Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dộ tuổi 25 36 tháng tuổi ở trường mầm non thiết ống - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÁ THƯỚC

TRƯỜNG MẦM NON THIẾT ỐNG

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ
ĐỘ TUỔI 24-36 THÁNG Ở TRƯỜNG MẦM NON
THIẾT ỐNG, HUYỆN BÁ THƯỚC

Người thực hiện: Phạm Thị Nguyên.
Chức vụ: Giáo viên.
Đơn vị công tác: Trường Mầm Non Thiết Ống.
SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn.

THANH HOÁ, NĂM 2018


Mục lục
TT

NỘI DUNG

TRANG

1

1. Mở Đầu

1


7

2.1. Cơ sở lí luận

2

8

2.2. Thực trạng của vấn đề

3

9

2.2.1. Thuận lợi

3

10

2.2.2 Khó khăn

3

11

2.2.3 Khảo sát chất lượng đầu năm (tháng 9) với tổng số là: 20
trẻ

4

lúc mọi nơi.

8

17

2.3.5 Biện pháp 5: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các
giờ hoạt động học.

11

17

2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.

16

18

3. Kết luận, kiến nghị.

17

19

3.1. Kết luận

17

20

trò quan trọng trong việc giáo dục phát tiển toàn diện cho trẻ. Thông qua ngôn
ngữ, trẻ có thể nhận thức về thế giới xung quanh một cách sâu rộng, rõ ràng,
chính xác. Ngôn ngữ giúp trẻ tích cực sáng tạo trong mọi hoạt động. Vì vậy việc
phát triển toàn diện cho trẻ không thể tách rời với việc phát triển ngôn ngữ.
Nhờ có ngôn ngữ mà thông qua các câu chuyện trẻ dễ dàng tiếp nhận
những chuẩn mực đạo đức của xã hội và hoà nhập vào xã hội tốt hơn. Mà cũng
nhờ có ngôn ngữ trẻ đã thể hiện được đầy đủ những nhu cầu, nguyện vọng và
tình cảm của mình cũng nhờ có ngôn ngữ mà các nhà giáo dục, bậc phụ huynh
có điều kiện hiểu con mình hơn, để uốn nắn, giáo dục và xây dựng cho trẻ
những chuẩn mực đạo đức trong sáng chuẩn mực nhất.[2]
Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục trẻ trở thành
con người phát triển toàn diện. Sự phát triển chậm trễ về mặt ngôn ngữ có ảnh
hưởng đến sự phát triển toàn diện của trẻ.
Chính vì vậy mà phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một việc làm cần thiết.
Đối với trẻ nhà trẻ phát triển ngôn ngữ chính là phát trienr các khả năng nghe
hiểu, nói của trẻ.vì thế nên tôi đã chọn đề tài: “Một số biện pháp phát triển
ngôn ngữ cho trẻ độ tuổi 24- 36 tháng ở trường Mầm non Thiết Ống huyện
1


Bá Thước” nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ đối với chương
trình giáo dục mầm non hiện nay
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Tìm ra những biện pháp phù hợp để phát triển ngôn ngữ mạch lạc, cung
cấp nhiều vốn từ cho trẻ 24-36 tháng tại trường Mầm Non Thiết Ống, giúp trẻ
bạo dạn tự tin trong giao tiếp và trẻ lĩnh hội được các kiến thức ở lớp học sau
này của trẻ
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
Tìm ra một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ độ tuổi 24- 36 tháng
ở trường Mầm non Thiết Ống


