ĐỀ tài NGHIÊN cứu PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ kết QUẢ dạy và học BẰNG TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN xây DỰNG THÍ điểm một hệ THỐNG KHẢO THÍ TRỰC TUYẾN TRÊN MẠNG - Pdf 34

ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ DẠY VÀ HỌC BẰNG TRẮC NGHIỆM
KHÁCH QUAN. XÂY DỰNG THÍ ĐIỂM MỘT HỆ THỐNG KHẢO THÍ TRỰC TUYẾN TRÊN MẠNG.

Nghiên cứu phương pháp đánh giá kết
quả dạy và học bằng trắc nghiệm khách
quan. Xây dựng thí điểm một hệ thống
khảo thí trực tuyến trên mạng.
I.

TỔNG QUAN VÀ SO SÁNH CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ
THÀNH QUẢ HỌC TẬP. NGHIÊN CỨU QUI TRÌNH ĐÁNH GIÁ KẾT
QUẢ DẠY VÀ HỌC BẰNG PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM KHÁCH
QUAN.

Hiện nay có rất nhiều phương pháp kiểm tra, đánh giá đã được sử dụng trong
quá trình dạy học như kiểm tra, đánh giá bằng hình thức thi viết, thi thực hành, thi vấn
đáp, kiểm tra thông qua các hình thức đề tài, đề án, dự án, đánh giá thông qua phương
pháp tích luỹ, hồ sơ lưu trữ… Trong đề tài này, chúng tôi(gồm 2 sinh viên : Ngô Chí
Công,Trần Trung Hiếu thuộc khoa CNPM ĐHCNTT ĐHQG TPHCM),đánh giá các ưu,
nhược điểm của các phương pháp kiểm tra, đánh giá đang được sử dụng hiện nay
trong quá trình dạy học, qua đó nghiên cứu qui trình đánh giá kết quả dạy và học bằng
phương pháp trắc nghiệm khách quan và xây dựng phần mềm trắc nghiệm khách quan
khảo thí trực tuyến trên mạng.

Nhóm sinh viên thực hiện:
01. Ngô Chí Công
02. Trần Trung Hiếu

MSSV: 06520053
MSSV: 065200


phụ thuộc vào bản chất của nhiệm vụ như cách báo cáo (báo cáo miệng hay
viết), các tài liệu sử dụng: báo, tạp chí, chương trình, video…nỗ lực bản thân
khi nghiên cứu, phương thức giải quyết… Tuy nhiên khi thực hiện phuơng
pháp này cần chú trọng đến các thông tin, tài liệu sử dụng, thời gian thực
hiện…nhằm so sánh với những gì học viên đã được học trong quá trình đào
tạo. Ưu điềm của phương pháp này là có thể phát huy khả năng làm việc
nhóm của học viên và giảm trách nhiệm của người hướng dẫn. Tuy nhiên
phương pháp này cần lưu ý các vấn đề như xác định hình thức thực hiện
công việc giữa các thành viên trong nhóm, vai trò, trách nhiệm của từng
thành viên, sự phân công công việc, thưởng, phạt…

Nhóm sinh viên thực hiện:
01. Ngô Chí Công
02. Trần Trung Hiếu

MSSV: 06520053
MSSV: 065200


ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ DẠY VÀ HỌC BẰNG TRẮC NGHIỆM
KHÁCH QUAN. XÂY DỰNG THÍ ĐIỂM MỘT HỆ THỐNG KHẢO THÍ TRỰC TUYẾN TRÊN MẠNG.

-

Phương pháp tích luỹ hồ sơ: phương pháp này gần giống với phương
pháp thực hiện nhiệm vụ. Hình thức kiểm tra này là một sự đánh giá theo
phương pháp tích lũy nhằm thể hiện một việc làm của học viên và lưu lại hồ
sơ những việc làm đó. Trong khi hình thức kiểm tra bằng đề tài chỉ tập trung
vào một chủ đề đơn lẻ, còn phương pháp kiểm tra này có thể chứa đựng bất
kỳ hình thức đánh giá nào. Ngoài ra còn có những tài liệu phụ như: phiếu

mỗi thành viên thực hiện từng phần của đồ án, người hướng dẫn giám sát
công việc, mỗi học viên cố gắng thực hiện tốt nhất phần công việc của mình,
để có thể trở thành thành viên quan trọng nhất trong đồ án.

-

Phương pháp làm luận án: là hình thức mở rộng của phương pháp tự
luận, đòi hỏi phải được bố trí, sắp xếp theo các yêu cầu cụ thể. Nội dung của
luận án phản ánh sự tìm tòi và kết quả của quá trình nghiên cứu. Phương
pháp làm luận văn cần giải quyết một số vấn đề giống như thực hiện một đồ
án riêng biệt.

Nhóm sinh viên thực hiện:
01. Ngô Chí Công
02. Trần Trung Hiếu

MSSV: 06520053
MSSV: 065200


ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ DẠY VÀ HỌC BẰNG TRẮC NGHIỆM
KHÁCH QUAN. XÂY DỰNG THÍ ĐIỂM MỘT HỆ THỐNG KHẢO THÍ TRỰC TUYẾN TRÊN MẠNG.

