MỤC LỤC
Nội dung
I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1.Cơ sở lý luận
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Thuận lợi:
Khó khăn:
Kết quả của thực trạng
3. Các giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề
Giải pháp 1: Giáo viên kết hợp với cha mẹ trẻ trong việc lập kế
hoạch giáo dục sức khỏe cho trẻ.
Giải pháp 2: Tập cho trẻ có thói quen tốt trong sinh hoạt hàng
ngày.
Giải pháp 3: Tạo cho trẻ có kĩ năng, thói quen tốt trong giữ gìn sức
khỏe và tích hợp giáo dục sức khỏe vào các hoạt động.
Giải pháp 4: Cô luôn quan tâm chú ý đến trẻ và tích cực cho trẻ
tham gia vào các hoạt động giáo dục sức khỏe.
Giải pháp 5: Phối hợp với các bậc phụ huynh trong việc chăm sóc
sức khỏe cho trẻ.
4. Hiệu quả
III - KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Kiến nghị
Trang
1
Trên cơ sở những nét cơ bản về tâm- sinh lý. Trẻ lứa tuổi 25-36 tháng tuổi, tốc
độ tăng trưởng chậm lại, chức năng các cơ quan hoàn thiện.
Bệnh tật: Nổi bật vẫn là các bệnh nhiễm trùng.
Tâm lý tình cảm: Đây là giai đoạn phát triển đột phá, rất quan trọng và là
nền tảng cho sự hình thành cá tính và nhân cách sau này, trẻ bắt đầu khám phá
thế giới xung quanh một cách mãnh liệt.
Những nét đặc trưng của phát triển tâm lý: Trẻ biết đi, nói nhờ đó trẻ chủ
động giao tiếp, thích tự mình tìm hiểu thế giới xung quanh, trẻ rất hiếu động.
Bước đầu tách mẹ tự lập: Cai sữa, xa mẹ đi nhà trẻ, mâu thuẫn với người lớn
vì phải ghép vào kỷ luật. Sự cấm kỵ nghiêm ngặt hoặc thiếu chăm sóc làm mất
tính độc lập, giảm năng lực tìm hiểu thế giới để thích nghi. Các rối loạn thường
gặp là khó ăn ngủ, hiếu động, hay quấy khóc, bẳn tính.
Trẻ em là nguồn hạnh phúc, là tương lai của gia đình và của xã hội. Đối với
trẻ lứa tuổi 25-36 tháng thì gia đình luôn giữ vai trò hàng đầu, là yếu tố quyết
định đối với việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ, nhất là việc giáo dục sức khỏe
cho trẻ. Cha mẹ trẻ và các thành viên trong gia đình là những người gần gũi,
thân thiết, thường xuyên ở bên cạnh trẻ. Việc chăm sóc, giáo dục sức khỏe cho
trẻ không chỉ là trách nhiệm mà là “Bản năng” của họ.
Đi nhà trẻ, đó là một trong những “Quyền của trẻ em” phải được hưởng.
Những gì trẻ học được trong những năm tháng tuổi thơ sẽ tạo một nền tảng
vững chắc cho trẻ khi trưởng thành. Điều này cho chúng ta thấy ý nghĩa lớn lao
của tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe để giúp trẻ hình thành và phát triển
toàn diện nhân cách. Đồng thời trách nhiệm giáo dục sức khỏe cho trẻ không chỉ
có ở nhà trường mà phải có cả sự tham gia của gia đình trẻ.
Như chúng ta đã biết: Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống
giáo dục quốc dân, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho
sự hình thành và phát triển nhân cách con người.
Giáo dục mầm non cũng là bậc học mang tính xã hội hóa cao để thực hiện
biện pháp thu hút cha mẹ trẻ trong việc giáo dục sức khỏe cho trẻ độ tuổi 2536 tháng ở trường mầm non Thiệu Phú”.
2. Mục đích nghiên cứu.
Thực trạng và các giải pháp thu hút cha mẹ trẻ trong việc giáo dục sức
khỏe cho trẻ.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Trẻ trong độ tuổi 25-36 tháng ở trong trường mầm non Thiệu Phú đơn vị
tôi công tác.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp quan sát.
Phương pháp điều tra.
Phương pháp dùng lời.
Phương pháp thực hành trải nghiệm.
