong
những phƣơng tiện thúc đẩy trẻ để trẻ trở thành một thành viên của xã hội. Ngôn
ngữ cũng chính là một công cụ hữu hiệu để trẻ có thể bày tỏ đƣợc những tình
cảm, nguyện vọng của mình từ khi còn rất nhỏ để qua đó ngƣời lớn có thể chăm
sóc, giáo dục giúp trẻ tham gia vào các hoạt động hằng ngày, từ đó hình thành
nhân cách cho các cháu.
b. Vai trò của ngôn ngữ đối với việc phát triển trí tuệ
U.Sinski đã nhận định nhƣ sau: “Tiếng mẹ đẻ là cơ sở của mọi sự phát triển,
là vốn quý của mọi tri thức”. [T16- 15]
16
Ngôn ngữ là phƣơng tiện giúp trẻ nhận thức về thế giới xung quanh. Bởi vì,
sự phát triển trí tuệ ở trẻ chỉ diễn ra khi trẻ lĩnh hội đƣợc những tri thức về sự
vật, hiện tƣợng xung quanh. Tuy nhiên, sự lĩnh hội tri thức đó khổng thể thực
hiện đƣợc nếu không có ngôn ngữ.
Ngôn ngữ và tƣ duy có mối quan hệ mật thiết với nhau. Ngôn ngữ là kết quả
của tƣ duy cố định lại. Có thể nói không có tƣ duy thì ngôn ngữ chỉ là những
biệt là lứa tuổi mẫu giáo các cháu bắt đầu hiểu biết và lĩnh hội những khái niệm,
những quy tắc, những chuẩn mực đạo đức của xã hội. Tuy mới chỉ là những khái
niệm ban đầu nhƣng lại vô cùng quan trọng, có tính chất quyết định đến việc
hình thành những nét tính cách riêng biệt của mỗi ngƣời trong tƣơng lai. Muốn
cho các cháu hiểu và lĩnh hội đƣợc những khái niệm đạo đức này, chúng ta
không thể chỉ thông qua những hoạt động cụ thể hoặc những sự vật, hiện tƣợng
trực quan đơn thuần mà phải có ngôn ngữ. Nhờ có ngôn ngữ mà các cháu có thể
thể hiện đầy đủ những nhu cầu, nguyện vọng và tình cảm của mình. Cũng nhờ
có ngôn ngữ mà các nhà giáo dục và các bậc cha mẹ có điều kiện để hiểu con
cháu mình hơn, để từ đó có thể uốn nắn, giáo dục và xây dựng cho các cháu
những tình cảm, hành vi đạo đức trong sáng nhất.
d. Vai trò của ngôn ngữ trong việc giáo dục thẩm mỹ
Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong quá trình tác động có mục đích, có hệ
thống nhằm phát triển ở trẻ năng lực cảm thụ cái đẹp và hiểu đúng cái đẹp trong
tự nhiên, trong đời sống xã hội, trong nghệ thuật, giáo dục cho trẻ lòng yêu cái
đẹp và năng lực tạo ra cái đẹp.
Thật vậy, trong cuộc sống hàng ngày, khi giao tiếp với ngƣời lớn, trẻ nhận
thức đƣợc cái đẹp ở xung quanh, từ đó trẻ có thái độ tôn trọng cái đẹp và tạo ra
cái đẹp. Đặc biệt khi tiếp xúc với bộ môn nghệ thuật nhƣ: Âm nhạc, tạo hình, trẻ
có thể cảm nhận đƣợc những cái đẹp tuyệt vời của cuộc sống qua âm thanh,
đƣờng nét… Từ đó giúp trẻ hiểu sâu sắc hơn về giá trị thẩm mỹ, tâm hồn trẻ sẽ
nhạy cảm hơn với cái đẹp, và khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học, trẻ có
thể tìm thấy ở đó những hình tƣợng, nhân vật điển hình, mỗi nhân vật mang một
sắc thái riêng, một vẻ đẹp riêng, từ đó trẻ biết mình nên sống thế nào.