-

Phương pháp thi: Có nhiều hình thức tổ chức thi. Phần lớn thời gian thi
diễn ra tương đối ngắn và các điều kiện trong khi thi bảo đảm học viên có
thể thực hiện một mình (một vài hình thức thi cho phép học viên có thể
mang câu hỏi thi về nhà để chuẩn bị). Một trong những nhược điểm của các
phương pháp này là thời gian thi ngắn do đó các câu trả lời của học viên

dụng chủ yếu cho việc thu thập thông tin về kiến thức thực tế hoặc khả
năng tính toán cụ thể trong toán học. Các cách này có thể được sử
dụng để đánh giá nhiều loại suy nghĩ và kĩ năng giải quyết vấn đề. Tuy
nhiên cũng cần phải có những kĩ năng đáng kể để phát triển những bài
kiểm tra nhằm mục đích đo lường được sự phân tích, đánh giá và
những kĩ năng liên quan khác ở mức độ cao hơn.

Nhóm sinh viên thực hiện:
01. Ngô Chí Công
02. Trần Trung Hiếu

MSSV: 06520053
MSSV: 065200


ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ DẠY VÀ HỌC BẰNG TRẮC NGHIỆM
KHÁCH QUAN. XÂY DỰNG THÍ ĐIỂM MỘT HỆ THỐNG KHẢO THÍ TRỰC TUYẾN TRÊN MẠNG.

 Thi vấn đáp là hình thức thi mà học viên trả lời bằng lời nói. Có thể kết
hợp phương pháp này với bất cứ phương pháp nào khác đã được đề
cập ở trên. Trong một khoảng thời gian ngắn cần kiểm tra học viên về
kiến thức đã học và chiều sâu nhận thức của học viên.
 Thi trắc nghiệm là hình thức thi mà ở đó học viên có thể lựa chọn câu
trả lời chính xác từ hàng loạt khả năng lựa chọn của các câu hỏi. Đây là
hình thức kiểm tra khá hiệu quả, trong một khoản thời gian ngắn, học
viên chỉ cần đánh dấu bằng bút chì hoặc thi bằng máy tính lên dãy
các câu trả lời chính xác nhất. Phương pháp này thuận tiện cho học
viên có thể dễ dàng xem xét lại toàn bộ chương trình học. Nhược điểm
của phương pháp này là soạn một câu hỏi tốt thì rất khó (phần này sẽ
đề cập cụ thể sau).

mình. Điều quan trọng ở đây là học viên cố gắng ứng dụng những kiến thức
đã học cho tự bản thân họ: tự làm một bài tập do họ nghĩ ra, ứng dụng
những kiến thức đã học cho công việc của họ, tự đánh giá và xém xét về khả
năng của họ, kết hợp với các học viên khác báo cáo công việc cho mọi người
biết…

Nhóm sinh viên thực hiện:
01. Ngô Chí Công
02. Trần Trung Hiếu

MSSV: 06520053
MSSV: 065200


ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ DẠY VÀ HỌC BẰNG TRẮC NGHIỆM
KHÁCH QUAN. XÂY DỰNG THÍ ĐIỂM MỘT HỆ THỐNG KHẢO THÍ TRỰC TUYẾN TRÊN MẠNG.

ii. Các phương pháp đánh giá, kiểm tra đang được sử dụng hiện
nay cho quá trình dạy và học tại thành phố.
Hiện nay tại thành phố có rất nhiều cơ quan, tổ chức, các trường đại học, cao
đẳng, trung học phổ thông, trung học cơ sở, các viện nghiên cứu, các trung tâm đào
tạo tham gia giảng dạy dưới nhiều hình thức đào tạo khác nhau từ các hệ đào tạo chính
quy (phổ thông, cao đẳng, đại học, sau đại học…) đến các hình thức đào tạo phi chính
quy, ngắn hạn, đào tạo chuyên đề, đào tạo theo đơn đặt hàng, theo yêu cầu. Tất cả
các hình thức đào tạo đó đều được đánh giá, kiểm tra khi kết thúc chương trình đào
tạo (đào tạo ngắn hạn, chuyên đề…), hoặc kiểm tra, đánh giá nhiều lần (đào tạo chính
quy, đào tạo dài hạn…).
Các phương pháp kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy và học là những
phương pháp đánh giá đã được nêu ở trên. Tuy nhiên tại thành phố, phương pháp kiểm
tra, đánh giá được áp dụng nhiều nhất là phương pháp thi. Có rất nhiều hình thức thi

KHÁCH QUAN. XÂY DỰNG THÍ ĐIỂM MỘT HỆ THỐNG KHẢO THÍ TRỰC TUYẾN TRÊN MẠNG.

Trắc nghiệm là một phương pháp kiểm tra, đánh giá quá trình tiếp thu kiến thức
của người học. Nó có thể đo lường khả năng của người học ở bất kỳ cấp học nào, bất
cứ môn học nào trong lĩnh vực khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội. Hình thức thi
trắc nghiệm này đã có từ lâu và đã trở nên phổ biến trên thế giới, nhưng tại nước ta thì
chưa được áp dụng rộng rãi và còn ít được sự quan tâm của mọi người. Trong thời gian
gần đây, nhiều cơ quan, tổ chức đào tạo được sự khuyến khích của các cơ quan quản lý
nhà nước (Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Sở Giáo Dục và Đào Tạo…) đã đưa hình thức thi
trắc nghiệm vào quá trình đánh giá, kiểm tra người học nhằm từng bước thay thế cho
các hình thức thi khác đã được sử dụng từ trước tới nay (thi viết, thi vấn đáp, tự
luận…).
Theo đánh giá của các chuyên gia đào tạo, khi tổ chức thi trắc nghiệm khách quan
(các dạng thi trắc nghiệm sẽ được đề cập đến sau) sẽ có các những thuận lợi sau:
- Giảm được chi phí giấy, mực ở mỗi lần thi ( nếu thi trên máy tính sẽ không
cần giấy, mực).
- Không cần phải huy động nhiều cho việc gác thi.
- Tình trạng học viên lật tài liệu sẽ không còn.
- Trong lúc thi các câu hỏi được lấy ngẫu nhiên, do đó hạn chế được tình trạng
xem bài lẫn nhau (thi trên máy tính, đề thi sẽ do máy tính lấy ngẫu
nhiên từ ngân hàng đề thi).
-