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
1. Cơ sở lý luận:
Trẻ lứa tuổi 25-36 tháng, trẻ rất nhạy cảm và mau chóng tiếp thu những
điều học được và hình thành dấu ấn lâu dài. Vì vậy tiến hành giáo dục sức khỏe
cho trẻ sẽ góp phần quan trọng trong chiến lược con người, tạo ra một lớp người
mới có sự hiểu biết đầy đủ về sức khỏe, biết lựa chọn ăn uống đúng cách và
thực hiện tốt các nề nếp, thói quen vệ sinh, biết tránh xa những vật dụng, những
nơi nguy hiểm... để đảm bảo sức khỏe của mình.
Những cử chỉ âu yếm, vỗ về, vút ve, gần gũi trẻ cùng với những điệu bộ
nét mặt, lời nói để tạo cho trẻ những cảm xúc an toàn, tin cậy, thỏa mãn nhu cầu
giao tiếp, tiếp xúc với thế giới xung quanh nhằm giáo dục sức khỏe cho trẻ có
hiệu quả cao nhất.
Ngoài việc cô giáo đóng vai trò chủ đạo trong việc giáo dục sức khỏe cho
trẻ thì cha mẹ trẻ cũng có những điểm mạnh, đó là: Cha mẹ trẻ luôn mang đến
cho trẻ những tính xúc cảm, tính linh hoạt, tính thiết thực, sự thích ứng nhanh
Để biết thực trạng trẻ trong nhóm có sức khỏe như thế nào, vào đầu năm
học tôi đã tiến hành khảo sát, kết quả cụ thể như sau:
Tổng số trẻ là: 25 cháu. Trong đó: 13 trẻ nam, 12 trẻ nữ
Số trẻ được khảo sát: 25 cháu.
Bảng kết quả khảo sát thực trạng
Kết quả
Nội dung
Số lượng Tỷ lệ
Cân nặng phát triển bình thường theo lứa tuổi
Chiều cao phát triển bình thường theo lứa tuổi
Trẻ đi thẳng người, chạy được theo hướng thẳng và đổi
hướng không bị mất thăng bằng.
Làm được một số thói quen tự phục vụ đơn giản với sự giúp
đỡ của người lớn
Biết một số vật dụng, nơi nguy hiểm và tránh khi được nhắc
21/25
84%
22/25
88%
15/25
60%
13/25
Sau khi lập kế hoạch giáo dục sức khỏe cho trẻ, hàng tháng tôi đã đưa nội
dung giáo dục sức khỏe cho mỗi phụ huynh một bản. Đồng thời tôi đưa nội
dung này vào góc tuyên truyền để phụ huynh biết.
Ví dụ:
TUẦN
Tuần 1- 4
CHỦ ĐỀ
Bé và các bạn
NỘI DUNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE.
- Làm quen với chế độ ăn cơm và các
loại thức ăn khác nhau.
- Luyện thói quen một giấc ngủ buổi
trưa.
Tuần 5 - 8
Tuần 9 - 12
Tuần 13 - 16
Tuần 17 - 20
Tuần 21 - 22
Mẹ và những người
thân yêu của bé
- Luyện thói quan cầm thìa xúc ăn, cầm
cốc uống nước.
- Tập đi vệ sinh đúng nơi quy định.
- Luyện thói quen bê gối đến chỗ ngủ,
cất gối khi ngủ dậy.
- Tập rửa tay, rửa quả trước khi ăn.
- Tập rửa tay, rửa quả trước khi ăn, lau
mặt.
- Tập đi dép, đi vệ sinh, cởi quần áo khi
bị bẩn ướt.
- Nhận biết nguy cơ không an toàn khi
sử dụng dao, kéo... Ăn các loại quả có
hạt.
- Nhận biết nguy cơ không an toàn khi
Tuần 27 - 30
Tuần 31 - 33
Tuần 34 - 35
tham gia giao thông: Không đi qua
Bé có thể đi khắp nơi đường khi không có người lớn dắt,
bằng phương tiện gì không thò đầu, thò tay ra ngoài xe...
không theo người lạ.
Trong bữa ăn: Trẻ được ăn uống cùng nhau là cơ hội quan trọng để dạy
trẻ hành vi văn minh, lịch sự trong ăn uống, hoặc cách ứng sử trong ăn uống.