quen với các sự vật, hiện tượng có trong môi trường xung quanh. Nhờ có ngôn
ngữ mà trẻ sẽ nhận biết ngày càng nhiều màu sắc, hình ảnh… của các sự vật
hiện tượng trong cuộc sống hàng ngày.
Ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Ngôn ngữ nói là ngôn
ngữ âm thanh,dùng trong giao tiếp tự nhiên hàng ngày; trong đó người nói người
nghe tiếp xúc trực tiếp với nhau, có thể thay phiên nhau trong vai nói và vai
nghe. Ngôn ngữ viết là thứ ngôn ngữ được thể hiện bằng chữ viết trong văn bản
và được tiếp nhận bằng thị giác.
Nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhà trẻ bao gồm nội dung nghe, nói,
và làm quen với sách. Đối với trẻ từ 24 -36 tháng tuổi là trẻ nghe và thực hiện
các yêu cầu bằng lời nói, trẻ được nghe các bài đồng dao, ca dao, hò vè, câu đố,
bài hát và hiểu được nội dung câu truyện ngắn. Trẻ phải các từ chỉ đồ vật, con
vật, đặc điểm, hành động quen thuộc trong giao tiêp, thể hiện nhu cầu, mong
muốn và hiểu biết bằng 1-2 câu đơn giản và câu dài, trẻ đọc được bài thơ ngắn
có 3-4 tiếng, kể lại đoạn truyện được nghe nhiều lần, trẻ biết sử dụng các từ thể
hiện sự lễ phép khi nói chuyện với người lớn. Khi làm quen với sách trẻ chú ý
lắng nghe người lớn đọc sách, xem tranh và gọi tên các nhân vật, sự vật, hành
động gần gũi[4]
2.2. Thực trạng của vấn đề
Trường mầm non Thiết Ống đạt chuẩn quốc gia mức độ I. Nhà trường có
một đội ngũ cán bộ giáo viên trẻ nhiệt tình, ham học hỏi và luôn cầu thị tiến bộ.
Ban giám hiệu luôn quan tâm chỉ đạo về chuyên môn rất sát sao, do vậy giáo
viên nắm vững về chuyên môn, tổ chức các hoạt động có hiệu quả
Bản thân đã vào ngành được 23 năm. Hiện tại, tôi được phân công chủ
nhiệm nhóm 24-36 tháng tuổi với tổng số là: 20 cháu. Trong quá trình tổ chức
các hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ tôi gặp phải những thuận lợi và khó
khăn sau:
2.2.1. Thuận lợi:
Phòng nhóm đảm bảo diện tích khá rộng rãi, thoáng mát. Trẻ được phân

- Lớp học tương đối đông và liên tục nhận cháu mới nên việc rèn nề nếp
rất vất vả, trẻ còn khóc nhiều chưa thích nghi với điều kiện sinh hoạt của lớp nên
còn bỡ ngỡ. Mỗi trẻ lại có những sở thích và cá tính khác nhau.
- Do sự cưng chiều của gia đình đôi khi còn dùng những lời nói nhịu để
nịnh trẻ khiến cho trẻ bắt chiếc theo.
2.2.3. Khảo sát chất lượng đầu năm (tháng 9) với tổng số là: 20 trẻ
Trước khi áp dụng một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng của hoạt
động âm nhạc cho trẻ tôi đã tiến hành khảo sát trên trẻ và được kết quả như sau:

Phân loại khả năng

Tốt
Sl

Khá

TB

Yếu

%

Sl

%

Sl

%



9/20

45

4/20

20

Khả năng nói đúng ngữ pháp

2/20

10

7/20

35

9/20

45

4/20

20

Khả năng giao tiếp

3/20

chịu ảnh hưởng tác động từ bên ngoài, (ngồi không ngay ngắn trong khi học,
mất trật tự, không kiềm chế các hoạt động cá nhân). Trong khi đó việc trẻ tập
trung, ghi nhớ có chủ đích và hứng thú trong giờ hoạt động chung là rất quan
trọng. Chính vì vậy mà giáo viên cần hiểu tâm sinh lý của trẻ.
* Đặc điểm phát âm: Đa số trẻ đã phát âm được các âm khác nhau. Trẻ đã
phát âm được các âm của lời nói nhưng vẫn còn ê a. Trẻ hay phát âm sai ở
những từ khó, những từ có 2/3 âm tiết,
* Đăc điểm vốn từ :
Ở lứa tuổi này vốn từ của trẻ còn rất ít mà danh từ và động từ ở trẻ chiếm
ưu thế. Trẻ đã sử dụng chính xác các từ chỉ đồ vật trong giao tiếp sinh hoạt hàng
ngày, những từ chỉ khái niệm tương đối như hôm qua, hôm nay trẻ đã biết sử
dụng những từ lễ phép như cháu chào ông,…cháu xin lỗi, cháu cảm ơn. Ngoài ra
một số trẻ đã biết sử dụng các từ chỉ màu sắc như màu xanh, màu đỏ, màu vàng.
* Sắp xếp cấu trúc lời nói. Có một số trẻ biết cách diễn đạt nội dung sự
liên kết các câu nói lại với nhau tạo thành chuỗi lời nói nhằm diễn tả chọn vẹn
một ý để giúp người nghe hiểu được. Đối với lứa tuổi này yêu cầu trẻ kể lại một
câu chuyện hay tả lại một sự kiện hiện tượng xẩy ra thì còn gặp khó khăn phải
tập dần dần.
* Diễn đạt nội dung nói: ở lứa tuổi này khi diễn đạt trẻ còn ê, a, ậm ừ, có
khi còn chưa diễn đạt được ý muốn của mình bằng những câu đơn giản, còn rụt
rè chưa mạnh dạn trong giao tiếp.
* Đặc điểm ngữ pháp: trẻ lứa tuổi này đã nói được một số câu đơn giản,
biết thể hiện nhu cầu mong muốn và hiểu biết của mình ví dụ cô ơi con muốn
uống sữa…
Khi đã nắm bắt được tâm lý của lứa tuổi để cô tổ chức giáo dục trẻ thì cái
hiệu quả của sự chú ý của trẻ sẽ tập trung và đạt hiệu quả cao hơn.
2.3.2. Biện pháp 2: phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các trò chơi
Đối với trẻ nhà trẻ, được phát triển ngôn ngữ thông qua trò chơi là một
biện pháp tốt nhất. Trò chơi đã trở thành phương tiện để cung cấp, tích luỹ được
nhiều vốn từ và trên cơ sở hiểu biết đầy đủ ý nghĩa của những từ đó trẻ biết sử