Việc chấm bài không phải mất nhiều thời gian vì chương trình thực hiện tự
động và có kết quả lập tức ngay sau khi thi xong. Đảm bảo được tính công
bằng và chính xác khi chấm điểm.

Nhóm sinh viên thực hiện:
01. Ngô Chí Công
02. Trần Trung Hiếu

học viên ấy có thể, bằng lối đoán mò, tình cờ đạt được điểm số cao hơn là nếu
học viên cẩn thận suy nghĩ về từng câu hỏi để cố gắng đưa ra câu trả lời đúng.
Tuy nhiên, trong thực tế, ít học viên có kỳ vọng đạt được điểm cao trên một bài
trắc nghiệm dài, gồm nhiều câu hỏi và một câu có nhiều lựa chọn. Do đó,
tuy rằng học viên có thể đoán mò với một bài trắc nghiệm, lối đoán mò ấy rất
hiếm khi đem đến lợi lộc gì cho họ. Thật ra, không phải lúc nào học viên cũng áp
dụng lối đoán mò. Học viên chỉ đoán mò trong một bài thi khi họ không có chút
kiến thức nào liên quan đến câu hỏi, khi đã gần hết thời gian qui định cho bài thi,
hoặc khi họ không còn hứng thú để cố gắng lựa chọn câu trả lời có suy nghĩ.
Thông thường hơn, học viên không đoán mò mà chỉ không chắc chắn hoàn toàn
về câu trả lời lựa chọn, sau khi đã suy nghĩ. Nếu học viên có chút hiểu biết nào đó
liên quan đến câu hỏi và nếu học viên ấy vận dụng tối đa sự hiểu biết của mình
để tìm ra câu trả lời thì lối giải đáp câu hỏi của học viên cũng đóng góp một cách
hiệu quả vào việc đo lường thành quả học tập của học viên đó.
Một trong các phương pháp tìm hiểu xem các học viên có đoán mò hay
không là xem xét độ tin cậy của bài trắc nghiệm ấy. Nếu tất cả học viên đều đoán
mò thì hệ số tin cậy của bài trắc nghiệm là 0. Do đó nếu bài trắc nghiệm có hệ số
tin cậy cao, có thể tin tưởng rằng sự đoán mò chỉ đóng góp một phần rất nhỏ vào
các điểm số của học viên. Dẫu sao, việc ngăn ngừa sự đoán mò, cũng như các kỹ
Nhóm sinh viên thực hiện:
01. Ngô Chí Công
02. Trần Trung Hiếu

MSSV: 06520053
MSSV: 065200


ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ DẠY VÀ HỌC BẰNG TRẮC NGHIỆM
KHÁCH QUAN. XÂY DỰNG THÍ ĐIỂM MỘT HỆ THỐNG KHẢO THÍ TRỰC TUYẾN TRÊN MẠNG.


4. Người ta vẫn thường cho rằng hình thức thi viết khuyến khích sự sáng tạo và thi

trắc nghiệm không khuyến khích khả năng sáng tạo. Với phương pháp thi viết học
viên có quyền tự do diễn tả ý tưởng của mình bằng văn viết, trong khi trắc
nghiệm chỉ cho phép họ lựa chọn trong số các giải đáp cho sẵn. Trên nguyên tắc,
bài văn viết cho phép học viên tổ chức các ý tưởng của mình và trình bày các ý
tưởng ấy bằng chính ngôn ngữ của mình, thay vì diễn tả lại như vẹt những gì đã
có sẵn từ các nguồn thông tin khác. Do đó hình thức thi viết có thể khêu gợi tinh
thần sáng tạo và phát huy khả năng ấy. Đây là một trong các ưu điểm của hình
thức thi viết. Tuy nhiên trong thực tế, nhất là trong các kỳ thi được tổ chức ở
nước ta, các bài thi bằng hình thức thi viết thường chỉ nhằm khảo sát khả năng
”nhớ” hay thuộc lòng những gì học viên đã học hay đã đọc qua các bài giảng hay
Nhóm sinh viên thực hiện:
01. Ngô Chí Công
02. Trần Trung Hiếu

MSSV: 06520053
MSSV: 065200


ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ DẠY VÀ HỌC BẰNG TRẮC NGHIỆM
KHÁCH QUAN. XÂY DỰNG THÍ ĐIỂM MỘT HỆ THỐNG KHẢO THÍ TRỰC TUYẾN TRÊN MẠNG.

sách vở. Khả năng sáng tạo, khả năng đưa ra những tư tưởng độc đáo ít khi được
khuyến khích, trái lại có khi gây bất lợi cho học viên.
Hình thức thi trắc nghiệm hoàn toàn khách quan gồm những câu hỏi với câu
trả lời cho sẵn mà học viên chỉ việc lựa chọn, và điểm số của học viên ấy là tổng
số các câu trả lời đúng. Như vậy, một bài trắc nghiệm hoàn toàn khách quan khó
có thể khảo sát khả năng sáng tạo. Gần đây, các nhà nghiên cứu trắc nghiệm
thường xen vào bài trắc nghiệm những câu hỏi thuộc loại điền khuyết



Khảo sát thành quả học tập của một số đông học viên, hay muốn bài
khảo sát ấy được dùng lại vào lúc khác.