Giáo viên cần tận dụng các tình huống trong bữa ăn để dạy trẻ biết mời cô, mời
bạn trước khi ăn. Dạy trẻ cách sử dụng đồ dùng ăn uống, nhận biết loại thực
phẩm trong món ăn. Đồng thời cô dạy trẻ hành vi trong ăn uống như: Ăn từ tốn
(ăn từ từ) và nhai kĩ, không được vừa ăn vừa chơi, không nhặt thức ăn rơi vãi
đưa vào miệng.
Dạy trẻ cách sử dụng khăn lau miệng, lau tay sau khi ăn... Không để trẻ
phân tán sự chú ý trong khi ăn. Đặc biệt cô cần quan tâm đến việc đảm bảo an
toàn, tạo bầu không khí vui vẻ, giúp trẻ hào hứng ăn.
Trong giờ ngủ: Cô cần tạo không khí yên tĩnh và giúp trẻ nhanh chóng đi
vào giấc ngủ, tạo cho trẻ thói quen ngủ đúng giờ, cảm thấy sảng khoái, khỏe
mạnh.
Cô nên dùng thủ thuật như: Nói thầm thì với trẻ những việc làm cần thiết
trước khi ngủ “ Nằm im, nhắm mắt để ngủ”... Khi trẻ thức dậy, cô cần hướng
dẫn cho trẻ biết làm gì khi ngủ dậy như: Cất gối, đi vệ sinh, súc miệng, chải
đầu, vận động tay, chân, chuẩn bị ăn quà chiều...
Hình ảnh trẻ đang tự cất đồ chơi sau khi chơi.
Giải pháp 3: Tạo cho trẻ có kĩ năng, thói quen tốt trong giữ gìn sức
khỏe và tích hợp giáo dục sức khỏe vào các hoạt động.
Có nhiều hình thức rèn kĩ năng thói quen tốt trong giữ gìn sức khỏe và an
toàn cho trẻ. Trong các hình thức đó thì hình thức thực hành luôn mang lại hiệu
quả cao nhất. Vì vậy giáo viên cần kiên trì hướng dẫn cho trẻ để trẻ hình thành
thói quen hàng ngày như: Rửa tay, rửa mặt, mặc quần áo phù hợp với thời tiết,
đánh răng, chải tóc, đi dép, thói quen vệ sinh ăn uống...Cần biết đồ dùng nào,
Hình ảnh cô đang lồng giáo dục sức khỏe cho trẻ thông qua lĩnh vực
phát triển ngôn ngữ.
Giải pháp 4: Cô luôn quan tâm chú ý đến trẻ và tích cực cho trẻ tham
gia vào các hoạt động giáo dục sức khỏe.
Trước hết giáo viên phải biết tạo ra môi trường, bầu không khí yêu
thương. Khi trẻ được sống trong môi trường yêu thương, chăm sóc, ủng hộ,
khuyến khích thì trẻ sẽ trở thành người có ích, biết quan tâm đến người khác.
Điều này phản ánh nên thực tế rằng: Trẻ hay bắt chước hoặc làm theo hành vi
của người lớn.
Trẻ nhỏ rất nhạy cảm đối với sự quan tâm, chú ý, hoặc thờ ơ của người
lớn. Thông qua hành động như: Trẻ tìm cách đến gần cô, kéo tay cô hoặc kéo áo
cô để thu hút sự chú ý. Giáo viên cần thể hiện qua cử chỉ “Nhìn vào mắt trẻ”
khi nghe trẻ nói hoặc dừng công việc đang làm để nghe trẻ. Như vậy trẻ cảm
thấy tiếng nói của mình được tôn trọng.
Một trong những công việc của người giáo viên nuôi dạy trẻ là luôn phải
làm việc gì đó cùng với trẻ. Chơi với trẻ và làm mẫu những hành vi tốt đó là
cách tốt nhất để dạy trẻ.Trẻ nhỏ thường học qua cách làm mẫu, trẻ bắt chước
cho đến khi qua độ tuổi mẫu giáo. Cách tốt nhất để chỉ cho trẻ tấm gương tốt đó
là làm cái gì cùng trẻ hoặc làm trước mặt trẻ. Điều này có nghĩa là giáo viên
không chỉ được ra mệnh lệnh hoặc lời hướng dẫn.