Sau khi hỏi trẻ xong tôi vận dụng trò chơi này để rèn sự nhanh nhẹn và tư
duy của trẻ. Tôi yêu cầu trẻ làm theo yêu cầu của cô khi cô nói tên con vật trẻ
làm tiếng kêu và ngược lại cô làm tiếng kêu của các con vật trẻ nói tên các con
vật đó.
+ Trò chơi 2: “Con muỗi ”
Mục đích của trò chơi này là tôi muốn trẻ đọc theo cô và biết thực hiện
theo lời nói của cô
Cách chơi:
- Cô đứng phía trước trẻ, cô cho trẻ đọc và làm động tác theo cô.
- Cô cho trẻ đọc từng lời một có kèm theo động tác:
6


+ Có con muỗi vo ve, vo ve (trẻ giơ ngón tay trỏ ra trước mặt vẫy qua vẫy
lại theo nhịp đọc)
+ Đốt cái tay, đốt cái chân, rồi bay đi xa. (lấy ngón tay trỏ vào cánh tay
đối diện, chỉ xuống đùi rồi dang 2 tay sang ngang).
+ Úi chà! úi chà! Dang tay ra đánh cái bép, con muỗi xẹp. Rửa tay (nhún
vai 2 lần, dang 2 tay sang ngang, vỗ tay một cái rồi chỉ vào chóp mũi. Sau đó
xoa 2 tay vào nhau vờ rửa tay)
Khi trẻ chơi tôi nhận thấy tất cả các trẻ đều tham gia đọc cùng cô, có trẻ
đọc được cả câu, có trẻ bập bẹ bớt một hai từ. Nhưng qua đó cũng giúp ngôn
ngữ của trẻ dần dần được hình thành trọn vẹn hơn .
+Trò chơi 3: “Bé muốn gì ”.
Mục đích giúp trẻ sử dụng từ và câu đơn giản để bày tỏ mong muốn, trả lời một
số câu hỏi
+ Chuẩn bị:
- Một số đồ vật, đồ chơi đẹp hấp dẫn
+ Tiến hành:
Cô cho các đồ vật, đồ chơi vào một cái hộp. Cô mở hộp và lấy lần lượt các