Khi muốn có những điểm số đáng tin cậy, không phụ thuộc vào chủ
quan của người chấm bài.

Nhóm sinh viên thực hiện:
01. Ngô Chí Công
02. Trần Trung Hiếu

MSSV: 06520053
MSSV: 065200


ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ DẠY VÀ HỌC BẰNG TRẮC NGHIỆM
KHÁCH QUAN. XÂY DỰNG THÍ ĐIỂM MỘT HỆ THỐNG KHẢO THÍ TRỰC TUYẾN TRÊN MẠNG.



Khi các yếu tố công bằng, vô tư, chính xác là những yếu tố quan trọng
nhất của việc thi cử.



Khi có nhiều câu trắc nghiệm tốt đã được dự trữ sẵn để có thể lựa
chọn và soạn lại một bài trắc nghiệm mới, và muốn chấm nhanh để sớm công


Nhóm sinh viên thực hiện:
01. Ngô Chí Công
02. Trần Trung Hiếu

MSSV: 06520053
MSSV: 065200


ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ DẠY VÀ HỌC BẰNG TRẮC NGHIỆM
KHÁCH QUAN. XÂY DỰNG THÍ ĐIỂM MỘT HỆ THỐNG KHẢO THÍ TRỰC TUYẾN TRÊN MẠNG.

1. Một câu hỏi thuộc loại thi viết đòi hỏi học viên phải tự mình soạn câu trả lời và
diễn tả nó bằng ngôn ngữ của chính mình. Tuy nhiên một câu hỏi trắc nghiệm
buộc học viên phải lựa chọn câu trả lời đúng nhất trong một số câu đã cho sẵn.
2. Một đề thi viết sẽ bao gồm số câu hỏi tương đối ít và có tính cách tổng quát,
đòi hỏi học viên phải triển khai câu trả lời bằng lời lẽ dài dòng, trong khi một
bài trắc nghiệm thường gồm nhiều câu hỏi có tính cách chuyên biệt chỉ đòi hỏi
những câu trả lời ngắn gọn.
3. Trong khi thi viết học viên phải bỏ ra phần lớn thời gian để suy nghĩ và viết.
Mặt khác, trong khi làm một bài trắc nghiệm, học viên dùng nhiều thì giờ để
đọc và suy nghĩ.
4. Chất lượng của một bài trắc nghiệm được xác định một phần lớn do kỹ năng
của người soạn thảo bài trắc nghiệm ấy; ngược lại, chất lượng của một đề
thi viết tuỳ thuộc chủ yếu vào kỹ năng của người chấm bài.
5. Một bài thi viết tương đối dễ soạn, nhưng khó chấm và khó cho điểm chính xác,
trong khi một bài thi trắc nghiệm khó soạn, nhưng việc chấm và cho điểm
tương đối dễ dàng và chính xác hơn.
6. Với loại hình thức thi viết, học viên có nhiều tự do bộc lộ cá tính của mình trong
câu trả lời, và người chấm bài cũng có tự do cho điểm và các câu trả lời theo xu


ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ DẠY VÀ HỌC BẰNG TRẮC NGHIỆM
KHÁCH QUAN. XÂY DỰNG THÍ ĐIỂM MỘT HỆ THỐNG KHẢO THÍ TRỰC TUYẾN TRÊN MẠNG.



Các câu trắc nghiệm loại này thường bị chê là tầm thường, sáo
ngữ. Điều này có thể xảy ra, nếu người soạn thảo trích ra những câu có sẵn
trong sách giáo khoa, rồi chép nguyên văn các câu ấy làm câu trắc nghiệm.



Những câu Đúng – Sai được trích ra từ sách giáo khoa có thể
khuyến khích và tưởng thưởng những học viên học thuộc lòng như vẹt mà chưa
hiểu thấu đáo, hay chỉ nhận ra một số chữ quen thuộc trong sách cũng đủ biết
câu nào đúng hay sai.



Có những câu phát biểu thoạt tiên trông có vẻ như là đúng,
hoặc sai, dưới con mắt của người soạn trắc nghiệm, nhưng khi đem ra sử dụng
thì lại gặp những thắc mắc nhiều khi rất chính đáng của học viên về tính cách
đúng hay sai của các câu phát biểu ấy.



Không giống như loại câu có nhiều lựa chọn, các câu Đúng – Sai
bị tách khỏi bản văn và không có căn bản để so sánh và thẩm định tính cách
đúng hay sai tương đối của chúng.


 Lựa chọn những câu phát biểu nào mà một người có khả năng trung bình
không thể nhận ra ngay là đúng hay sai nếu không có đôi chút suy nghĩ.
Nhóm sinh viên thực hiện:
01. Ngô Chí Công
02. Trần Trung Hiếu

MSSV: 06520053
MSSV: 065200


ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ DẠY VÀ HỌC BẰNG TRẮC NGHIỆM
KHÁCH QUAN. XÂY DỰNG THÍ ĐIỂM MỘT HỆ THỐNG KHẢO THÍ TRỰC TUYẾN TRÊN MẠNG.