Ví dụ: Thay vì sửa cho trẻ trong bữa ăn bằng câu nói “Con không được
bốc thức ăn bằng tay”, giáo viên nên cầm cái thìa của mình xúc ăn và nhẹ nhàng
nói “Chúng ta xúc cơm ăn bằng thìa của mình”.
Hoặc thay bằng câu nói “Các con hãy thu dọn đồ chơi lại”, thì giáo viên
có thể cầm tay trẻ ngồi xuống và tạo thành trò chơi cùng với trẻ cất đồ chơi vào
rổ “Đã đến giờ cất đồ chơi của bạn rồi. Mời bác Gấu vào nhà đi ngủ nhé”, mỗi
động tác cất một đồ chơi lại kèm theo lời nói vui hoặc trò chơi nhỏ để gây hứng
thú cho trẻ.
Cô đưa tranh có hình ảnh cái phích và hỏi trẻ. Đây là cái gì ? (cái phích).
Đúng rồi đây là cái phích.
Các con có biết cái phích này dùng để làm gì không ? (Để đựng nước
sôi/nước nóng).
Bạn Bảo Ngọc nói đúng rồi. Cái phích dùng để đựng nước nóng đấy. Nếu
đụng vào, phích bị nổ hoặc đổ nước nóng vào người sẽ bị bỏng đấy. Các con
không được đến gần cái phích nhé.
Tương tự như vậy giáo cung cấp dần cho trẻ kinh nghiệm phòng tránh
nguồn gây nguy hiểm và thông qua các tình huống cụ thể khi đưa trẻ chơi, đi
dạo chơi, trong giờ ăn...
Giải pháp 5: Phối hợp với các bậc phụ huynh trong việc chăm sóc sức
khỏe cho trẻ.
Để góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho trẻ, giáo viên
cần hướng dẫn cho cha mẹ và các thành viên trong gia đình trẻ phải đặc biệt chú
trọng khâu chăm sóc trẻ như: Chăm sóc cho trẻ ăn, ngủ đúng giờ, chế độ dinh
dưỡng và khẩu phần ăn phải phù hợp với từng giai đoạn. Tạo cho trẻ luôn có
trạng thái vui vẻ. Đặc biệt là những người lớn trong gia đình trẻ cần phải tiếp
xúc da, thịt thường xuyên để trẻ cảm nhận được gắn bó, an toàn. Đồng thời phát
hiện sớm những thay đổi tâm, sinh lí bất thường ở trẻ để có những biện pháp
can thiệp sớm.
Đối với trẻ lần đầu tiên đến nhóm đó là khó khăn lớn nhất đối với cha mẹ
trẻ cũng như đối với trẻ. Bởi vì ở nhà trẻ và mẹ thường gắn bó với nhau xuốt
ngày, còn đến trường đưa trẻ phải vào môi trường hoàn toàn mới. Vì vậy giáo
viên cần tư vấn cho cha mẹ trẻ biết cách chuẩn bị cho trẻ tiếp nhận sự thay đổi
đó để tránh cho trẻ bị stress. Giáo viên nên khuyên cha mẹ trẻ không nên để lộ
sự lo lắng, quá lưu luyến khi tạm biệt trẻ ở trường. Khi trẻ về nhà cha mẹ trẻ
luôn lắng nghe những câu chuyện của trẻ về trường, về lớp, về các bạn (nếu trẻ
kể), hoặc hỏi han trẻ về những gì xảy ra ở lớp. Cố gắng động viên và khuyến
khích trẻ để tạo cho trẻ cảm giác tự tin khi đến lớp. Cha mẹ trẻ cũng phải trao
đổi với giáo viên về những đặc điểm riêng của con mình như thói quen ăn uống,
sóc và giáo dục trẻ.
Thông qua các hội thi, hoạt động văn hóa, văn nghệ
Giáo viên đến thăm trẻ tại nhà.
Hòm thư cha mẹ.
Cha mẹ trẻ tham quan hoạt động của nhóm.
Thông qua phương tiện thông tin đại chúng như: Đài truyền thanh, bản tin
nhà trường...