nghe và đọc theo.
Hơn nữa để kích thích thích hứng thú say mê phát triển vốn từ của trẻ thì
rất cần phụ huynh giúp đỡ hỗ trợ về mặt kinh phí cũng như đồ dùng, đồ chơi
giảng dạy hoặc mang đến cho các cô những nguyên vật liệu mở như lon bia, hộp
sữa, chai nhựa, …Để cô và trẻ có thể tự tạo ra những đồ dùng, đồ chơi để phục
vụ cho việc dạy và học của trẻ. Như vậy việc phối kết hợp giữa phụ huynh và
nhà trường sẽ tạo điều kiện cho trẻ phát triển vốn từ một cách tốt nhất.[4]
Khi áp dụng phương pháp này thì phụ huynh đã có ý thức và chú trọng
hơn trong việc phát triển lời nói cho trẻ từ đó vốn từ của trẻ đã được tăng lên và
nói ngọng, nói lắp giảm dần.
2.3.4. Biện pháp 4: Giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc
mọi nơi:
+ Giờ đón trẻ:
Giờ đón trẻ là lúc cần tạo không khí vui vẻ, lôi cuốn trẻ tới trường, tới lớp
cô phải thật gần gũi, tích cực trò chuyện với trẻ. Vì trò chuyện với trẻ là hình
thức đơn giản nhất để cung cấp vốn từ cho trẻ và phát triển ngôn ngữ cho trẻ,
đặc biệt là ngôn ngữ mạch lạc. Bởi qua cách trò chuyện với trẻ cô mới có thể
cung cấp, mở rộng vốn từ cho trẻ.
Ví dụ: Cô trò chuyện với trẻ về gia đình của trẻ:
+ Gia đình con có mấy người?
+ Trong gia đình con yêu ai nhất?
+ Ai là người hay đưa con đến trường?
+ Bố mẹ con thường đưa con đi đến trường bằng phương tiện gì?
Khi trẻ được chơi, được trò chuyện với cô trẻ tự tin vào vốn từ của mình,
ngôn ngữ của trẻ nhờ đó mà được mở rộng và phát triển hơn.
Ngoài ra trong giờ đón trẻ, trả trẻ tôi luôn nhắc trẻ biết chào ông, bà, bố
mẹ như vậy kích thích trẻ trả lời câu trọn vẹn bên cạnh đó giáo dục trẻ có thói
quen lễ phép, biết vâng lời.

8

Cho trẻ chơi ở vườn cổ tích
* Giáo dục ngôn ngữ cho trẻ thông qua chơi tự do ở các góc:
Trong một giờ hoạt động chung trẻ không thể phát triển ngôn ngữ một
cách toàn diện được mà phải thông qua các hoạt động khác trong đó có hoạt
động góc. Đây có thể coi là một hình thức quan trọng nhất, bởi giờ chơi có tác
dụng rất lớn trong việc phát triển vốn từ, đặc biệt là tích cực hoá vốn từ cho
trẻ.Thời gian chơi của trẻ chiếm nhiều nhất trong thời gian trẻ ở nhà trẻ, là thời
gian trẻ được chơi thoải mái nhất. Trong qúa trình trẻ chơi sử dụng các loại từ
khác nhau, có điều kiện học và sử dụng các từ có nội dung khác nhau.
Ví dụ 1: Trong góc “Hoạt động với đồ vật” ở chủ điểm “Giao thông” bằng
đồ dùng tôi tự làm đó chính là những chiếc ô tô đã đục sẵn lỗ và những chiếc ô
tô, máy bay chưa có bánh xe tôi đã cho trẻ lấy dây xâu qua những lỗ đó và tôi sẽ
hỏi trẻ:
+ Quân ơi, con đang làm gì vậy? (con đang xâu ô tô ạ)
+ Con xâu ô tô bằng gì đấy? (con xâu bằng dây xâu ạ)
+ Nam ơi, ô tô này đã đi được chưa hả con? (chưa đi được ạ)
+ Muốn ô tô đi được phải làm thế nào? ( lắp thêm bánh xe ạ)
Như vậy bằng những đồ chơi tự tạo thông qua hoạt động chơi không
những rèn cho trẻ sự khéo léo mà còn góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Ví dụ 2: Trò chơi trong góc “thao tác vai” trẻ được chơi với em búp bê và
khi trẻ chơi sẽ giao tiếp với các bạn bằng ngôn ngữ hàng ngày.
10


+ Bác đang làm gì đấy?(đang bế em )
+ Bác đã cho búp bê ăn chưa? (chưa ạ)
+ Ngoan nào mẹ cho búp bê ăn nhé!
+ Bột vẫn còn nóng lắm để mẹ thổi cho nguội đã ! (giả vờ thổi cho nguội)
+ Búp bê của mẹ ăn ngoan rồi mẹ cho búp bê đi chơi nhé!