 Những câu phát biểu cần phải dựa trên những ý niệm căn bản mà tính cách
đúng hay sai phải chắc chắn, không tuỳ thuộc vào quan niệm riêng của từng
người, từng tác giả hay dựa trên một giả định đặc biệt hay bất thường nào đó.
 Mỗi câu trắc nghiệm chỉ nên diễn tả một ý tưởng độc nhất, tránh những câu
phức tạp, bao gồm quá nhiều chi tiết. Không nên chép nguyên văn những câu
trích từ các sách giáo khoa, vì làm như vậy chỉ khuyến khích học thuộc lòng
một cách máy móc.
 Tránh dùng những tư như ”tất cả”, ”không bao giờ”, ”không một ai”, ”không
thể nào”… Những câu có các từ ấy thường là những câu sai. Cũng vậy, những
từ như ”thường thường”, ”đôi khi”, ”một số người”, ”có khi”… bộc lộ một sự dè
dặt nào đó, nên thường hay được dùng với các câu đúng. Học viên có nhiều
kinh nghiệm có thể khám phá ra điều này một cách dễ dàng.
Áp dụng công thức để điều chỉnh sự đoán mò do học viên có 50% hy vọng để trả
lời.
Công thức chấm điểm là:

N là số lựa chọn, trường hợp loại đúng sai: N là 2.


ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ DẠY VÀ HỌC BẰNG TRẮC NGHIỆM
KHÁCH QUAN. XÂY DỰNG THÍ ĐIỂM MỘT HỆ THỐNG KHẢO THÍ TRỰC TUYẾN TRÊN MẠNG.

Trắc nghiệm loại nhiều lựa chọn được sử dụng nhiều nhất trong loại trắc nghiệm
khách quan. Loại này có thể dùng để đo lường thành tích một cách hữu hiệu. Loại này
có thể thẩm định được khả năng của học viên như: phân biệt, tuyển chọn, ứng dụng…
những điều đã học. Nó cũng có thể đo lường sự hiểu biết, diễn đạt, suy luận tiềm tàng
của học viên.
Đây là loại kiểm tra có giá trị nhất trong các loại kiểm tra của trắc nghiệm khách
quan do:
 Người ra đề thi biết học viên có ký ức về các điều đã học trước đây. Học viên
nhận ra được một điều đã học giữa một mớ sự kiện hỗn tạp. Khả năng nhận ra
là khả năng rất quan trọng cần học tập
 Học viên có lý luận, phán đoán và ứng dụng kiến thức. Vì thế loại này có giá trị
cao hơn loại điền khuyết chỉ đo lường được ký ức mà thôi.
 Người ra đề thi có thể hỏi về sự hiểu biết của học viên về các nguyên tắc căn
bản, khả năng xét đoán, khả năng áp dụng lý thuyết.
 Lối cho điểm loại trắc nghiệm này được khách quan và công bình.
 Là loại trắc nghiệm có thể được sử dụng ở nhiều môn học.
Vì vậy, việc chấm điểm loại này nên áp dụng công thức điều chỉnh sự đoán mò:
soá ñieåm = soá caâu ñuùng −

soá caâu sai
N −1

N là số lựa chọn
Tuy nhiên, nếu áp dụng công thức điều chỉnh sự đoán mò làm cho việc chấm
điểm và tính điểm trở nên phức tạp vì có thể có điểm âm. Hơn nữa, học viên đoán mò
để hy vọng có được điểm trung bình thật là mong manh.

 Phần lựa chọn: tương đương với các số ấy có những câu trả lời mà học viên
phải lựa chọn.

Hình thức phân tích.
 Phần gốc gồm một câu văn có gạch dưới các chữ quan trọng phải quyết định tự
loại hay ý nghĩa.
 Phần lựa chọn chỉ gồm các giải đáp.

Hình thức kết hợp.
 Hình thức này nhằm kết hợp các câu trả lời được cho là đúng.
 Phần gốc gồm một câu văn với nhiều giải pháp được đánh số La mã. Các giải
pháp này biến đổi có phần đúng và có phần sai.
 Phân lựa chọn gồm những sự kết hợp một hay nhiều giải pháp ở trên mà học
viên phải cân nhắc lựa chọn.

Hình thức biến đổi của loại sánh đối.
 Phần gốc là những câu văn chính cho những câu trắc nghiệm.
 Phần lựa chọn gồm những lựa chọn được dùng để trả lời chung cho nhiều câu
trắc nghiệm.

Kỹ thuật soạn thảo.
1. Nội dung câu hỏi phải rõ ràng. Nên cố gắng diễn ý dễ hiểu. Phần gốc, phần lựa
chọn càng ngắn gọn càng tốt.

2. Mỗi câu trắc nghiệm nên hỏi một ý mà thôi.
3. Những câu trắc nghiệm trong bộ trắc nghiệm nên độc lập nhau. Nếu không,
học viên sẽ nhờ câu này mà trả lời câu khác.

4. Nên tránh dùng thể phủ định trong câu hỏi. Tuy nhiên, theo nhiều nhà trắc
nghiệm, người soạn thảo có thể dùng thể phủ định để đo lường sự phán đoán

đổi. Theo lý thuyết thống kê, câu đúng nên đặt đồng đều ở mọi vị trí để tránh
sự đoán mò. Thí dụ: nếu bài trắc nghiệm có 120 câu và mỗi câu có 5 đáp án thì
mỗi chữ a, b, c, d, e có cơ hội ở vị trí đúng 24 lần.