1.1.2.3. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
Nhìn chung đến cuối tuổi mẫu giáo(5 – 6 tuổi) trẻ đã có khả năng nắm đƣợc
ý nghĩa của từ vựng thông dụng, phát âm gần đúng sự phát âm của ngƣời lớn,
18
19
1.2.1.1. Đặc điểm các tác phẩm thơ trong chương trình “chăm sóc – giáo dục”
trẻ mẫu giáo 5 -6 tuổi
Các tác phẩm thơ nói chung và những tác phẩm thơ dành cho thiếu nhi nói
riêng đều thuộc nghệ thuật sáng tác văn học, vì vậy nó cũng mang đầy đủ đặc
điểm của sáng tác nghệ thuật ngôn từ. Nó thực hiện các chức năng chung của
văn học. Chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mĩ, chức
năng giao tiếp, chức năng giải trí. Các chức năng này không tồn tại tách rời, mà
gắn bó chặt chẽ với nhau trong mối quan hệ chuyển hoá lẫn nhau. Nhƣng do đối
tƣợng phục vụ chủ yếu là trẻ em nên nó có những đặc điểm đƣợc nhấn mạnh.
Trƣớc hết tính giáo dục đƣợc coi là một trong những đặc trƣng cơ bản nhất
của văn học thiếu nhi. Văn học thiếu nhi có vai trò vô cùng to lớn trong việc
giáo dục toàn diện nhân cách trẻ em, cả về đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ, bên cạnh
tính giáo dục thì khả năng khơi gợi, kích thích trí tƣởng tƣợng sáng tạo của trẻ
cũng là một đặc điểm không thể thiếu của văn học viết cho các em. Hơn bất cứ
loại hình nghệ thuật nào, sáng tác văn học thiếu nhi phải quan tâm tới đặc điểm
tâm lý của văn học thiếu nhi. Chính điều này cũng làm nên sự khác biệt giữa văn
học thiếu nhi và văn học ngƣời lớn. Tuổi thơ hồn nhiên, ngây thơ, tâm hồn trong
sáng dạt dào cảm xúc và trí tƣởng tƣợng tuyệt vời phong phú bay bổng. Các em
có thể nghe đƣợc mọi âm thanh của cỏ cây, hoa lá, trò chuyện đƣợc với muôn
loài, giao cảm hoà đồng với thiên nhiên... Có thể nói khả năng hoà đồng của các
em với thiên nhiên là vô tận. Chính vì vậy, tƣởng tƣợng là một yếu tố không thể
thiếu trong các tác phẩm viết cho các em.
Các tác phẩm thơ viết cho lứa tuổi mầm non, đặc biệt là thơ dành cho đối
tƣợng là những "bạn đọc" chƣa biết đọc, biết viết nên ngoài những tiêu chí
chung của văn học thiếu nhi nó còn có những đặc điểm đƣợc nhấn mạnh, phù
hợp với tâm, sinh lý đặc thù của lứa tuổi này. Có thể kể ra một số đặc trƣng cơ
bản sau đây:
đánh răng
Sắp đến bữa ăn rửa tay đã nhé!
Bé ơi! Bé này...”
( Bé ơi! – Phong Thu)
21
Sự ngắn gọn của những bài thơ viết cho trẻ lứa tuổi mầm non còn đƣợc thể
hiện ở ý nghĩa của từ vựng. Với cách miêu tả trực tiếp, trẻ có thể dễ dàng hình
dung ra và hiểu rõ sự việc, hiện tƣợng đƣợc thể hiện trong các tác phẩm.
* Về thể thơ
Các tác phẩm trong chƣơng trình đều viết dƣới dạng câu thơ ngắn, cụ thể
là: Thơ ba chữ: Anh xe lu, Ấm và chảo, Mười ngón tay, Bập bênh.
Thơ bốn chữ: Bé ơi, Lời chào, Không vứt rác ra đường, Mẹ và con..
Thơ năm chữ: Ông mặt trời, Đi bừa, Con đường của bé, Cải chíp.
Thơ lục bát: Vườn cải, Em yêu nhà em, Cây cau, Ếch con học bài.
Với thể thơ ngắn gọn các tác phẩm thơ giúp trẻ dễ thuộc dễ nhớ qua đó tạo
hứng thú cho trẻ. Đây là điều kiện thuân lợi để giáo viên phát triển lời nói mạch
lạc cho trẻ.