+ Cô cho trẻ ăn thử và hỏi trẻ quả cam này chua hay ngọt?...
Trong khi trẻ trả lời cô phải chú ý đến câu trả lời của trẻ. Trẻ phải nói
được cả câu theo yêu cầu câu hỏi của cô. Nếu trẻ nói cộc lốc, thiếu từ cô phải
sửa ngay cho trẻ bằng cách cô nói lại đầy đủ câu trả lời đó cho trẻ nói lại.
Cứ như vậy tôi đặt hệ thống câu hỏi từ tổng thể đến chi tiết để trẻ trả lời
nhằm kích thích trẻ phát triển tư duy và ngôn ngữ cho trẻ, qua đó liên hệ thực tế
giáo dục trẻ các con ăn nhiều hoa quả để cơ thể khỏe mạnh chóng lớn.

Tổ chức hoạt động nhận biết tập nói
+ Thông qua giờ thơ, truyện:
Trong hoạt động học khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học là phát
triển ngôn ngữ nói cho trẻ và còn hình thành phát triển ở trẻ kỹ năng nói mạch
lạc mà muốn làm được như vậy trẻ phải có vốn từ phong phú hay nói cách khác
là trẻ cũng được học thêm được các từ mới qua giờ học thơ, truyện.
Để giờ thơ, truyện đạt kết quả cao cũng như hình thành ngôn ngữ cho trẻ
thì đồ dùng phục vụ cho tiết học phải đảm bảo :
+ Đồ dùng phải đẹp, rõ ràng, màu sắc phù hợp đảm bảo tính an toàn và vệ
sinh cho trẻ.
12


+ Nếu là tranh vẽ phải đẹp, phù hợp với câu truyện, phía dưới phải có chữ
to giúp cho việc phát triển vốn từ của trẻ được thuận lợi.
+ Bản thân giáo viên phải thuộc truyện, ngôn ngữ của cô phải trong sáng,
giọng đọc phải diễn cảm, thể hiện đúng ngữ điệu của các nhân vật.
Ví dụ 1: Trẻ nghe câu truyện “Đôi bạn nhỏ”. Tôi cung cấp vốn từ cho trẻ
đó là từ “bới đất”. Cô có thể cho trẻ xem tranh mô hình một chú gà đang lấy
chân để bới đất tìm giun và giải thích cho trẻ hiểu từ “bới đất” (các con ạ! thói
quen của những chú gà là mỗi khi đi kiếm ăn các chú phải lấy chân để bới đất,
đào đất lên để tìm thức ăn cho mình, khi kiếm được thức ăn chú gà sẽ lấy mỏ để

Ngoài việc cung cấp cho trẻ vốn từ mới thì việc sửa lỗi nói ngọng, nói lắp
cũng vô cùng quan trọng khi trẻ giao tiếp. Khi áp dụng vào bài dạy tôi luôn chú
trọng đến điều này và đã kịp thời sửa sai cho trẻ ngay tại chỗ.
Ví dụ 3: Trong câu truyện “Thỏ ngoan” ngoài việc giúp trẻ thể hiện ngữ
điệu sắc thái tình cảm của các nhân vật trong truyện tôi còn sửa sai những từ trẻ
hay nói ngọng để giúp trẻ phát âm chuẩn và động viên những trẻ nhút nhát mạnh
dạn hơn khi trả lời.
+ Trẻ hay nói ô tô

-

ô tô.

+ Trẻ nói Thỏ ngoan

-

Thỏ ngoan

+ Bác Gấu

-

Bác ấu

+ Con Cáo

-

Con cáo



* Ví dụ: Tôi đã tận dụng những vỏ hộp sữa bột để làm trống cơm, những
mảnh xốp màu và giấy gói quà sinh nhật làm những chiếc quạt múa…
Từ những đồ dùng tự tạo của cô, trẻ nhìn vào đó trẻ sẽ cảm thấy rất hứng
thú càng muốn được tham gia hoạt động âm nhạc
Qua những giờ học hát, vận động theo nhạc, trẻ đã biết sử dụng ngôn ngữ
có mục đích, biết dùng ngôn ngữ và động tác cơ bản để miêu tả những hình ảnh
đẹp của bài hát.
Ví dụ: Hát và vận động bài “Một con vịt”
+ Câu đầu tiên : Một con vịt
Xoà ra hai cái cánh
( Trẻ đưa tay ra hai bên giả vờ làm hai cánh
+ Câu thứ hai : Nó kêu rằng
cáp cáp, cạp cạp cạp
( Hai tay đưa lên sát miệng làm mỏ vịt kêu)
+ Câu thứ ba:

Gặp hồ nước
Nó bì bà, bì bõm

( Hai tay đưa ngang trước ngực về phía trước vãy)
+ Câu cuối

Lúc lên bờ
Vẫy cái cánh cho khô
( Đưa hait tay sang hai bên vẫy)[5]