10.

Các câu ”tất cả đều đúng”, ”cả 3 hay 4 đều đúng” cũng có thể thêm
vào để cho đầy đủ số lựa chọn. Câu này được sử dụng khi các câu khác cũng
phải khéo léo, nếu không, học viên chỉ cần biết chắc hai câu đúng là họ không
ngần ngại chọn câu “ tất cả đều đúng ”. Để hỏi về ký ức, có thể dùng hình thức
này. Dù sao, đây không phải là hình thức tốt nhất.

11.

Về việc sử dụng câu ”tất cả đề sai” đòi hỏi những người soạn thảo
phải thận trọng. Câu ”tất cả đều sai” rất thích hợp với các môn cần tính toán, vì
trước khi trả lời, học viên phải làm lại bài toán để kiểm chứng. Trong các
trường hợp này, câu lựa chọn có thể hoặc là đúng hoặc là sai.

 Loại đối chiếu cặp đôi (matching).
Loại đối chiếu cặp đôi (matching) thực ra cũng là một dạng đặc biệt của hình thức
trắc nghiệm với nhiều lựa chọn nói trên đây. Người làm bài phải chọn, trong cùng một
tập hợp các lựa chọn, câu nào, hay từ nào phù hợp nhất với mỗi câu trắc nghiệm đã
cho.
Hai lỗi thông thường trong việc soạn các câu trắc nghiệm loại này cần phải được
chú ý:
 Đặt số lựa chọn ở cột bên phải bằng số câu trắc nghiệm ở cột bên trái. Nếu số
câu ở hai cột bằng nhau thì trong trường hợp học viên biết được hầu hết các
câu hỏi ngoại trừ một hai câu còn lại, học viên có thể đoán đúng được các câu
còn lại ấy. Muốn tránh sai lầm này, người soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm nên

 Định mục tiêu: Đặt lại vấn đề mục tiêu của trắc nghiệm trước khi soạn đề tài trắc
nghiệm luận đề rất quan trọng. Các mục tiêu của loại trắc nghiệm luận đề như sau:
Khả năng ghi nhớ số dữ kiện đã học; Khả năng suy luận; Khả năng sáng tạo, trình
bày, tổ chức tư tưởng; Khả năng so sánh, diễn đạt các tài liệu; Các mục tiêu còn tuỳ
thuộc theo trình độ học viên, người soạn đề thi trắc nghiệm cần biết mỗi chương
trình đào tạo có những mục tiêu nào là chính yếu và mục tiêu nào kém quan trọng
hơn.
 Định nội dung: Thường thường các vấn đề đòi hỏi học viên trả lời quá rộng rãi,
điều này gây khó khăn cho học viên khi làm bài và đồng thời gây khó khăn cho
người chấm bài. Vì vậy, trước khi soạn đề thi, người soạn đề thi trắc nghiệm nên xác
định nội dung mình sẽ đặt ra cho học viên. Để có thể hợp lý và chắc chắn, người
soạn cần phải ấn định nội dung mà đề thi phải bao quát.
Đối với trắc nghiệm chủ quan, nội dung liên quan đến sự quyết định loại trắc
nghiệm sử dụng. Nếu như người soạn đề thi trắc nghiệm chỉ muốn hỏi khả năng ghi
nhớ dữ kiện, thì nên dùng loại trắc nghiệm câu trả lời ngắn (short answer types) hay
loại điền khuyết (completion types) - câu hỏi có chỗ trống để học viên trả lời hay điền
vào - để thay thế loại câu hỏi luận đề (essay types) đòi hỏi học viên phải nhớ cả phần
bố cục (dàn bài).

 Trắc nghiệm luận đề (Essay test).
Là loại trắc nghiệm có hình thức chủ quan nhất. Với loại này học viên trả lời bằng
cách hành văn, tổ chức tư tưởng, suy luận… để chứng minh khả năng mình. Đó chính
là khả năng của học viên. Nếu khéo hoạch định, loại trắc nghiệm luận đề sẽ là cách đo
lường thể hiện được sự thông minh của học viên. Trắc nghiệm luận đề rất thích hợp
cho việc xác định xem học viên có biết xắp đặt sự hiểu biết, trình bày lý lẽ và hiểu biết
của học viên.
Những ưu và nhược điểm của phương pháp trắc nghiệm luận đề.

Ưu điểm:
 Học viên phải sắp đặt tư tưởng và lo liệu mọi câu trả lời.

 Đòi hỏi quá đáng thì giờ học viên. Vấn đề sắp đặt nội dung và diễn đạt tư
tưởng quả là phí thời giờ. Một khi để ý đến diễn tả và tố chức tư tưởng thì
không đủ thời giờ bao quát đề tài.
Tùy theo mục tiêu loại trắc nghiệm luận đề có 2 hình thức:
- Loại câu hỏi không hạn chế hay loại luận đề chính thức : loại này nhấn mạnh
đến khía cạnh và phạm vi sự hiểu biết và tự do diễn tả, suy luận, phê bình của
chính học viên. Loại này có nhược điểm là khó đo lường được sự chắc chắn.
- Loại câu hỏi hạn chế hay câu hỏi ngắn: loại này đặc biệt để ý đến tin tức, tài
liệu được tổ chức một cách đàng hoàng. Cũng có thể nhắm vào chiều sâu sự
hiểu biết và sự hợp lý. Học viên không trả lời dài dòng mà phải trả lời thẳng vào
câu hỏi. người chấm đề thi trắc nghiệm dễ dàng đánh giá phần trả lời của học
viên.