Hình ảnh tổ chức buổi sinh hoạt với cha mẹ trẻ
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Sau khi áp dụng “Một số biện pháp thu hút cha mẹ trẻ trong việc giáo
dục sức khỏe cho trẻ độ tuổi 25-36 tháng ở trường mầm non Thiệu Phú”,
bước đầu đã có những kết quả đáng tự hào, kết quả cụ thể như sau:
Đối với hoạt động giáo dục:
Trẻ đã có những thói quen tốt trong ăn uống như: Tự xúc ăn, tự uống
nước, ăn từ tốn, nhai kĩ, ăn xong để đồ dùng đúng nơi quy định. Biết gọi người
lớn khi có nhu cầu đi vệ sinh, khi chơi xong tự cất đồ chơi. Biết rửa tay, rửa quả
trước khi ăn, lau mặt. Biết đi dép, đi vệ sinh, cởi quần áo khi bị bẩn ướt.
Nhận biết nguy cơ không an toàn và phòng tránh, không vào bồn tắm, nơi
chứa nước khi không có người lớn, không theo người lạ.
Bảng kết quả
Nội dung
Cân nặng phát triển bình thường theo lứa tuổi
Chiều cao phát triển bình thường theo lứa tuổi
Trẻ đi thẳng người, chạy được theo hướng thẳng và đổi
khỏe cho trẻ nói riêng và hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ nói chung.
Bản thân có nhiều kinh nghiệm hơn trong việc sử dụng các hình thức, các biện
pháp phối hợp với cha mẹ trẻ nhằm nâng cao chất lượng nuôi ưỡng, chăm sóc
và giáo dục trẻ.
Đối với đồng nghiêp
Sáng kiến kinh nghiệm. “Một số biện pháp thu hút cha mẹ trẻ trong việc
giáo dục sức khỏe cho trẻ độ tuổi 25-36 tháng ở trường mầm non Thiệu
Phú”, đã tạo ra sự lan tỏa, giúp đồng nghiệp áp dụng có hiệu quả trong việc
phối kết hợp với cha mẹ trẻ.
Đối với nhà trường.
Trong năm học 2015-2016, nhà trường cũng đã thu được nhiều kết quả
trong việc phối kết hợp với phụ huynh như: Phụ huynh tham gia lao động ngày
công để san đất vườn rau, hỗ trợ kinh phí để đóng tủ cá nhân, bàn ghế giáo viên
với số tiền hơn 60 triệu đồng.
Đặc biệt nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ.
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Một số giải pháp mà tôi đã thực hiện trong năm học vừa qua, bản thân đã
thu được những kết quả như: Đã tạo được nhiều niềm tin cho các bậc phụ
huynh khi trao con cho tôi, trẻ hứng thú khi tham gia vào các hoạt động hoạt
giáo dục sức khỏe, cũng như hoạt động giáo dục khác. Khi cô tổ chức các nội
dung nhằm thu hút cha mẹ trẻ, giáo viên cần chủ động xây dựng mối quan hệ tốt
với cha mẹ trẻ. Sẵn sàng trao đổi kinh nghiệm và giúp đỡ cha mẹ trẻ về các kiến
thức chăm sóc, giáo dục trẻ.
Với các giải pháp tôi đã thực hiện trong năm học, tôi đã thu được những
kết quả đáng mừng. Từ đó bản thân tôi rút ra một số kinh nghiệm sau:
Nghiên cứu tham khảo tài liệu, không ngừng bồi dưỡng nâng cao trình độ
chuyên môn.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 03 tháng 04 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình,
không sao chép nội dung của người khác.
Người viết
L ê Thị Giang
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Các hoạt động giáo dục dinh dưỡng- sức khỏe cho trẻ mầm non. Tác
giả Phạm Mai Chi- Vũ Yến Khanh- Nguyễn Thị Hồng Thu. Nhà xuất bản giáo
dục Việt Nam.
2. Hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo dục mầm non (3-36
tháng tuổi). Tác giả: TS. Trần Thị Ngọc Trâm- TS. Lê Thu Hương- PGS.TS Lê
Thị Ánh Tuyết (Đồng Chủ biên). Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam.
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THIỆU HOÁ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP THU HÚT CHA MẸ TRẺ TRONG
VIỆC GIÁO DỤC SỨC KHỎE CHO TRẺ 25-36 THÁNG
TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON THIỆU PHÚ.
Người thực hiện: Lê Thị Giang