* Về ngôn ngữ, nhịp điệu và vần điệu
Ngôn ngữ trong các tác phẩm đƣợc lựa chọn đƣa vào chƣơng trình đều rất
giản dị, trong sáng dễ hiểu, có nhiều từ ngữ nghệ thuật nhƣ tính từ chỉ màu sắc,
từ tƣợng hình, từ tƣợng thanh, từ láy hoặc những hình ảnh so sánh hết sức sinh
động.
VD: Bài “Tiếng gà trưa” cần đọc với tốc độ vừa phải, giọng vang khỏe thể hiện
niềm vui, náo nức, rộn ràng vui tƣơi của các chú bộ đội trên đƣờng hành quân xa
với âm hƣởng vui tƣơi bài thơ giúp trẻ dễ đọc dễ tiếp nhận. Phù hợp với đặc điểm
tâm sinh lý của trẻ thơ. Dƣới ngòi bút miêu tả đặc sắc bức tranh thiên nhiên thật
sinh động giàu hình ảnh đã đƣợc các nhà thơ vẽ nên, thế giới xung quanh nhƣ
Hình ảnh ngƣời con hết lòng chăm sóc, lo lắng, quan tâm, động viên khi ngƣời
mẹ mình bị ốm.
“Mẹ vui con có quản gì
Ngâm thơ kể chuyện, rồi thì múa ca
Rồi con diễn kịch giữa nhà
Một mình con sắm cả ba vai chèo”
Với tình cảm trong trẻo, ngây thơ, hồn nhiên của con ngƣời và niềm mong
mỏi luôn muốn cho mẹ khỏi ốm đƣợc thể hiện qua những vần thơ giản dị, mộc
mạc, chân thành.
“Con mong mẹ khỏe dần dần Ngày
ăn ngon miệng, đêm nằm ngủ say”
23
Thật cảm động biết bao trƣớc tình cảm đẹp đẽ của ngƣời con – một cậu bé
chƣa đầy 10 tuổi, chỉ bằng một câu thơ:
“Mẹ là đất nƣớc tháng ngày của con”
Đã nói lên biết bao tình cảm của ngƣời con dành cho ngƣời mẹ. Tình cảm
đó thật thiêng liêng cao cả, ngƣời mẹ trong suy nghĩ của con luôn là hình tƣợng
vĩ đại nhất, giữ vị trí vô cùng quan trọng, mẹ là nơi che chở, là cuộc sống của
con.
Tình cảm với thầy cô, bạn bè và những ngƣời lao động, những nguời có
công với đất nƣớc cũng là một nội dung đƣợc nhắc đến trong thơ Trần Đăng
Khoa viết cho trẻ em lứa tuổi mầm non. Có thể kể tới Mưa, Hạt gạo làng ta,
Ảnh Bác, Gửi bạn Chi-Lê, Buổi sáng nhà em,…
Bài “Hạt gạo làng ta” giúp trẻ hiểu đƣợc sự vất vả, lam lũ của nguời dân trong
quá trình làm ra hạt gạo. Hạt không chỉ là kết tinh của những giá trị vật chất (phù
sa, mƣa, bão…) và những giá trị tinh thần (hƣơng sen thơm, lời ru hát) mà còn là
kết quả của những vật lộn của ngƣời nông dân chống chọi với sự khắc nghiệt của
“Con bƣớm vàng!
Con bƣớm vàng!”
Lời thơ rất hồn nhiên nhƣ chính tiếng reo vui sƣớng của cậu học trò. Con
bƣớm nhƣ một nàng tiên “bay nhẹ nhàng” nổi bật lên “bên bờ có”. Gợi cho chú
bé tính tò mò thèm muốn đƣợc quan sát.
“Em thích quá
Em đuổi theo”.
Nhƣng tiếc thay:
“Con bƣớm vàng.
Có bộ cánh
Vút lên cao”
Để lại chú bé ngẩn ngơ bên đám cỏ xanh với bao nuối tiếc:
“Em nhìn theo.
Con bƣớm vàng!
Con bƣớm vàng.”
Hai câu thơ đầu và câu thơ cuối vẫn chỉ là ”Con bƣớm vàng” nhƣng diễn tả
hai tâm trạng khác nhau. Đó là tâm trạng của sự mời mọc thèm muốn và tâm
trạng của sự tiếc nuối, thất vọng. Lời thơ tự nhiên nhƣ lời kể chuyện, nhƣng lại
25