Kỹ thuật soạn thảo đề thi trắc nghiệm luận đề.
Khi thảo đề tài trắc nghiệm luận đề, người soạn đề thi trắc nghiệm chủ quan dạng
này nên để ý đến các điểm sau đây:

1. Bài trắc nghiệm phải liên quan đến phạm vi bài học. Người soạn đề thi phải
soạn một dàn bài đầy đủ chỉ rõ những điểm chính và mục tiêu của mỗi điểm
chính đó. Dàn bài phải kết hợp được với chương trình học.

2. Bài trắc nghiệm phải xác đáng và có ý nghĩa, nghĩa là phải phát hiện được mục
tiêu. Dàn bài bao giờ cũng quan trọng hơn nội dung giảng dạy, vì nội dung chỉ
là phương tiện để đạt đến mục tiêu.
Nhóm sinh viên thực hiện:
01. Ngô Chí Công
02. Trần Trung Hiếu

MSSV: 06520053
MSSV: 065200

thang điểm, liệt kê những điểm đặc biệt mà học viên phải biết và ghi điểm cho
mỗi mục. Có thể ghi thêm số ý chính, và số điểm của mỗi ý.

2. Giữ kín tên học viên. Người chấm bài thi có thể dùng mật mã thay thế tên trên
bài làm và rọc phách.

3. Đọc tất cả các bài qua một lượt, xếp làm 3 nhóm (khá, trung bình, kém), có thể
xếp làm 5 nhóm (xuất sắc, trên trung bình, trung bình, dưới trung bình, kém).
Rồi bắt đầu chấm từng bài trong một nhóm. Người chấm bài thi cũng có thể
linh động cho một bài lên nhóm trên hay nhóm dưới.

4. Phải đồng nhất trong việc chấm. Phải chấm mọi bài trắc nghiệm theo cùng một
phương pháp, cùng cách định điểm hay cách xếp vào một nhóm. Người chấm
bài thi cũng không nên để thời gian chấm những nhóm bài cách nhau quá xa.
Nếu hai, ba ngày sau mới trở lại chấm tập bài đang chấm dở dang thì nên xem
một số nhiều bài đã chấm rồi để cho có liên tục.

5. Cho điểm về một câu hỏi của tất cả học viên rồi mới chuyển sang chấm một
câu hỏi khác.

6. Dùng những câu giải đáp của học viên làm kiểu mẫu. Khi trả bài, sửa lỗi học
viên, người chấm bài thi nên chọn những bài hay câu hỏi có điểm số cao nhất
như là những kiểu mẫu để đọc cho học viên khác biết.
Nhóm sinh viên thực hiện:
01. Ngô Chí Công
02. Trần Trung Hiếu

MSSV: 06520053
MSSV: 065200



Kỹ thuật soạn thảo.
 Lựa chọn và xác định câu hỏi thế nào để cho học viên trả lời bằng một tiếng
hay một câu ngắn.
 Lựa chọn và đặt câu loại trả lời ngắn làm sao để cho chỉ có một hay một số rất
ít câu trả lời.
 Loại trắc nghiệm điền khuyết

(Completion tests)

Là một dạng của loại trắc nghiệm câu trả lời ngắn. Loại này đòi hỏi học viên phải
nhớ những sự kiện đã học để điền vào chỗ trống thích hợp. Học viên trả lời bằng
cách viết chữ, ngày tháng hay vẽ thêm.
Loại trắc nghiệm này có thể khảo sát về nhiều vấn đề trong nhiều môn học khác
nhau. Cũng vì thế, loại này có khả năng phân biệt hơn kém của học viên. Các yếu
tố đoán mò do sự may rủi rất ít trong loại câu hỏi này. Thông thường loại này chỉ
đo lường ký ức sự kiện và phải thật khéo léo mới có thể đo lường khả năng áp
dụng kiến thức của học viên.

Hình thức.
Nhóm sinh viên thực hiện:
01. Ngô Chí Công
02. Trần Trung Hiếu

MSSV: 06520053
MSSV: 065200


ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ DẠY VÀ HỌC BẰNG TRẮC NGHIỆM
KHÁCH QUAN. XÂY DỰNG THÍ ĐIỂM MỘT HỆ THỐNG KHẢO THÍ TRỰC TUYẾN TRÊN MẠNG.

biến, nhưng qua một thời gian sử dụng, nhiều nhà soạn thảo trắc nghiệm cũng vẫn còn
ưa chuộng loại trắc nghiệm chủ quan. Đây là bằng chứng cho thấy tính khả dụng của
trắc nghiệm chủ quan. Sự cải tiến và soạn thảo công phu, các loại trắc nghiệm chủ
quan cũng là dụng cụ đo lường hữu ích trong giáo dục.

Sự khác biệt và tương đồng giữa trắc nghiệm khách quan và chủ
quan.
Điểm khác biệt.
1. Một câu hỏi thuộc loại trắc nghiệm chủ quan đòi hỏi học viên phải tự mình soạn

thảo câu trả lời và diễn tả nó bằng ngôn ngữ của chính mình. Mặt khác, một
câu hỏi trắc nghiệm buộc học viên phải lựa chọn câu trả lời đúng nhất trong
một số câu cho sẵn.