Hình ảnh hát và vận động
15

% Sl

%

Sl

%

Sl

%

Khả năng nghe hiểu ngôn ngữ 7/20
và phát âm

35 9/20

45

4/20

20 0

0

Vốn từ

5/20

25 9/20


5/20

25 0

0

Từ kết quả kháo sát trên cho thấy
Khả năng nghe hiểu ngôn ngữ và phát âm chuẩn tăng lên rõ rệt:Tốt từ
10% lên 35% không còn trẻ yếu
Đặc biệt vốn từ của trẻ tăng lên từ 10% lên 25% không có trẻ yếu kém.
Khả năng nói đúng ngữ phát của trẻ tốt tăng lên từ 10% lên 25%,TB là
14% không con trẻ yếu.
Khả năng giao tiếp của trẻ tốt tăng lên từ 15% lên 35% không còn trẻ
không biết giao tiếp.
Kết quả trên cho ta thấy rõ ưu điểm của việc thực hiện có hiệu quả các
biện phát trên.
16


2.4.2. Đối với giáo viên:
Giúp giáo viên hiểu hơn về tầm quan trọng của việc giúp trẻ phát triển
vốn từ, từ đó giúp cho giáo viên chủ động linh hoạt sáng tạo hơn khi xây dựng
chương trình, thông qua các hoạt động giáo viên rèn cho trẻ có những kỹ năng
cần thiết, cơ bản nhất để trẻ phát triển toàn diện. Ngoài ra giáo viên có thêm
nhiều kinh ngiệm cũng như những bài học về cách thức tổ chức các hoạt động
một cách khoa học và thường xuyên hơn. Ngoài ra giáo viên còn có cơ hội trau
dồi thêm kiến thức trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ như: Thuộc thêm nhiều
bài hát, nhiều bài thơ hát, hiểu hơn về cách chơi và luật chơi của các trò chơi.
2.4.3. Đối với nhà trường:



Cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa cô giáo và phụ huynh để nắm được đặc
điểm tâm sinh lý của trẻ từ đó có kế hoạch phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Tổ chức nhiều trò chơi sử dụng ngôn ngữ.
Cô giáo tạo điều kiện cho trẻ nghe nhiều và nói chuyện nhiều với trẻ, luôn
tìm cách thúc đẩy trẻ sử dụng ngôn ngữ một cách chủ động.
Tích cực cho trẻ làm quen với thiên nhiên để phát triển khả năng quan sát,
giúp trẻ củng cố và tư duy hoá các biểu tượng bằng ngôn từ.
3.2. Kiến nghị:
- Nhà trường tạo điều kiện tiếp tục cho giáo viên đi thăm quan môi trường
sư phạm và các tiết dạy mẫu ở trường bạn để học hỏi kinh nghiệm.
- Cấp trên quan tâm hơn nữa trong việc mở các lớp tập huấn để giáo viên
tham gia, hỗ trợ kinh phí để nhà trường tạo môi trường bên ngoài đẹp phù hợp
hơn.
- Cần có sự quan tâm của các bậc phụ huynh đến việc chăm sóc giáo dục
cho trẻ, hạn chế việc cho trẻ tiếp xúc nhiều với công nghệ thông tin như điện
thoại, máy tính mà thay vào đó là nên trò chuyện với trẻ nhiều hơn, nhận thức về
việc cho con em ra lớp đều, đúng độ tuổi.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
………………………………………………………………………
……………………………………………………………..………..
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
…………………………………………………………….………

Thiết Ống, ngày 21 tháng 05 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác

[4] Sự hình thành và phát triển ngôn ngữ của Nguyễn Ánh Tuyết nhà xuất
bản Hà Nội năm 2002
[5] Tuyển tập trò chơi, bài hát thơ ca, truyện, câu đố theo chủ đề trẻ 25-36
tuổi – Lê Thu Hương (chủ biên) Do nhà xuất bản giáo dục Việt Nam.

20


DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Phạm Thị Nguyên
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường MN Thiết Ống

TT
1.

Tên đề tài SKKN
Rèn luyện kỹ năng cho trẻ
học môn tạo hình

Cấp đánh giá
xếp loại
(Ngành GD cấp
huyện/tỉnh;
Tỉnh...)
Ngành GD cấp
tỉnh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status