Nhóm sinh viên thực hiện:
01. Ngô Chí Công
02. Trần Trung Hiếu

MSSV: 06520053
MSSV: 065200


ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ DẠY VÀ HỌC BẰNG TRẮC NGHIỆM
KHÁCH QUAN. XÂY DỰNG THÍ ĐIỂM MỘT HỆ THỐNG KHẢO THÍ TRỰC TUYẾN TRÊN MẠNG.

2. Một bài trắc nghiệm chủ quan gồm số câu hỏi tương đối ít có tính cách tổng
quát, đòi hỏi học viên phải triển khai câu trả lời bằng lời lẽ dài dòng, trong khi
một bài trắc nghiệm thường gồm nhiều câu hỏi có tính cách chuyên biệt chỉ đòi
hỏi những câu trả lời ngắn gọn.



9. Sự phân bố điểm số của một bài trắc nghiệm luận đề có thể được kiểm soát
một phần lớn do người chấm (ấn định điểm tối đa và tối thiểu). Ngược lại, với
bài trắc nghiệm khách quan thì phân bố điểm số học viên hầu như hoàn toàn
được quyết định do bài trắc nghiệm.

Điểm tương đồng.
1. Trắc nghiệm khách quan hay trắc nghiệm chủ quan đều có thể đo lường hầu
hết mọi thành qủa học tập quan trọng mà một bài khảo sát bằng lối viết có thể
khảo sát được.

2. Dù là trắc nghiệm khách quan hay trắc nghiệm chủ quan, tất cả đều có thể
được sử dụng để khuyến khích học viên học tập nhằm đạt đến mục tiêu: hiểu
biết các nguyên lý, tổ chức và phối hợp các ý tưởng, ứng dụng kiến thức trong
việc giải quyết các vấn đề.
Nhóm sinh viên thực hiện:
01. Ngô Chí Công
02. Trần Trung Hiếu

MSSV: 06520053
MSSV: 065200


ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ DẠY VÀ HỌC BẰNG TRẮC NGHIỆM
KHÁCH QUAN. XÂY DỰNG THÍ ĐIỂM MỘT HỆ THỐNG KHẢO THÍ TRỰC TUYẾN TRÊN MẠNG.

3. Cả hai loại, trắc nghiệm chủ quan và trắc nghiệm khách quan, đều đòi hỏi sự
vận dụng ít nhiều phán đoán chủ quan.

4. Giá trị của cả hai loại, trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm luận đề, tuỳ

Sau khi đã chấm điểm bài trắc nghiệm, người ra đề có thể áp dụng phương pháp
đơn giản dưới đây để phân tích câu trắc nghiệm. Công việc phân tích này được thực
hiện theo 5 công đoạn:

1. Xếp đặt các bản trả lời đã được chấm theo điểm số từ cao đến thấp.
2. Phân chia các bảng trả lời theo hai nhóm: Nhóm cao gồm có xấp xỉ 27% của
toàn nhóm có điểm số cao nhất, nhóm thấp gồm có số bài tương đương
27% có điểm số cao nhất.

Nhóm sinh viên thực hiện:
01. Ngô Chí Công
02. Trần Trung Hiếu

MSSV: 06520053
MSSV: 065200


ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ DẠY VÀ HỌC BẰNG TRẮC NGHIỆM
KHÁCH QUAN. XÂY DỰNG THÍ ĐIỂM MỘT HỆ THỐNG KHẢO THÍ TRỰC TUYẾN TRÊN MẠNG.

3. Ghi số lần trả lời của học viên trong mỗi nhóm, cao và thấp cho mỗi lựa chọn
của mỗi câu trắc nghiệm.

4. Cộng tần số câu trả lời đúng (có đánh dấu *) của nhóm cao và nhóm thấp, chia
tổng số này với tổng số bài của cả hai nhóm gộp lại nhân với 100 thì sẽ có chỉ
số khó của câu hỏi này.

5. Lấy tần số người làm đúng trong nhóm cao trừ cho số người làm đúng trong
nhóm thấp, rồi chia hiệu số này với hiệu số tối đa của nó. Thương số này là chỉ
số phân cách của câu trắc nghiệm.

0.20 đến 0.29

Tạm được, có thể cần phải hoàn chỉnh

Dưới 0.19

Kém, cần loại bỏ hay sửa chữa lại cho tốt hơn.

Trong khi lựa chọn các câu trắc nghiệm căn cứ vào chỉ số phân cách, cần phải nhớ
một điều là chỉ số phân cách D càng cao thì càng tốt. Với hai bài trắc nghiệm tương tự
như nhau, bài trắc nghiệm nào có chỉ số trung bình cao nhất thì bài trắc nghiệm ấy sẽ
là bài tốt nhất, nghĩa là đáng tin cậy nhất.

Phương pháp tính chỉ số phân cách với máy tính.
a.

Hệ số tương quan câu hỏi tổng điểm.

Tương quan câu hỏi tổng điểm được giải thích y hệt như chỉ số phân cách D:
Nhóm sinh viên thực hiện:
01. Ngô Chí Công
02. Trần Trung Hiếu

MSSV: 06520053
MSSV: 065200


Trích đoạn iv Cách tổ chức thi và chấm thi. Chuẩn bị học viên. SƠ ĐỜ PHÂN TÍCH MƠ HÌNH USECASE:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status